Công tác phiên dịch đối với người phạm tội là người khuyết tật nghe, nói - Khó khăn, vướng mắc và giải pháp
Bài viết phân tích những bất cập, vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác phiên dịch cho người phạm tội là người khuyết tật nghe, nói (người câm, điếc) trong tố tụng hình sự. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của người khuyết tật, đồng thời nâng cao hiệu quả, tính khách quan của hoạt động tư pháp.
Đặt vấn đề
Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền tự bào chữa, quyền được bảo vệ của người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc Hiến định cốt lõi của nền tư pháp Việt Nam. Đối với người phạm tội là người khuyết tật nghe, nói (thường gọi là người câm, điếc), rào cản về mặt sinh học và giao tiếp khiến họ trở thành đối tượng đặc biệt yếu thế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Để hiểu đúng bản chất hành vi, xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án, sự tham gia của người phiên dịch là điều kiện bắt buộc mang tính pháp lý. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tố tụng hiện nay cho thấy, công tác phiên dịch cho đối tượng này đang gặp nhiều hạn chế, vướng mắc. Việc nhận diện rõ các vướng mắc này để tìm ra giải pháp căn cơ là yêu cầu cấp thiết nhằm vừa đảm bảo không xảy ra oan sai, xử lý đúng người, đúng tội, vừa bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật.
1. Khung pháp lý hiện hành về người khuyết tật nghe, nói trong tố tụng hình sự
Quy định của pháp luật chuyên ngành: Theo khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010, người khuyết tật được định nghĩa là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập. Điểm b khoản 1 Điều 3 của Luật này xác định cụ thể “Khuyết tật nghe, nói” là một trong các dạng tật chính thống.
Quy định của pháp luật tố tụng: Nhằm cụ thể hóa tinh thần bảo vệ người yếu thế, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã quy định người phiên dịch, người dịch thuật là người tham gia tố tụng (khoản 1 Điều 70). Đặc biệt, Điều 263 BLTTHS năm 2015 quy định bắt buộc phải có người phiên dịch tại phiên tòa hình sự trong trường hợp bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng là người câm, người điếc.
Có thể thấy, pháp luật đã tạo hành lang pháp lý ban đầu để bảo vệ quyền được giao tiếp, quyền được hiểu và được giải thích của người khuyết tật nghe, nói. Tuy nhiên, giữa quy định mang tính nguyên tắc và thực tiễn thi hành vẫn còn một khoảng cách khá lớn.
2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn
Thứ nhất, sự thiếu đồng bộ trong nhận thức và sử dụng ngôn ngữ ký hiệu (NNKH)
Mặc dù Việt Nam có khoảng 2,5 triệu người khuyết tật nghe, nói1, nhưng tỷ lệ họ được tiếp cận giáo dục đặc biệt và học NNKH chuẩn hóa lại vô cùng thấp. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2022 có khoảng 2.345 học sinh khiếm thính được tiếp cận giáo dục tiểu học bằng ngôn ngữ ký hiệu thông qua dự án “Nâng cao chất lượng giáo dục học sinh khiếm thính cấp tiểu học thông qua ngôn ngữ ký hiệu”. Tuy nhiên, so với tổng số khoảng 120.000 học sinh khiếm thính trên cả nước, con số này vẫn còn thấp2. Hệ quả là, phần lớn người khuyết tật nghe, nói trong cộng đồng (đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) chỉ sử dụng “ký hiệu gia đình” - loại ngôn ngữ tự quy ước theo bản năng với người thân. Khi họ phạm tội, ngay cả các phiên dịch viên NNKH chuyên nghiệp cũng rất khó khăn, thậm chí bất lực trong việc giải mã các ký hiệu mang tính cục bộ này, dẫn đến nguy cơ hiểu sai lệch bản chất lời khai.
Thứ hai, thiếu nguồn nhân lực phiên dịch chuyên trách
Thực tiễn cho thấy, số lượng phiên dịch viên NNKH được đào tạo bài bản và có chứng chỉ chuyên môn trên toàn quốc cực kỳ khan hiếm, tính đến năm 2022, theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thúc đẩy Văn hóa Điếc, số lượng phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu đã tăng lên khoảng 30 người trên toàn quốc3. Con số này so với số lượng người câm điếc hiện nay là quá ít và không đảm bảo, dẫn đến cơ quan tiến hành tố tụng muốn liên hệ mời người dịch rất khó khăn, ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động tố tụng, bên cạnh đó chi phí dành cho một người phiên dịch trong suốt quá trình tố tụng sẽ rất cao nếu như địa phương không có sẵn người phiên dịch, đây cũng là một bài toán nan giải.
