Cha con, anh em muôn thuở anh hào

Ghi chép của NGUYỄN PHAN KHIÊM - Nhìn hai trụ đại đăng vững chãi và sang trọng sừng sững giữa đất trời, trải qua biết bao dâu bể, bất chợt chúng tôi liên tưởng đến sự nghiệp vĩ đại của Cương Quốc công, một vị tướng “Bình Ngô khai quốc” và vượt qua cả những nguy hiểm thời hậu chiến, đưa Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế, mở ra triều đại Quang Thuận – Hồng Đức thịnh trị bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta thời phong kiến.

23 tháng 01 năm 2020 08:49 GMT+7    0 Bình luận

Cẩm thiên khai sắc

Đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, nổi bật trên nền trời, uy nghiêm, tĩnh lặng. Qua hai trụ hoa biểu, hiện vật còn lại từ năm 1467 và bức bình phong đắp nổi hình con hổ, qua khoảng sân rộng đến cây cầu bắc qua một hồ bán nguyệt nhỏ là đến tam quan.

Tam quan là một công trình kiến trúc rất đẹp, gồm ba cửa. Chính môn cấu trúc theo hình chồng diêm 3 tầng cao 8 mét, rộng 3 mét, dài 4 mét. Tầng trên cao 2 mét, cũng tạo dáng kiểu vòm cuốn. Trên tầng lầu có đặt bàn thờ. Tam quan đề bốn chữ “Cẩm Thiên Khai Sắc” – Trời mở ra vẻ đẹp và mặt trong đề “Phúc sinh môn” – Cổng sinh phúc. Hai bên có Tả môn và hữu môn xây theo kiểu vòm cuốn cao 2,2 mét, rộng 1 mét. Có thể nói tam quan là một công trình hoàn mỹ từ tổng thể đến các phù điêu, họa tiết trang trí.

Hai bên tam quan có hai trụ hoa biểu sừng sững, ở đây gọi là trụ đại đăng cao đến 12 mét, thân cột rỗng để trèo lên thắp đèn. Thay vì đắp nghê hay phượng thì trên đỉnh trụ là năm lồng đèn có lắp kính màu. Lồng đèn ở giữa cao, xung quanh bốn góc là bốn lồng đèn nhỏ, mỗi khi đền có lễ hội, những ngọn đèn từ đây tỏa sáng một vùng, lung linh, huyền ảo.

Thân trụ có đôi câu đối “Chiêm chi tại tiền, uyển nhĩ di thiên khai tân đống vũ / Viễn nhi hữu vọng, y nhiên địa khởi cựu lâu đài ( Nhìn ngay phía trước, bầu trời in tòa điện mới/ Từ xa đã thấy mặt đất hiện lên tòa lâu đài cổ kính). Một mặt trụ chạm lộng hình rồng dọc thân trụ, xung quanh có phù điêu tám nhân vật đều đội mũ cánh chuồn. Vậy là hai trụ có mười sáu nhân vật, phải chăng đây là biểu tượng cho mười sáu người con trai của Cương Quốc công…

Nhìn hai trụ đại đăng vững chãi và sang trọng sừng sững giữa đất trời, trải qua biết bao dâu bể, bất chợt chúng tôi liên tưởng đến sự nghiệp vĩ đại của Cương Quốc công, ông cũng vượt qua biết bao gian nan trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, trở thành một vị khai quốc công thần và vượt qua cả những nguy hiểm thời hậu chiến, có công lao đặc biệt là đưa Hoàng tử Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế, mở ra triều đại Quang Thuận – Hồng Đức thịnh trị bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta thời phong kiến.

Từ cậu bé mồ côi đến công thần khai quốc

Cương Quốc công Nguyễn Xí (1397 – 1465) là con trai thứ hai của ông Nguyễn Hội. Ông có hai con trai là Nguyễn Biện và Nguyễn Xí, sinh sống tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc ( nay là xã Nghi Hợp, Nghi Lộc) bằng nghề nấu muối. Ông thường cùng Nguyễn Biện mang muối đi bán ở nhiều nơi và thân quen với quan Phụ đạo Lê Lợi ở Lam Sơn. Sau một thời gian, Nguyễn Biện ở lại với sống với gia đình Lê Lợi.

