Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

- Hỏi: Vợ chồng con trai tôi ly hôn, có một con chung. Bản án giao cháu cho mẹ trực tiếp nuôi nhưng ngay sau đó mẹ cháu bỏ đi khỏi địa phương, chúng tôi và bố cháu nuôi cháu suốt 2 năm qua. Mới đây, mẹ cháu trở về và đề nghị thi hành án về việc trực tiếp nuôi con. Cơ quan thi hành án thuyết phục chúng tôi giao cháu cho mẹ; chúng tôi đồng ý với điều kiện mẹ cháu và ông bà ngoại đến nhà chúng tôi để giao nhận cháu đàng hoàng… Mẹ cháu không đến nhà tôi mà nhờ cơ quan thi hành án tổ chức cưỡng chế, khi bà đón cháu ở cổng trường mẫu giáo thì họ ập tới ép hai bà cháu về Ủy ban xã và giao cháu cho mẹ khiến cháu rất sợ hãi, bà thì uất ức. Xin cho hỏi về quy định của pháp luật về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và khi nào con tự quyết định ở với bố hoặc mẹ? (Nguyễn Đình Công, xã Hòa Sơn, Đô Lương, Nghệ An)

22 tháng 10 năm 2018 11:36 GMT+7    0 Bình luận

Giải đáp

Theo quy định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn thì việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. 

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. 

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. 

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. 

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. 

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. 

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. 

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Theo các quy định nêu trên, trường hợp cháu bé đã được thi hành án giao cho mẹ trực tiếp nuôi, bố cháu bé – người không trực tiếp nuôi dưỡng vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cụ thể: Bố cháu bé có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu bé được sống chung với mẹ của cháu bé – người trực tiếp nuôi; có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, bố cháu bé không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu bé; nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu bé thì mẹ cháu bé có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bố cháu bé.

Về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. 

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: 

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; 

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. 

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. 

Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự. 

Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con: 

a) Người thân thích; 

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; 

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; 

d) Hội liên hiệp phụ nữ.”

Bố cháu bé có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con tại Tòa án và việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 84 nêu trên, đó là: (1) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; (2) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Đồng thời, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

Về vấn đề con tự quyết định ở với bố hoặc mẹ, theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu trên thì sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Điều 20, Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 20. Người thành niên 

Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. 

Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

Điều 21. Người chưa thành niên

Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. 

Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. 

Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”

Như vậy, với các quy định nêu trên thì việc con tự quyết định ở với bố hoặc mẹ khi thành niên – đủ 18 tuổi trở lên trong trường hợp phát triển bình thường (đầy đủ năng lực hành vi dân sự).

NGUYỄN KIM CHI

 

 

 

 

 

 

Bình luận (0)