Thứ ba, vướng mắc khi sử dụng người thân thích làm người phiên dịch
Trước thực trạng không thể tìm được phiên dịch viên chuyên nghiệp, nhiều cơ quan tố tụng phải linh hoạt sử dụng người thân thích của người phạm tội (bố, mẹ, anh, chị, em...) để làm cầu nối giao tiếp. Tuy nhiên, điều này xung đột trực tiếp với nguyên tắc khách quan trong tố tụng: Về mặt pháp lý, người thân thích có thể thuộc trường hợp phải thay đổi người phiên dịch theo quy định tại Điều 71 BLTTHS năm 2015 để bảo đảm tính vô tư, khách quan. Về mặt thực tiễn, người thân thích thường dịch theo cảm tính, có xu hướng giảm nhẹ hành vi cho người phạm tội, hoặc do thiếu hiểu biết pháp luật nên không truyền đạt được đầy đủ, chính xác các thuật ngữ pháp lý mà cơ quan tố tụng yêu cầu. Điều này gây khó khăn đến tính xác thực của chứng cứ là lời khai.
Thứ tư, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất và công nghệ hỗ trợ tư pháp
Hiện nay, các phòng lấy lời khai, phòng hỏi cung hay phòng xét xử đều chưa được trang bị các công cụ công nghệ hỗ trợ cho người khuyết tật nghe, nói (như máy trợ thính công suất lớn, màn hình hiển thị văn bản tức thời, hoặc phần mềm hỗ trợ dịch thuật). Cơ quan tố tụng hoàn toàn phụ thuộc vào phương thức thủ công, dẫn đến tính chủ động trong hoạt động tố tụng bị hạn chế.
3. Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác phiên dịch
Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng.
Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về việc trưng cầu người phiên dịch cho người khuyết tật nghe, nói. Kiến nghị: Cần có cơ chế pháp lý đặc cách cho phép sử dụng người thân thích làm “người hỗ trợ giao tiếp” trong trường hợp bất khả kháng (không tìm được phiên dịch chuyên nghiệp), nhưng phải đi kèm với điều kiện ghi âm, ghi hình có âm thanh toàn bộ quá trình lấy lời khai để kiểm tra, giám sát tính khách quan sau này.
Thứ hai, xây dựng “Mạng lưới phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu tố tụng” quốc gia.
Bộ Tư pháp cần chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Hội Người khuyết tật Việt Nam xây dựng một Danh bạ điện tử quốc gia về phiên dịch viên NNKH. Mỗi tỉnh/thành phố cần quy hoạch và quản lý ít nhất từ 3 đến 5 chuyên gia có khả năng phiên dịch tư pháp. Đề xuất đưa nội dung đào tạo NNKH cơ bản vào chương trình bồi dưỡng của Học viện Tư pháp, Học viện Tòa án, Học viện Cảnh sát nhằm giúp các Trợ giúp viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán có thể chủ động giao tiếp cơ bản trong trường hợp khẩn cấp.
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) vào tố tụng.
Trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Tòa án, cần đầu tư nghiên cứu hoặc ứng dụng các phần mềm chuyên dụng có khả năng nhận diện ngôn ngữ ký hiệu và chuyển đổi thành văn bản/giọng nói (và ngược lại). Đồng thời, đối với các vụ án có người khuyết tật nghe, nói tham gia ở các địa phương thiếu nhân lực, nên triệt để áp dụng hình thức xét xử trực tuyến để đầu cầu tại địa phương có thể kết nối dễ dàng với phiên dịch viên chuyên nghiệp ở đầu cầu thành phố lớn, tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian.
Thứ tư, nâng cao an sinh xã hội và phổ cập NNKH tại địa phương.
Các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương cần chủ động rà soát, thống kê chính xác số lượng người khuyết tật nghe, nói trên địa bàn. Phối hợp với các tổ chức thiện nguyện mở các lớp học ngắn hạn về NNKH chuẩn hóa cho cộng đồng người yếu thế, giúp họ nâng cao nhận thức và năng lực hòa nhập, từ đó giảm thiểu nguy cơ vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết.
1 Tuổi trẻ online, 2,5 triệu người khuyết tật nghe, nói: Không can thiệp ngay đầu đời, trẻ sẽ nghèo ngôn ngữ, https://tuoitre.vn/2-5-trieu-nguoi-khuyet-tat-nghe-noi-khong-can-thiep-ngay-dau-doi-tre-se-ngheo-ngon-ngu-20260420084504232.htm, truy cập ngày 04/6/2026.
2 Báo Dân trí, Hơn 2.000 học sinh khiếm thính được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, https://dansinh.dantri.com.vn/nhan-luc/hon-2000-hoc-sinh-khiem-thinh-duoc-hoc-bang-ngon-ngu-ky-hieu-20190927155542301.htm, truy cập ngày 04/6/2026.
3 Báo Thanh niên, Phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu: nghề hiếm người theo, https://thanhnien.vn/phien-dich-ngon-ngu-ky-hieu-nghe-hiem-nguoi-theo-1851491304.htm, truy cập ngày 09/6/2026.
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên xét xử vụ án "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - Nguồn: https://baothainguyen.vn.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Khó khăn khi xác định mức lãi suất chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
-
Bàn về tội “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”
-
Bàn về hôn nhân đồng giới: từ quan hệ nhân thân đến tài sản
-
Giải quyết yêu cầu thanh toán lãi chậm thi hành án không được tuyên trong bản án gốc: Thụ lý hay trả lại đơn khởi kiện?
-
Về bảo lãnh trong Bộ luật Dân sự năm 2015
Bình luận