Cương Quốc công từ

Theo tộc phả họ Nguyễn, năm 1405 ông Nguyễn Hội trong một đêm nấu muối đã bị một con “hổ tinh” vồ chết rồi đem xác chôn ở Đồng Lầm, xung quanh cắm rào bảo vệ. Con cháu vội mang về an táng ở núi Voi thì hồ tới gầm thét rồi bới lên mang thi hài về chỗ cũ. Con cháu nghĩ rằng điềm thiên định nên giữ nguyên. Hiện nay mộ ông Nguyễn Hội vẫn để nấm đất, chỉ kè đá xung quanh.

Cha mất, ít lâu sau mẹ cũng qua đời, Nguyễn Xí khi đó mới 9 tuổi, lên sống với anh trai. Lê Lợi giao cho cậu bé huấn luyện một đàn chó săn hơn 100 con, ông đã huấn luyện đàn chó đi đứng răm rắp theo hiệu lệnh, Lê Lợi khen là kỳ tài, sau này nhất định sẽ thành tướng giỏi. Quả nhiên, khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Xí khi đó 22 tuổi, cùng anh trai đã xông pha nhiều trận đánh giặc lập công. Nguyễn Biện hy sinh trong một trận đánh, sau được gia phong Thái phó Nghiêm quận công.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, trong mục “Tướng có tiếng và tài giỏi” Phan Huy Chú xếp Nguyễn Xí thứ hai trong 10 vị tướng khai quốc công thần nhà Lê, chỉ sau Lê Lợi và trước Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Ngân, Lê Nhân Thụ, Trịnh Khả, Lê Niệm. Phan Huy Chú nhấn mạnh đóng góp của Nguyễn Xí: “ Ông mới 30 tuổi, từ Nghệ An ra Sơn Tây hợp sức với Lê Triện cùng đánh Thành Sơn hầu Vương Thông nhà Minh ở Tốt Động… Trận đánh Xương Giang, ông đem quân tiếp ứng Lê Sát, bắt được bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc. Do đó người Minh phải giảng hòa, rút quân về nước, thiên hạ đại định”.

Trong trận Tốt Động tháng 8/1426, nghĩa quân chiến đấu không cân sức, 1 chọi 10 với quân của Vương Thông nhưng do dụ được địch vào vùng bùn lầy mai phục, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Xí cùng Lê Triện, sau bốn năm giờ chiến đấu, 6 vạn quân địch đã phải bỏ mạng và bị bắt, sông Ninh Kiều tắc nghẽn xác giặc, Thượng thư Trần Hiệp bị chết trận, Tổng binh Vương Thông bị thương. Đây là chiến thắng lớn nhất của nghĩa quân Lam Sơn kể từ khi khởi nghĩa, mở đầu giai đoạn mới, tiến tới giải phóng Đông Quan.

Trong trận Thanh Đàm (Thanh Trì) tháng 4/1427 ông dẫn 500 quân Thiết đột truy kích Vương Thông, voi sa lầy nên Nguyễn Xí cùng Đinh Lễ bị giặc bắt. Lợi dụng ban đêm mưa gió, ông dùng mẹo lừa bọn canh gác và trốn thoát. Thấy Nguyễn Xí trở về, Lê Lợi mừng rỡ nói: “Sống lại rồi, sống lại rồi”. Đinh Lễ bị giặc sát hại.

Đất nước sạch bóng quân thù, Nguyễn Xí được phong Long hổ Thượng tướng quân, Suy trung Bảo chính công thần, là một trong các vị “Khai quốc nguyên huân” của nhà hậu Lê, được ban quốc tính.

Hậu chiến gian nan

Sau những hân hoan của chiến thắng “nên công oanh liệt ngàn thu”, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, thực hiện nhiều chính sách kinh tế, pháp luật, xã hội tiến bộ, ban thưởng cho công thần… nhưng được 6 năm thì băng hà. Nguyễn Xí cùng mấy cận thần khác nhận di mệnh tôn Hoàng Thái tử Lê Nguyên Long mới 11 tuổi lên ngôi, tức vua Lê Thái Tông, được sự trợ giúp của các công thần, nên xã hội ổn định, đất nước thịnh trị. Trong thời kỳ này, Nguyễn Xí giữ chức Tham tri chính sự kiêm Tri từ tụng. Năm 1442, Thái Tông mất đột ngột trong vụ Lệ Chi Viên, Nguyễn Xí cùng Lê Thụ, Trịnh Khả, Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng thái tử Bang Cơ, khi ấy mới 2 tuổi lên ngôi, tức Lê Nhân Tông. Nguyễn Xí giữ chức Nhập nội Đô đốc.

