Hệ thống Tòa án của Canada

Canada là một quốc gia có diện tích lớn thứ hai trên thế giới (sau Liên bang Nga), dân số ước tính hơn 41 triệu người, gồm 10 bang và 03 vùng lãnh thổ. Canada nằm trong Khối Thịnh vượng chung, theo chế độ quân chủ lập hiến, người đứng đầu Nhà nước là vua Anh, được đại diện bởi một vị Toàn quyền người Canada. Do đã từng là thuộc địa của Pháp và của Anh nên ngôn ngữ chính thức ở quốc gia này là tiếng Pháp và tiếng Anh, hệ thống pháp luật theo truyền thống thông luật của Anh (riêng bang Quebec thì tư pháp theo truyền thống luật dân sự của Pháp, công pháp theo truyền thống thông luật của Anh). Bài viết này tập trung phân tích, luận bàn sơ lược về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án Canada.

1. Cơ cấu tổ chức hệ thống Tòa án: Tòa án liên bang và Tòa án bang

Hệ thống Tòa án liên bang bao gồm Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm liên bang, Tòa sơ thẩm liên bang, Tòa án thuế và Tòa án quân sự.

Tòa án tối cao Canada: gồm một Chánh án và tám Thẩm phán, do liên bang bổ nhiệm; theo quy định của Đạo luật Tòa án tối cao phải có ít nhất ba Thẩm phán từ bang Quebec. Tòa án tối cao Canada là Tòa án có thẩm quyền cao nhất Canada, là cấp xét xử cuối cùng trong mọi lĩnh vực pháp luật, bao gồm luật hiến pháp, hành chính, hình sự và dân sự.

Tòa án phúc thẩm liên bang: xét xử các kháng cáo từ Tòa án sơ thẩm liên bang, Tòa án thuế, và giám đốc thẩm các quyết định của các cơ quan tài phán hành chính liên bang.

Tòa án sơ thẩm liên bang: xét xử các tranh chấp giữa các bang và giữa bang với liên bang, các vụ việc liên quan đến các công ty thuộc sở hữu nhà nước hoặc các bộ thuộc chính phủ Canada; các vụ việc về sở hữu trí truệ và bằng sáng chế, các vụ việc thuộc Đạo luật cạnh tranh, pháp luật hàng hải. Phúc thẩm các quyết định hành chính của cơ quan tài phán hành chính liên bang.

Tòa án thuế: xét xử các khiếu nại về các hoạt động định giá thực hiện theo quy định của Luật Thuế thu nhập và Luật Kế hoạch trợ cấp Canada.

Hệ thống Tòa án quân sự:

Tòa án quân sự (cấp sơ thẩm): xét xử các quân nhân dự bị, quân đội và quân chủng hải quân, lực lượng phòng vệ và cả những người không thuộc lực lượng quân sự theo quy định của Bộ luật kỷ luật quân đội. Tòa án xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường tùy thuộc vào các yếu tố liên quan đến cấp bậc của bị cáo, tính chất của hành vi phạm tội và mức hình phạt. Thí dụ: theo thủ tục rút gọn có ba hình thức xét xử, một trong số đó là do sĩ quan chỉ huy thực hiện việc xét xử đối với bị cáo là học viên sĩ quan và các hạ sỹ quan có cấp bậc thấp hơn chuẩn úy với mức hình phạt 30 ngày giam giữ hoặc 90 ngày giam giữ; ở thủ tục thông thường có bốn hình thức xét xử, một trong số đó là hội đồng xét xử gồm 05 sỹ quan với chủ tọa là người có cấp bậc thấp nhất từ đại tá trở lên xét xử bị cáo ở bất kỳ cấp bậc nào với bất kỳ hình phạt nào (kể cả tử hình) trừ các hình phạt nhẹ…

Tòa án quân sự phúc thẩm: xét xử các kháng cáo từ các Tòa án quân sự. Tòa án quân sự phúc thẩm không phải là một Tòa án thường trực, Thẩm phán của Tòa án này được bổ nhiệm từ các Thẩm phán của các Tòa án liên bang hay Tòa án cấp cao bang. Như vậy, Thẩm phán ở cấp này không phải là quân nhân.

Hệ thống Tòa án bang bao gồm các Tòa án được thành lập theo pháp luật của bang với các Thẩm phán do liên bang bổ nhiệm và các Tòa án được thành lập theo pháp luật của bang nhưng các Thẩm phán do bang bổ nhiệm.

