Một số bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về khiếu nại

Bài viết phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về khiếu nại như: Chủ thể và đối tượng của khiếu nại; thẩm quyền giải quyết khiếu nại; thời hiệu và thời hạn giải quyết khiếu nại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung nghiên cứu nhằm bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và nâng cao hiệu quả của hoạt động tố tụng dân sự.

1. Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về khiếu nại

1.1. Chủ thể và đối tượng của khiếu nại trong tố tụng dân sự

Khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức, theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp, khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình[1]. Trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quyền khiếu nại  được quy định tại Điều 25 BLTTDS và được cụ thể hóa tại Chương II. Theo đó cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại các quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng nếu cho rằng chúng trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, chỉ những chủ thể có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng trực tiếp mới có quyền khiếu nại. Đây cũng là điểm cơ bản để phân biệt với tố cáo trong tố tụng dân sự, bởi lẽ tố cáo không đòi hỏi chủ thể phải chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, mà bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng đều có quyền tố cáo để bảo đảm tính khách quan, minh bạch của hoạt động tư pháp. Nói cách khác, trong khi khiếu nại mang tính chất “tự vệ” nhằm “bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại”[2], thì tố cáo mang tính phản ánh, giám sát xã hội đối với các hành vi sai phạm trong tố tụng dân sự.

Đối tượng của khiếu nại là các quyết định hoặc hành vi trái pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, việc khiếu nại không áp dụng đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và một số quyết định tố tụng khác, việc giải quyết được thực hiện theo các chương riêng của BLTTDS[3], bởi đây là những văn bản thể hiện ý chí xét xử cuối cùng của Tòa án trong từng giai đoạn tố tụng, có cơ chế kiểm soát đặc thù thông qua quyền kháng cáo, kháng nghị. Quy định này nhằm phân định rạch ròi giữa khiếu nại và kháng cáo, kháng nghị, tránh tình trạng lạm dụng quyền khiếu nại để làm kéo dài quá trình tố tụng. Đồng thời, nó cũng bảo đảm nguyên tắc thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, thống nhất, vừa bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, vừa duy trì tính ổn định và hiệu lực pháp lý của bản án, quyết định của Tòa án.

 Để bảo đảm quyền khiếu nại, Điều 500 BLTTDS năm 2015 quy định người khiếu nại có quyền thực hiện khiếu nại ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án, được nhận văn bản trả lời, được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, cũng như được bồi thường nếu có thiệt hại. Đồng thời, họ có nghĩa vụ khiếu nại đúng thẩm quyền, trung thực trong trình bày, không lạm dụng quyền để cản trở hoạt động tố tụng, chấp hành quyết định tố tụng trong thời gian khiếu nại và tuân thủ quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Bên cạnh quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu nại, BLTTDS năm 2015 cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại nhằm bảo đảm sự cân bằng và khách quan trong quá trình giải quyết khiếu nại. Theo Điều 501 BLTTDS năm 2015, người bị khiếu nại có quyền được biết căn cứ khiếu nại, được đưa ra chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại và được nhận quyết định giải quyết khiếu nại. Ngược lại, họ có nghĩa vụ giải trình về quyết định, hành vi của mình, cung cấp thông tin tài liệu liên quan khi được yêu cầu, chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, đồng thời phải bồi thường, khắc phục hậu quả nếu hành vi tố tụng của mình trái pháp luật và gây ra thiệt hại. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc quyền - nghĩa vụ luôn gắn bó hữu cơ, qua đó tạo lập cơ chế kiểm soát lẫn nhau, góp phần nâng cao tính minh bạch và công bằng trong hoạt động tố tụng dân sự.

1.2. Thời hiệu khiếu nại và thời hạn giải quyết khiếu nại

Theo quy định tại Điều 502 BLTTDS năm 2015 thì thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ khi người khiếu nại biết hoặc nhận được quyết định, hành vi tố tụng bị cho là trái pháp luật, nếu có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì khoảng thời gian này không được tính vào thời hiệu. Qui định về thời hiệu khiếu nại vừa bảo đảm tính chặt chẽ, ràng buộc về mặt thời gian để tránh tình trạng khiếu nại kéo dài, vừa thể hiện sự nhân văn khi ghi nhận các trường hợp ngoại lệ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự. Việc quy định thời hiệu cụ thể còn góp phần nâng cao trách nhiệm của các bên trong việc theo dõi, giám sát hoạt động tố tụng và kịp thời thực hiện quyền khiếu nại của mình, qua đó tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền sớm xem xét, khắc phục vi phạm để không làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án dân sự.

