Căn cứ xác định vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự

HOÀNG ĐÌNH DUYÊN (Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra hình sự khu vực - Tổng cục Hậu cần – BQP) - Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự (TAQS) trước đây được quy định tại Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/04/2005 . Hiện nay thẩm quyền của TAQS quy định tại Điều 272 BLTTHS năm 2015.

29 tháng 03 năm 2020 08:00 GMT+7    0 Bình luận

Căn cứ thẩm quyền xét xử của TAQS được quy định tại Điều 272, cụ thể như sau:

“Điều 272. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:

a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;

b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.

Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật”.

1.Những căn cứ xác định vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự

Quá trình giải quyết vụ án hình sự, căn cứ quy định tại Điều 272 BLTTHS năm 2015 và vận dụng Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/04/2005 và các quy định pháp luật có liên quan, xác định vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS trên những vấn đề sau:

1.1. Đối với các vụ án hình sự liên quan đến bí mật quân sự

Bí mật quân sự là: Những thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung quan trọng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh quốc gia … không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ sẽ gây nguy hại cho việc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Có ba mức độ bí mật quân sự: Tuyệt mật, tối mật, mật. Nội dung cụ thể được quy định trong pháp lệnh của nhà nước, điều lệnh, điều lệ, quy định … của lực lượng vũ trang và các ngành có liên quan

Vụ án hình sự liên quan đến bí mật quân sự không phụ thuộc đối tượng phạm tội, địa điểm, hoàn cảnh đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

1.2. Đối với vụ án hình sự mà bị cáo là nhóm đối tượng thuộc quân đội quản lý

Những vụ án hình sự mà bị cáo là: Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng; Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; Dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; Công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

– Đối với những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội hoặc những người đang phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào Quân đội thì Tòa án quân sự xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; những tội phạm khác do Tòa án nhân dân xét xử.

– Đối với trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:

Trường hợp có thể tách vụ án thì TAQS xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS; TAND xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND; Trường hợp không thể tách vụ án thì TAQSxét xử toàn bộ vụ án.

Tách vụ án hình sự để xét xử theo thẩm quyền chỉ được tiến hành nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

1.3. Những vụ án hình sự gây thiệt hại cho những người do quân đội quản lý

Trong vụ án hình sự, quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Đây là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đủ định lượng để cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định trong bộ luật hình sự mà không phụ thuộc là thiệt hại chính hay thiệt hại phụ.

Đối với trường hợp vụ án hình sự có nhiều bị hại bị thiệt sức khỏe, trong đó thiệt hại về sức khỏe của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu nếu tách riêng ra thì không cấu thành một tội phạm cụ thể thì vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

Bởi vì thiệt hại của họ là hậu quả của hành vi nguy hiểm cấu thành tội phạm cụ thể; là căn cứ, cơ sở để đánh giá tính chất hành vi của bị cáo, là cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo. Nếu tách riêng thiệt hại của nhóm người trên để xác định thẩm quyền xét xử TAQS là ảnh hưởng đến quá trình xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.

1.4. Những vụ án hình sự gây thiệt hại về tài sản do quân đội quản lý; xâm phạm đến danh dự, uy tín của quân đội

– Gây thiệt hại về tài sản do quân đội quản lý: Tài sản của Quân đội được xác định là tài sản công được sử dụng trong chiến đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và nghiệp vụ quốc phòng, an ninh của lực lượng vũ trang nhân dân do Quân đội nhân dân quản lý.

Tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự.

Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội.

– Xâm phạm đến danh dự, uy tín của quân đội được xác định là trường hợp bị cáo có hành vi lợi dụng hình ảnh người quân nhân; hình ảnh quân đội nhân dân để thực hiện tội phạm. Hành vi này đã xâm phạm đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân, vì vậy tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

1.5. Những vụ án hình sự xảy ra trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ và trong địa bàn thiết quân luật.

Đây là thẩm quyền theo lãnh thổ, theo phạm vi được xác định cụ thể là trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ mà không phụ thuộc đối tượng phạm tội hay đối tượng bị thiệt hại.