Các Tòa án bang được thành lập theo pháp luật của bang với các Thẩm phán do liên bang bổ nhiệm:

Tòa án phúc thẩm bang: Mỗi bang và vùng lãnh thổ đều có Tòa án phúc thẩm (Tòa án phúc thẩm bang Alberta còn là Tòa phúc thẩm cho hai vùng lãnh thổ, Tòa án phúc thẩm bang British Columbia còn là Tòa phúc thẩm cho một vùng lãnh thổ). Tòa án phúc thẩm là Tòa án cao cấp nhất tại mỗi bang. Tòa án này phúc thẩm các quyết định của Tòa án cấp cao bang và của Tòa án bang. Tòa án này cũng xem xét các vấn đề về hiến pháp, pháp luật trong các vụ án liên quan đến các cá nhân, các chính quyền hoặc cơ quan nhà nước. Tòa án thường xét xử bằng hội đồng gồm ba Thẩm phán, đối với những vụ án quan trọng về giải thích pháp luật thì Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán. Quyết định của Tòa án phúc thẩm bang thường là quyết định cuối cùng, chỉ một số ít trường hợp được kháng cáo lên Tòa án tối cao Canada.

Tòa án cấp cao bang: Mỗi bang và vùng lãnh thổ đều có một Tòa án cấp cao bang. Tên gọi của các tòa án này là không giống nhau, như có bang gọi là Tòa án tối cao,có bang gọi là Tòa án cấp cao, bang khác lại gọi là Tòa án của nữ hoàng. Các tòa án này xét xử các các vụ án hình sự nghiêm trọng nhất như giết người, cướp tài sản; về dân sự giải quyết tất cả các vụ việc dân sự có giá ngạch cao hơn các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án bang; giải quyết các vụ việc về ly hôn, ly thân và giám hộ; về hành chính giải quyết các yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ các quyết định của các Ban, Ủy ban… của bang. Các Tòa án này cũng phúc thẩm một số loại vụ việc mà Tòa án bang, vùng lãnh thổ xét xử sơ thẩm.

Tòa án bang với các Thẩm phán do bang bổ nhiệm

Mỗi bang và vùng lãnh thổ (trừ vùng lãnh thổ Nunavut) đều có một Tòa án bang/vùng lãnh thổ. Tên gọi và tổ chức của các Tòa án này ở mỗi bang là không giống nhau; tuy nhiên vai trò của chúng là như nhau. Các Tòa án này có thẩm quyền giải quyết phần lớn các vụ án về hình sự; các vụ việc về vi pham luật giao thông; các vụ việc có giá ngạch thấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp cao bang,các vụ việc về gia đình (trừ ly hôn hoặc phân chia tài sản) như các vấn đề trợ cấp và nuôi dưỡng, các vấn đề liên quan đến trẻ em như nhận nuôi con nuôi hoặc giám hộ.

Các bang/vùng lãnh thổ cũng thành lập một số Tòa chuyên trách hoặc phân tòa chuyên trách trong các Tòa án bang/vùng lãnh thổ, như:

- Tòa án người chưa thành niên (hoặc phân Tòa người chưa thành niên thuộc Tòa án bang) giải quyết những vụ án liên quan đến Luật Bảo vệ trẻ em (như các trẻ em bị bỏ bê) và những vụ án trẻ em (từ 12 đến 17 tuổi) phạm tội theo quy định của Luật Người chưa thành niên phạm tội.

- Tòa án gia đình (hoặc phân Tòa gia đình thuộc Tòa án bang) giải quyết các vấn đề về trợ cấp và nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật bang; một số vi phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự (ví dụ: bạo hành với vợ, chồng hoặc con trẻ); các vấn đề liên quan đến trẻ em như nhận nuôi con nuôi hoặc giám hộ.

- Tòa án điều trị ma túy giải quyết những vấn đề như đưa ra những biện pháp giám sát tư pháp và điều trị cai nghiện cho các đối tượng nghiện ma túy.

- Tòa án sức khỏe tâm thần giải quyết những vụ án mà người phạm tội có vấn đề tâm thần (bao gồm cả những người không có năng lực hành vi) nhằm xem xét nên đưa những người này vào chương trình giám sát hay đưa ra xét xử.

- Tòa án giải quyết các khiếu kiện nhỏ, giải quyết các  yêu cầu đòi nợ và bồi thường thiệt hại với giá ngạch thấp, mức giá ngạch ở mỗi bang quy định khác nhau (như có bang quy định không quá 1.000 đô la Canada, có bang quy định 4.000 đô la, có bang quy định 10.000 đô la…).