Song song với thời hiệu khiếu nại, BLTTDS năm 2015 còn đặt ra thời hạn giải quyết khiếu nại nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự được bảo vệ kịp thời và tránh sự kéo dài không cần thiết trong quá trình tố tụng. Theo quy định tại  Điều 505 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, trường hợp cần thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại. Kết quả giải quyết khiếu nại phải được thể hiện bằng quyết định bằng văn bản, bao gồm các thông tin về đương sự, nội dung khiếu nại, kết quả xác minh, căn cứ pháp luật và nội dung quyết định. Quyết định này phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và các cơ quan liên quan; nếu do chánh án ban hành thì phải gửi thêm cho viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu, họ có thể tiếp tục khiếu nại trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, kèm theo bản sao quyết định giải quyết lần đầu và tài liệu liên quan. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải thể hiện rõ kết quả giải quyết lần đầu, nội dung khiếu nại và kết luận cuối cùng; quyết định này có hiệu lực thi hành ngay. Ngoài ra, riêng đối với khiếu nại liên quan đến hoạt động giám định, việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp và các văn bản pháp luật có liên quan.[4]

1.3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Trong các quan hệ pháp luật, quyền của chủ thể này đồng thời là nghĩa vụ của chủ thể kia.[5] Vì vậy, để bảo đảm quyền giải quyết khiếu nại, BLTTDS quy định rõ thẩm quyền của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại. Cụ thể như sau:[6]

Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự có thẩm quyền giải quyết có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân. Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.

Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết sẽ giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm. Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp khiếu nại liên quan đến chính chánh án hoặc viện trưởng thì thẩm quyền thuộc về cấp trên trực tiếp.

Qua phân tích điều luật trên cho thấy, pháp luật tố tụng dân sự quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại phụ thuộc vào người bị khiếu nại, tức là cấp nào ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi tố tụng thì cấp trên trực tiếp của họ sẽ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

2. Hạn chế trong quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự về khiếu nại

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, quy định của BLTTDS năm 2015 về khiếu nại còn tồn tại một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, Điều 501 BLTTDS 2015 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại, nhưng không đề cập đến việc tạm đình chỉ hành vi bị khiếu nại trong quá trình giải quyết khiếu nại. Trong thực tiễn, nếu hành vi bị khiếu nại tiếp tục diễn ra trong khi chờ giải quyết, có thể gây hậu quả pháp lý nghiêm trọng hoặc làm mất ý nghĩa của việc khiếu nại. Việc thiếu cơ chế tạm đình chỉ có thể khiến quyền khiếu nại trở nên hình thức, không đủ sức bảo vệ quyền lợi của người khiếu nại. Bên cạnh đó, quy định hiện hành cũng thiếu chế tài cụ thể đối với trường hợp người bị khiếu nại không hợp tác, không cung cấp thông tin hoặc cố tình né tránh, gây khó khăn cho quá trình xác minh và làm rõ nội dung khiếu nại.

Thứ hai, Điều 504 BLTTDS năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về người đứng đầu cơ quan nơi người bị khiếu nại công tác. Quy định này có thể xuất hiện việc thiếu sự nghiêm minh, minh bạch khi người giải quyết khiếu nại có thể đồng thời là người quản lý cấp trên. Theo nguyên tắc công bằng và minh bạch trong tố tụng, cơ chế giải quyết khiếu nại nên độc lập. Việc nghiên cứu cho thấy, tại Pháp, Hội đồng Tư pháp Tối cao[7] – Conseil supérieur de la magistrature (CSM) sẽ tiếp nhận đơn khiếu nại từ chính các đương sự trực tiếp liên quan đến vụ việc. Theo đó, pháp luật Pháp cho phép các chủ thể tham gia vào các thủ tục tố tụng tại Tòa án (đương sự) có quyền khiếu nại nếu Thẩm phán hoặc công tố viên có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ lên cơ quan CSM.[8] Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng chưa thiết lập một cơ chế kiểm soát nội bộ rõ ràng nhằm bảo đảm tính độc lập và minh bạch trong quá trình giải quyết khiếu nại, từ đó dễ dẫn đến sự tùy tiện hoặc thiếu trách nhiệm trong việc xử lý khiếu nại, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến hành vi vi phạm của cán bộ có chức vụ cao trong hệ thống tư pháp.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về khiếu nại