Tuy nhiên, do vua nhỏ tuổi, Tuyên từ Thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính cất nhắc họ hàng, phe cánh, Nguyễn Xí không đồng tình nên bị trù dập, bị bãi chức trở về quê nhà, 3 năm sau mới trở lại nhậm chức Thiếu bảo trị quân sự và dân sự. Đinh Liệt, em của Đinh Lễ là người có công lao lớn cũng bị bắt giam cùng gia quyến, đến hơn 4 năm sau mới được tha.

Đây là giai đoạn đầy bất trắc ở chốn triều đường, đặc biệt là Nguyễn Trãi phải gánh họa tru di, thiệt mạng tiếp theo các công thần Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Văn Xảo, Lê Sát, Trịnh Khả vì nhiều lý do khác nhau… Một lần nữa, với bản lĩnh của mình Nguyễn Xí đã bảo toàn được tính mệnh.

Sau này, bài Trung hưng ký viết năm Quang Thuận đánh giá giai đoạn này: “Nhân Tông mới hai tuổi đã sớm nối ngôi vua, Thái hậu Nguyễn Thị Anh là gà mái gáy sớm… Vua đàn bà mắt quáng buông rèm ngồi chốn thâm khuê, bọn họ ngoại lòng tham, khoác lác hoành hành khắp cõi, kẻ thân yêu nắm quyền vị, nạn hối lộ công khai… Bán quan, mua kiện, ưa giàu, ghét nghèo. Hiền tài là rường cột triều đình mà sạch không như quét đất. Văn chương là khí vận nhà nước mà im ắng tựa cỏ khô” – Đại Việt sử ký toàn thư

Mùa đông năm 1459, Lê Nghi Dân cùng tay chân là Phan Ban, Phạm Đồn ban đêm vào cung giết Nhân Tông, Thái hậu và các quan Lê Hội, Đỗ Bí, Lê Thụ, Lê Ngang… Nghi Dân lên ngôi đặt niên hiệu là Thiệu Hưng.
Căm phẫn trước hành vị bạo ngược của Nghi Dân, là một trung thần, dù từng bị bãi chức khi Nhân Tông tại vị nhưng chính Nguyễn Xí và Đinh Liệt lại là những người đứng đầu việc trừ nghịch đảng.

Tộc phả họ Nguyễn chép rằng: Nguyễn Xí lúc này giữ chức Thái bảo đã giải binh quyền, đành phải giả mù để thoát khỏi sự theo dõi, kèm cặp chặt chẽ của bọn tay chân Nghi Dân. Chúng cho người vờ hầu hạ trong nhà để theo dõi Thái bảo, chúng có lần chọc ghẹo người vợ ba của ông trước mặt ông nhưng ông vẫn vờ như không thấy. Tàn ác hơn, chúng đã mang con trai thứ 16 là Duy Tân của ông chưa đầy 1 tuổi đặt ngay bậc thềm ông sắp bước tới để xem ông có bị mù thật hay không. Ông buộc lòng phải dẫm vào con trong đau đớn. Thấy ông dẫm chết con, chúng mới yên tâm là ông mù thật và lơ là canh gác.

Ông cùng với các đồng chí và Sư Hồi, con trai cả của mình, âm thầm chuẩn bị kỹ để chờ thời cơ. Lúc đó, ông có tiếng là biết xem cốt tướng, dù mắt mù nhưng sờ nắn gân cốt cũng có thể phán được hậu vận. Hôm đó, tên Phạm Đồn mở tiệc mời ông đến dự. Ông mật báo cho Đinh Liệt, Lê Niệm và Sư Hồi bố trí lực lượng. Quả nhiên, khi rượu đã ngà ngà, Phạm Đồn nhờ ông xem tướng. Ông rờ gân cốt của hắn vờ khen tướng tốt, khi rờ đến ót, ông bất ngờ túm cổ và rút dao giấu trong hài đâm chết Phạm Đồn và hô to. Đúng lúc đó, lực lượng mai phục ập vào bịt kín các cửa thành, lùng bắt và giết hơn 100 đồng đảng của chúng. Diệt xong bọn Đồn Ban, ông triệu tập đình thần vào triều nghị tội Nghi Dân rồi phế truất Nghi Dân xuống là Lệ Đức hầu, buộc thắt cổ chết.