Tòa án sơ thẩm Nunavut

Như đã nói ở trên, vùng Nunavut không có Tòa án bang như các bang và vùng lãnh thổ khác. Bởi lẽ, lãnh thổ này có cộng đồng cư dân nhỏ sống rải rác trên một diện tích gần 2 triệu km2, vì vậy một mô hình tòa án mới được thiết lập với thẩm quyền sơ thẩm các loại vụ việc. Toàn bộ nhân sự cần thiết cho Tòa này gồm một Thẩm phán, một Thư ký Tòa án, một cán bộ ghi biên bản phiên tòa, một Công tố viên và ít nhất một luật sư bào chữa.

Đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán

Ở Canada để trở thành luật sư, một người phải tốt nghiệp một đại học (bất kể ngành gì), sau đó phải thi vào trường đại học luật học 03 năm, sau khi tốt nghiệp sẽ có một năm tập sự mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Các luật sư phải có ít nhất 10 năm (thường là 20 năm) kinh nghiệm hành nghề mới có thể nộp hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán, tức là họ ở độ tuổi từ 45 đến 55 mới được bổ nhiệm Thẩm phán. Ở Canada không có đào tạo “nguồn” bổ nhiệm Thẩm phán, sau khi được bổ nhiệm, các Thẩm phán phải học một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trong hai tuần và trong quá trình làm Thẩm phán sẽ cần tham gia nhiều khóa bồi dưỡng nhiệp vụ ngắn từ một đến sáu ngày, theo quy định mỗi Thẩm phán phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ khoảng mười ngày mỗi năm. Thẩm phán do Chính phủ liên bang (toàn quyền ký quyết định) bổ nhiệm về hưu ở tuổi 75, Thẩm phán do chính quyền bang (thủ hiến bang ký quyết định) bổ nhiệm về hưu ở tuổi 70.  

2. Quy trình cơ bản giải quyết các vụ án của các Tòa án

2.1. Việc giải quyết các vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm

Trong tất cả các vụ việc sẽ có một phiên họp trước phiên tòa: Thẩm phán, luật sư của các đương sự, Công tố viên (trong các vụ án hình sự) cùng thảo luận xác định vấn đề gì cần giải quyết, thời gian giải quyết… từ đó quyết định có đưa vụ án ra xét xử hay không.

Về hình sự: khoảng 80% đến 90% được giải quyết không cần xét xử mà được giải quyết theo thủ tục thương lượng nhận tội (có đạo luật riêng về thủ tục thương lượng nhận tội). Tại phiên nhận tội, Thẩm phán nghe luật sư của bị cáo trình bày bản nhận tội của bị cáo, các chứng cứ của vụ án. Công tố viên đề xuất mức án trong phạm vi quy định của pháp luật. Thẩm phán sẽ chấp nhận hoặc không chấp nhận đề xuất của Công tố viên,nếu chấp nhận sẽ ra bản án quyết định hình phạt đối với bị cáo. Trên thực tế, Thẩm phán thường chấp nhận đề xuất của Công tố viên.

Về dân sự: giải quyết vụ án dân sự thường có ba phiên họp như sau: (i) sau khi tiếp nhận đơn kiện, luật sư của hai bên sẽ trao đổi các chứng cứ với nhau, không quy định thời gian cho việc trao đổi này, sau khi đã tiếp nhận toàn bộ chứng cứ của hai bên đương sự, luật sư hai bên sẽ nộp tài liệu của vụ án cho thẩm phán. Sáu tuần sau đó, phiên họp sẽ được tiến hành giữa Thẩm phán và luật sư của hai bên xem xét các vấn đề cần giải quyết của vụ án. Nếu thống nhất, vụ án sẽ kết thúc ở bước này, Thẩm phán sẽ ra bản án. (ii) nếu hai bên đương sự không thống nhất được việc giải quyết vụ án,luật sư của hai bên sẽ chuẩn bị chứng cứ và lý lẽ để giải quyết những vấn đề còn chưa thống nhất nộp cho Thẩm phán; năm tuần sau phiên họp sẽ được tổ chức. Nếu hai bên đương sự thống nhất với nhau,vụ án sẽ kết thúc ở đây, Thẩm phán sẽ ra bản án. (iii) nếu ở phiên thứ hai, hai bên đương sự cũng không thống nhất được với nhau, một ngày sau phiên tòa sẽ được mở để xét xử. Trên thực tế 98% vụ án được giải quyết ở phiên họp thứ nhất và thứ hai.

Khi vụ án hình sự và dân sự được đưa ra xét xử, phần lớn thường kết thúc ở phiên tòa sơ thẩm, rất ít vụ kháng cáo phúc thẩm. Để đạt được điều này, các Thẩm phán sơ thẩm và các quyết định của họ phải có chất lượng cao, làm cho mọi công dân có lòng tin vào sự đúng đắn của các phán quyết sơ thẩm. Có được kết quả này là do Canada rất chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán, bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán và có chế độ lương thích hợp.