Thứ nhất, để khắc phục những bất cập nêu trên và bảo đảm hiệu quả thực thi quyền khiếu nại trong tố tụng dân sự, tác giả kiến nghị hoàn thiện Điều 501 BLTTDS năm 2015 theo các hướng sau:

Một là, bổ sung quy định về trách nhiệm tạm đình chỉ hoặc ngừng thực hiện quyết định hoặc hành vi tố tụng bị khiếu nại trong trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục. Quy định này nhằm ngăn chặn, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Hai là, cần bổ sung cơ chế chế tài cụ thể đối với người bị khiếu nại trong trường hợp không chấp hành yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu hoặc không giải trình theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Các chế tài này có thể bao gồm xử phạt hành chính, xử lý trách nhiệm kỷ luật hoặc xem xét tư cách tiến hành tố tụng của người vi phạm, nhằm tăng tính răn đe và bảo đảm tính nghiêm minh trong hoạt động tố tụng.

Thứ hai, để khắc phục hạn chế tại Điều 504 BLTTDS năm 2015, tác giả cho rằng pháp luật Việt Nam nên nghiên cứu bổ sung một cơ chế giám sát và giải quyết khiếu nại mang tính độc lập, khách quan, thay vì chỉ giao cho thủ trưởng cơ quan nơi người bị khiếu nại công tác. Có thể xem xét mô hình của Pháp, theo đó có thể thành lập một thiết chế tương tự như Hội đồng Tư pháp quốc gia[9], có chức năng tiếp nhận và xử lý khiếu nại đối với hành vi tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng. Thiết chế này cần được bảo đảm về tính độc lập, có sự tham gia của nhiều thành phần như đại diện ngành tòa án, viện kiểm sát, luật sư, nhà khoa học pháp lý nhằm tăng cường tính khách quan, minh bạch và củng cố niềm tin của công chúng đối với hoạt động tư pháp. Tác giả đề xuất lý do này vì pháp luật Pháp và Việt Nam Pháp và Việt Nam có sự tương đồng ở chỗ đều ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tính độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử và đề cao cơ chế giám sát nhằm phòng ngừa sự lạm quyền, vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp. Bên cạnh đó, cả hai hệ thống pháp luật đều coi quyền khiếu nại là một trong những công cụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm sự minh bạch của nền tư pháp.

NGUYỄN TRỌNG BẢY (Tạp chí Tòa án nhân dân)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Thị Thanh Hương, Quyền khiếu nại, tố cáo theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.            

2. Thiều Thị Thanh Huyền (2022), Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong hoạt động kiểm sát tư pháp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.    

3. Đinh Văn Minh (2010), Phân định giữa khiếu nại và tố cáo và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng Luật Tố cáo và giải quyết tố cáo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13 (174).      

4. Quốc Hội, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.     

5. Xem: https://www.conseil-superieur-magistrature.fr/claims-litigants?utm_source=chatgpt.com, truy cập 26/8/2025.


[1] Thiều Thị Thanh Huyền (2022), Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong hoạt động kiểm sát tư pháp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.10.

[2] Đinh Văn Minh (2010), Phân định giữa khiếu nại và tố cáo và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng Luật Tố cáo và giải quyết tố cáo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13 (174), tr.40.

[3] Điều 499 BLTTDS năm 2015.

[4] Điều 507 và 508  BLTTDS năm 2015.

[5] Đào Thị Thanh Hương, Quyền khiếu nại, tố cáo theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.50.

[6] Điều 504 BLTTDS năm 2015.

[7] Cơ quan giám sát và quản lý Thẩm phán.

[8] Xem: https://www.conseil-superieur-magistrature.fr/claims-litigants?utm_source=chatgpt.com, truy cập 26/8/2025.

[9] Có thể xem xét theo hướng giao cho Thanh tra Tòa án nhân dân nhưng cần phải sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của đơn vị này theo hướng bảo đảm tính độc lập hơn cơ cầu tổ chức hiện nay.

Phiên tòa xét xử vụ án dân sự của huyện Đak Pơ, Gia Lai - Ảnh: Nguyễn Thành Duy.