Doanh trại quân đội, khu vực do quân đội quản lý, bảo vệ được xác định như: Trường bắn, sân bay, Bệnh viện quân y, trường học, trụ sở đóng quân ….

Đối với địa bàn thiết quân luật: Quy định này đã được quy định tại Luật Quốc phòng năm 2005 (nay đã thay thế bằng Luật Quốc phòng năm 2018 vẫn tiếp tục quy định) nhưng không được quy định tại Pháp lệnh Tổ chức TAQS năm 2002; BLTTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, với quy định này đã đồng bộ giữa BLTTHS với các luật chuyên ngành, đảm bảo hệ thống pháp luật đồng bộ.

2.Một số vướng mắc thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS

Quá trình thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS phát sinh một số vướng mắc trên các vấn đề sau:

2.1.Đối với quy định đối tượng “Công chức”

Theo quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS thì đối tượng“Công chức” thực hiện tội phạm hoặc bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

Theo Quy định của Luật Cán bộ, Công chức năm 2008, Điều 4 quy định: Công chức là “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng”.

Các Luật có liên quan đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng và các văn bản dưới luật được ban hành sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đã không ghi nhận đối tượng là “Công chức” thuộc quyền quản lý của Bộ Quốc phòng, như: Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015; Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015…. không đề cập đến đối tượng là “Công chức”

Theo Nghị định 164/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tố chức của Bộ Quốc phòng, Điều 2 quy định Bộ Quốc phòng có thẩm quyền “đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, tuyển chọn, tuyển dụng, điều động, bố trí sử dụng, phong, thăng cấp bậc quân hàm, khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng”. Với quy định này Bộ Quốc phòng không quản lý đối tượng là “Công chức”.

Như vậy đối tượng “Công chức” thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS là đối tượng không thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.

Bên cạnh đó, theo Điều 392, BLHS năm 2015 “Công chức” không phải là đối tượng chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm trách nhiệm, nghĩa vụ của quân nhân.

2.2.Xác định khu vực do quân đội, quản lý, bảo vệ

Khu vực do quân đội, quản lý, bảo vệ có nhiều khu vực khác nhau, theo nghĩa hẹp là khu vực có giới hạn được xác định chuyên dùng cho mục đích quân sự hoặc khu vực có các công trình được xây dựng, các địa hình và địa vật tự nhiên được cải tạo và xác định nhằm phục vụ mục đích phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên khu vực do quân đội, quản lý, bảo vệ có thể xác định là các khu vực cấm; khu vực bảo vệ; vành đai an toàn; khu vực tiếp nhận lực lượng động viên; khu vực bố trí lực lượng, phương tiện hậu cần; khu vực tác chiến dùng để bố trí lực lượng, phương tiện vật chất và huy động nhân lực đảm bảo cho tác chiến, khu vực hoạt động của đồn biên phòng; khu vực phòng thủ trong diễn tập phòng thủ địa phương, khu vực phòng thủ dân sự.

Bên cạnh đó nhiều khu vực là đất quốc phòng do quân đội quản lý chưa sử dụng đến được cho thuê, liên doanh, liên kết.

Như vậy, khu vực do quân đội quản lý, bảo vệ đang có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất, tội phạm xảy ra trong khu vực này đang có các quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong và ngoài Quân đội.

2.3. Đối với pháp nhân thương mại thuộc Bộ Quốc phòng quản lý phạm tội

Hiện nay Bộ Quốc phòng quản lý 88 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng và 21 Công ty cổ phần có vốn nhà nước, do Bộ Quốc phòng quản lý. Theo quy định của BLHS thì pháp nhân thương mại sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thảo mãn các điều kiện: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại Chương XXIX, BLTTHS năm 2015 về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với pháp nhân phạm tội chỉ quy định theo lãnh thổ mà không quy định thẩm quyền xét xử theo sự việc và theo đối tượng.