Ông cùng với các cựu thần rước Gia Vương Tư Thành lên ngôi báu, tức vua Lê Thánh Tông, mở ra một thời kỳ thịnh vượng của Đại Việt, kéo dài 37 năm. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết về Lê Thánh Tông trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua sáng lập chế độ, vạn vật khả quan, mở mang đất đai bờ cõi khá rộng. Thực là vị vua anh hùng tài lược, dù Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được”. GS Phan Huy Lê nhận xét: “ Nước Đại Việt thời Lê Thánh Tông là một quốc gia cường thịnh ở Đông Nam Á. Độc lập và thống nhất quốc gia được củng cố về mọi mặt và bảo vệ cương quyết với quyết tâm gìn giữ từng thước núi, từng tất sông”.

Có được nền thịnh trị ấy, Cương Quốc công Nguyễn Xí có công đầu. Vì thế, vua Lê Thánh Tông phong ông lên Nhập nội Thái phó và Bình chương Quân quốc trọng sự (Tể tướng), tước Quỳ Quận công. Ngự chế của Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Xí viết: “ Xướng đại nghĩa để trừ kẻ hung tàn, khanh đã công như công yên được nhà Hán, lấy ngôi thượng công mà ban phong thưởng khanh đáng được vinh dự cắt đất phân phong… Giữ mình có đạo, hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng, nghiêm sắc mặt ở triều đình, lẫm liệt như thanh gươm mới tuốt… Lúc có biến phi thường, chỉ mình khanh lo cứu vãn. Khanh thực là bề tôi trung ái của ta”.

Khi ông tạ thế, vua bỏ chầu ba ngày và truy phong Nguyễn Xí là Thái sư Cương Quốc công. Trước ngày phát dẫn, các quan đại thần đều đến hội tế, sau đó linh cữu được đưa về an táng tại quê nhà. Năm sau 1467, vua cho lập đền thờ Cương Quốc công, sai Trạng nguyên Nguyễn Trực soạn bi ký. Hiện nay trong đền còn lưu được tấm bia này, phục dựng khi tôn tạo đền đầu thế kỷ XX. Các đời vua sau nối nhau ban sắc phong ông là Thượng đẳng phúc thần.

Hậu duệ tuấn kiệt

Qua tam quan và sân đền lát gạch bát đỏ au là đến tòa đại bái. Ông Nguyễn Đình Đình, một hậu duệ của Cương Quốc công dẫn chúng tôi vào chiêm bái. Sau nhà đại bái là khoảng sân trước trung điện. Tòa trung điện là công trình có giá trị nghệ thuật cao nhất, kiến trúc kiểu Khuê Văn Các ở Văn Miếu, Hà Nội, chồng diêm ba tầng, rất uy nghi và độc đáo. Phía trên có ghép dòng chữ Hán “Cương Quốc công từ” bằng sứ rất đẹp. Phía dưới có hương án, giường thờ, tượng Cương Quốc công bằng đồng và cỗ kiệu cổ. Trên lầu của trung điện có bàn thờ Trời, với hàm ý Cương Quốc công đầu đội trời, chân đạp đất, hiên ngang, sừng sững khí phách anh hùng.

Trong cùng là tòa thượng điện, thờ ông Nguyễn Hội và phu nhân; bên trái thờ ông Nguyễn Biện, bên phải thờ Cương Quốc công và phu nhân. Hai bên tả hữu vu có sáu bàn thờ, với các cỗ khám thờ trang nghiêm để thờ những hậu duệ có chức tước của Cương Quốc công.

Tại trung điện có đôi câu đối cổ của vua Lê Thánh Tông ban cho khi xây dựng đền Cương Quốc công năm 1467: “Hà nhạc nhật tinh thiên thu hạo khí/ Phụ tử huynh đệ vạn cổ anh phong” có nghĩa là: Hạo khí của ngài ngàn năm còn mãi với trăng sao, sông núi / Cha con, anh em muôn thuở anh hào.