2.2. Việc giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm

Thời hạn kháng cáo là 30 ngày kể từ khi có bản án sơ thẩm, Tòa án có thể chấp nhận kháng cáo quá hạn trong trường hợp bên kháng cáo giải thích được lý do không nộp đơn kháng cáo đúng hạn hoặc có căn cứ cho thấy vụ án đáng được xét xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xét xử vụ án theo hồ sơ từ Tòa án sơ thẩm. Hồ sơ này bao gồm: bản ghi lời khai, các chứng cứ, văn bản nộp tại phiên tòa sơ thẩm. Vì tất cả các chứng cứ đều phải được thu thập từ Tòa án sơ thẩm, cho nên ở cấp phúc thẩm không có nhân chứng nữa, chứng cứ mới hiếm khi được xem xét trừ trường hợp có thể làm thay đổi quyết định về vụ án. Nguyên tắc chung là ở cấp phúc thẩm hạn chế việc tiếp tục xem xét lại bản án, vì lẽ tính minh bạch của hoạt động xét xử sẽ bị ảnh hưởng nếu Tòa án cấp phúc thẩm thay đổi lập luận của Tòa án cấp sơ thẩm một cách dễ dàng. Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm thường là quyết định cuối cùng, việc tiếp tục kháng cáo bản án của Tòa án cấp phúc thẩm là rất hạn chế. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm thấy bản án của mình rõ ràng là sai thì sẽ tự mình xét xử phúc thẩm lại.   

2.3. Việc giải quyết vụ án ở Tòa án tối cao

Việc tiếp tục kháng cáo bản án phúc thẩm lên Tòa án tối cao là rất hạn chế, phần lớn các vụ án chỉ được Tòa án tối cao xét xử khi vụ án đó có ý nghĩa quan trọng về việc giải thích và áp dụng pháp luật hoặc có ý nghĩa quan trọng đối với lợi ích chung của xã hội (Đạo luật Tòa án tối cao Canada quy định những vụ án nào sẽ được Tòa án tối cao giải quyết). Đơn kháng cáo phải được Tòa án tối cao chấp nhận: Phòng pháp luật (thuộc Văn phòng Tòa án tối cao) gồm 18 luật sư sẽ xem xét đơn kháng cáo và đưa ra kiến nghị để đưa lên Hội đồng 03 Thẩm phán quyết định có chấp nhận yêu cầu kháng cáo hay không. Có một số vụ án hình sự đương nhiên được kháng cáo mà không phải qua thủ tục này nếu hội đồng xét xử phúc thẩm có Thẩm phán bất đồng ý kiến trong việc giải quyết vụ án hoặc nếu bản án sơ thẩm tuyên bị cáo vô tội nhưng bị cấp phúc thẩm bãi bỏ. Tính trung bình, từ khi nộp đơn đến khi được chấp nhận là 4.1 tháng, 8.7 tháng sau đưa vụ án ra xét xử, 06 tháng sau khi kết thúc phiên tòa sẽ ra bản án vì cần thời gian để viết bản án bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp, phải lập luận, giải thích pháp luật một cách rõ ràng.

Phiên tòa tại Tòa án tối cao quy định giới hạn thời gian tranh tụng: hai bên trong vụ án có 60 phút tranh tụng, nếu có bên thứ ba mà Thẩm phán thấy họ có ý kiến khác với các bên thì họ được trình bày trong 05 đến 10 phút. Hội đồng xét xử có thể ra phán quyết bằng miệng ngay tại phiên xử. Người dân được tự do vào “xem” xét xử.

Bản án của Tòa án tối cao đương nhiên là án lệ. Tại bang thì bản án của Tòa án tối cao và của Tòa án phúc thẩm bang là án lệ của bang, nếu Tòa án phúc thẩm của bang khác xét xử vụ án tương tự thì Tòa án ở bang sẽ nghiên cứu, tham khảo nhưng không bắt buộc phải tuân theo. Tòa phúc thẩm liên bang xét xử những vụ việc khác với bang nên bản án của Tòa này không phải là án lệ cho các Tòa án các bang.  

NGÔ CƯỜNG

Tổng hợp từ:

- Hệ thống tòa án Canada,bản sửa đổi tháng 9-2009 (Dự án Judge).

- Hệ thống Tòa án liên bang, Tòa án bang (Canada) và phân chia trách nhiệm (Dự án Judge).

- Các tài liệu trong chuyến công tác tại Canada từ 28/11 -10/12 năm 2012.

Tòa án Tối cao Canada, Ottawa, Ontario.