Điều 444 quy định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ đối với pháp nhân được phân định theo nơi pháp nhân thực hiện tội phạm hoặc nơi pháp nhân có trụ sở chính hoặc có chi nhánh, nghĩa là những tội phạm do pháp nhân thực hiện xảy ra ở nơi nào, địa phận hành chính lãnh thổ thuộc Tòa án nào thì Tòa án đó có thẩm quyền xét xử, “Điều 444 BLTTHS năm 2015 không quy định riêng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc và theo đối tượng đối với pháp nhân” [1]. Như vậy không quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Tuy nhiên pháp nhân thương mại thuộc Bộ Quốc phòng quản lý liên quan đến con người (quân nhân tại ngũ); tài sản; trụ sở của các pháp nhân thương mại, trong một số trường hợp cũng là doanh trại quân đội, địa bàn do quân đội bảo vệ.

Vì vậy, pháp nhân thương mại thuộc Bộ Quốc phòng quản lý phạm tội có thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự hay không là vấn đề gây lúng túng trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự.

2.4. Xác định thiệt hại về uy tín, danh dự của Quân đội

Có trường hợp lợi dụng hình ảnh của Quân đội nhân dân, người quân nhân để thực hiện tội phạm.

Ví dụ trường hợp sau: Trưa 16/8/2019 tại khu vực phường Yên Hòa (Cầu Giấy, Hà Nội), Cục Bảo vệ an ninh Quân đội, Tổng cục Chính trị QĐNDVN phối hợp với cơ quan chức năng phát hiện đối tượng nữ, mặc quân phục sĩ quan, đeo quân hàm Thượng tá, mang biển tên là Nguyễn Trần Vân Anh có nhiều biểu hiện nghi vấn giả danh sĩ quan cao cấp của quân đội.

Qua điều tra ban đầu đối tượng khai là Lê Thị Phương, sinh ngày 8/10/1985, quê quán huyện Yên Định (Thanh Hóa). Phương khai đã mua bộ quân phục và quân hàm, quân hiệu tại thị xã Sơn Tây cách đây hơn 1 năm và đã có gần 10 lần mang mặc quân phục này để đi lừa đảo tại khu vực Hà Nội. Đối tượng cũng thừa nhận việc làm của mình là sai. Tiếp tục mở rộng điều tra, Lê Thị Phương khai, sáng 16/8 trong một nhà hàng trên đường Dương Đình Nghệ (Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội), Phương đã nhận của một người 50 triệu đồng để lo vị trí công tác (2).

Đối với trường hợp này, tội phạm được thực hiện không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, bị cáo chỉ sử dụng quân phục, hình ảnh Quân đội nhân dân làm phương thức, thủ đoạn để thực hiện tội phạm.

Mặc quân phục, mạo danh là sỹ quan Quân đội nhân dân để thực hiện tội phạm có ảnh hưởng đến danh dự, uy tín quân đội hay không? Sử dụng hình ảnh Quân đội nhân dân để thực hiện tội phạm trong hợp nào thì được xác định là xâm phạm uy tín danh dự Quân đội? Trong khi đó BLHS thì không có tội phạm cụ thể nào là gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân dân.

Để đánh giá một hành vi hay một sự kiện gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Quân đội nhân dân trên thực tế còn chưa định lượng được.

2.5. Đối với các vụ án hình sự liên quan đến làm giả, sử dụng con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức, đơn vị Quân đội.

Đối với trường hợp vụ án hình sự về các tội làm giả giấy tờ tài liệu, sử dụng giấy tờ tài liệu của cơ quan, tổ chức. Trong đó các bị cáo có hành vi làm giả giấy khám sức khỏe, hồ sơ bệnh án của các Bệnh viện quân y; Giấy chứng nhận kiểm định trang thiết bị y tế của các đơn vị quân đội; làm giả, sử dụng giấy đăng ký xe quân sự, biển xe ô tô quân sự giả…có thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS hay không?

Trong các vụ án hình sự này không có bị cáo là các quân nhân tại ngũ hay các nhóm đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS; thiệt hại về tài sản thì rất khó để định lượng; thiệt hại về uy tín, danh dự thì đang còn lúng túng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trường hợp này vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự hay không? Trên thực tế có các quan điểm khác nhau.