Ông Nguyễn Đình Hảo, tộc trưởng cho chúng tôi xem tộc phả. Đọc tộc phả mới thấy Cương Quốc công có 16 người con trai và 8 con gái. Các con trai của ông, trừ Duy Tân mất sớm, còn lại đều là những người tài, có công lao to lớn đối với đất nước như con trưởng Nguyễn Sư Hồi, ngoài công lao cùng cha diệt phản nghịch còn có công trấn ngự nhiều vùng biển ở Nghệ An, làm quan đến Thái úy, khi qua đời được phong Thượng đẳng thần, Thành hoàng làng Vạn Lộc; Nguyễn Sương, Tổng quản vệ Nghiêm võ hành Thuận Hóa binh sứ; Nhật Huyền, Đô Tổng binh sứ ty; Bá Kiệt, Tam phụ quốc quản đồng tri; Kế Sài, Quản Tổng binh sứ ty Đô tổng binh sứ, tặng Thái bảo, Thượng trụ quốc… Trong đó 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều, 8 người điều khiển 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu trong cả nước, có người là Phò mã. Các con gái của ông, Ngọc Lệ gả cho Hoàng Thái tử, Ngọc Minh gả cho Tả thị lang Chính Trung hầu.

Hậu duệ của ông theo thống kê trong tộc phả có 59 người được phong tước Công, 179 người được phong tước Hầu, 141 người được phong tước Bá, 7 người được phong tước Tử và 37 người được phong tước Nam. Nhiều người được phong Thượng đẳng thần, dân thờ làm Thành hoàng.

Ngoài 15 con trai thành tổ 15 đại chi sinh sống khắp cả nước, Cương Quốc công còn có ba chi “dưỡng tử” là con cháu người Minh, người Chiêm là hàng binh được ông chăm lo, tạo nơi ăn chốn ở để sinh sống ổn định nơi đất mới.

Điều khiến chúng tôi bất ngờ và xúc động là con cháu của vị võ tướng hiển hách lại có những nhà khoa bảng, nhà văn hóa kiệt xuất. Trong đó có dòng họ Nguyễn khoa bảng nổi tiếng ở làng Canh Hoạch, xã Dân Hòa, Thanh Oai, Hà Nội với hai Trạng nguyên là Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thiến. Đây là hai cậu cháu, nên dân gian gọi là Trạng cậu, Trạng cháu.

Hai vị Trạng nguyên này là hậu duệ của Tiến sĩ Nguyễn Bá Ký, đời thứ 4 chi Hai, đỗ năm 1463 dưới triều vua Lê Thánh Tông. Con ông Nguyễn Bá Ký là Nguyễn Đức Lượng, đỗ Trạng nguyên năm 1514, dưới triều vua Lê Tương Dực. Khi Nguyễn Thiến 6 tuổi được mẹ là bà Nguyễn Thị Hiền gửi cho cậu là Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng nuôi dạy học. Sau này Nguyễn Thiến cũng đỗ Trạng nguyên năm 1532 dưới triều vua Mạc Đăng Doanh.
Làng Canh Hoạch còn có Nguyễn Địch, Thám hoa khoa Tân Sửu (1481) triều Lê Thánh Tông, đời thứ 4 chi Mười.
Và từ Canh Hoạch lại sinh ra họ Nguyễn Tiên Điền, Hà Tĩnh có Hoàng giáp (khoa Tân Hợi 1731) Nguyễn Nghiễm, Tế tửu Quốc tử giám, thân sinh ra Nguyễn Khản, Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640) và đại thi hào Nguyễn Du…
Hiện nay ở đền thờ Cương Quốc Công còn giữ được hệ thống hoành phi câu đối treo kín các cột trong đền, chủ yếu của con cháu 15 chi ở các nơi tiến cúng.

**

Người dân địa phương thì truyền tụng rằng, qua bao binh lửa, hư hại rồi lại phục dựng nguy nga như ngày nay bởi Cương Quốc công rất linh thiêng. Những năm chiến tranh, bom đạn bỏ khắp nơi, Nghi Lộc, Cửa Lò bị bỏ bom rất nhiều nhưng dường như bom né tránh Nghi Hợp, có một quả duy nhất rơi xuống cũng không nổ. Ông Nguyễn Đình Hảo còn cho biết: Khi xưa quân Nhật chiếm đóng vùng này, họ đã định lấy đền là bản doanh nhưng khi vào đến nơi, đọc hoành phi câu đối, viên chỉ huy nói: Đền thiêng, không được xâm phạm. Họ vái lạy rồi kéo quân đi.

Lòng trung quân, ái quốc, vì nước, vì dân đúng là một giá trị thiêng liêng cho đến muôn đời!

Bình luận (0)