2.6. Đối với vụ án hình sự liên quan đến đối tượng dân quân tự vệ

Theo quy định những vụ án hình sự liên quan đến dân quân tự vệ phạm tội chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS khi bị cáo phạm tội trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Tại Điều 392, BLHS năm 2015, dân quân tự vệ là đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, đối với trường hợp phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Như vậy phạm vi đối tượng là dân quân tự vệ của BLHS hẹp hơn so với quy định của BLTTHS, vì sao có sự chênh lệch này thì vẫn chưa được làm rõ.

Theo Từ điển Bách khoa quân sự, “phối thuộc” là “Lâm thời giao một bộ phận lực lượng cho người chỉ huy thuộc quyền để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị đó, người chỉ huy đơn vị phối thuộc không được quyền thay đổi cơ cấu tổ chức, cán bộ và không được sử dụng đơn vị phối thuộc ngoài chức năng nhiệm vụ của nó. Thời hạn phối thuộc do cấp trên quyết định”.

Theo quy định của Luật Dân quân tự vệ năm 2019, nhiệm vụ của Dân quân, tự vệ được quy định tại Điều 5 như sau:

1. Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, cơ sở, cơ quan, tổ chức. 

Phối hợp vi các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, hải đảo, vùng biển, vùng trời Việt Nam; tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật

Thực hiện nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật, hội thi, hội thao, diễn tập. 

Tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền. 

Phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác theo quy định của pháp luật

Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dng địa phương, cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách xã hội. 

Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, Luật Dân quân tự vệ không quy định phối thuộc nhưng các nhiệm vụ từ khoản 1 đến khoản 4 được xem là nội hàm của khái niệm “Phối thuộc”.

Theo Luật Dân quân tự vệ, nguyên tắc tổ chức hoạt động của dân quân tự vệ được quy định là: Sự chỉ huy cao nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; sự chỉ huy của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, người chỉ huy đơn vị quân đội.

Để điều động dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của các chỉ huy trong Bộ Quốc phòng. Theo đó dân quân tự vệ phạm tội trong khi thực hiện nhiệm vụ từ khoản 1 đến khoản 4 mới thuộc thẩm quyền; còn trong các trường hợp khác thì không thuộc thẩm quyền.

Bên cạnh đó, khi dân quân tự vệ bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu cũng không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự, quy định này có thể gây khó khăn nhất định trong việc xác định thẩm quyền giải quyết cụ thể đối với vụ án hình sự. Vì trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có thể xảy ra trong doanh trại quân đội hoặc khu vực do quân đội quản lý, bảo vệ; trong địa bàn thiết quân luật.

Vậy, chỉ quy định dân quân tự vệ phạm tội trong thời gian huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự như hiện nay là chưa phù hợp(3).

Nhận thấy căn cứ xác định thẩm quyền xét xử của TAQS đối với Dân quân tự vệ phạm tội có sự chênh nhau giữa BLTTHS và Luật Dân quân tự vệ, tạo nên khó khăn nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với trường hợp này.

Một số vướng mắc quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS theo quy định của BLTTHS năm 2015 cần được cơ quan liên ngành Trung ương hướng dẫn để làm cơ sở thực hiện thống nhất./.

Tòa án Quân sự Quân khu 7 xét xử vụ Giả mạo trong công tác và sản xuất, buôn bán hàng giả tại Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô (Bộ Quốc phòng) và một số công ty, đơn vị khác. Ảnh: Hoàng Yến PLO

 

  1. PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Nghiên cứu một số quy định đặc thù về các giai đoạn tố tụng đối với pháp nhân trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và một số kiến nghị, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 34, Số 4 (2018).
  2. https://soha.vn/bat-giu-nu-thuong-ta-rom-khai-gan-10-lan-mac-quan-phuc-di-lua-dao-o-ha-noi-20190817075402369.htm (truy cập ngày 21/3/2020);
  3. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ve-tham-quyen-xet-xu-cua-toa-an-doi-voi-dan-quan-tu-ve-pham-toi (truy cập ngày 21/3/2020)
  4. Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18 tháng 04 năm 2005;
  5. Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (2004), NXB. QĐND;
  6. Luật Dân quân tự vệ năm 2019.
Bình luận (0)