Viếng mộ cụ Huỳnh trên núi Ấn

Ghi chép của NGUYỄN PHAN KHIÊM - Tôi đã có may mắn được thăm phòng giam cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Côn Đảo, được viếng mộ cụ Phan Châu Trinh - người đồng chí Duy tân, đồng hương xứ Quảng của cụ Huỳnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, nên có dịp đến Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn là một điểm không thể không đến. Trên núi ấy có mộ cụ Huỳnh.

18 tháng 08 năm 2019 08:08 GMT+7    2 Bình luận

Thiên Ấn niêm hà

Theo Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, “núi Thiên Ấn ở phía nam huyện Bình Sơn, dài 4 dặm, cao hơn 100 trượng, rừng gối sông Trà Khúc, trên đỉnh núi rộng ước chừng vài mẫu, bốn mặt vuông bằng, trông xa như quả ấn, cho nên gọi là núi Thiên Ấn. Trên núi có chùa, có giếng sâu 55 trượng, tương truyền là các sư đào giếng ấy 20 năm mới thành. Triều Nguyễn, năm Tự Đức thứ 3 (1850) vua ban sắc phong liệt vào lệ thờ cúng”.

Dưới chân núi là sông Trà Khúc, con sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi, phát nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn, tỉnh Kon Tum, với đỉnh cao 2.350 m. Với chiều dài chừng 150 km, được họp bởi bốn con sông, sông Trà chảy qua nhiều vùng đồi núi dốc, qua các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi rồi đổ ra biển qua cửa Đại Cổ Lũy.

Trương Thanh Hòa, anh bạn trẻ là Thẩm phán Tòa án huyện Tư Nghĩa đưa tôi lên thăm núi Thiên Ấn. Hòa hào hứng giới thiệu “Cẩm Thành thập nhị cảnh” là mười hai cảnh đẹp của Quảng Ngãi như: Cổ Lũy cô thôn, Thiên Bút phê vân, Long Đầu hý thủy, Liên Trì dục nguyệt… và đứng đầu là Thiên Ấn niêm hà. Người nhìn ra nét đặc sắc của các cảnh đẹp này, định danh vào thi ca chính là Nghi Biểu hầu Nguyễn Cư Trinh (1716-1767), người có công dẹp yên loạn “mọi Đá Vách”, khi ông làm Tuần phủ Quảng Ngãi (1750). Núi Thiên Ấn được nhà thơ Nguyễn Cư Trinh nhận ra nó như quả ấn Trời đóng xuống dòng sông Trà Khúc xanh trong, thành cặp sơn thủy đối đãi, biểu trưng của trời đất nơi đây. “Bao giờ Thiên Ấn hết tranh/ Sông Trà hết nước, anh đành xa em” – núi Ấn, sông Trà đã đi vào tâm hồn người dân Quảng Ngãi tự bao giờ.

Núi đất màu son, đường lên rộng rãi, hình xoáy trôn ốc, hai bên đường cây cối xanh tươi. Lên đến đỉnh núi, một vùng đất bằng phẳng rộng rãi hiện ra, thấp thoáng ngôi cổ tự mang tên Thiên Ấn, nghe nói dựng từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vang vọng tiếng tụng kinh gõ mõ trầm hùng trong làn khói lam chiều, khiến không gian vắng vẻ như thực như mơ.

Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng hướng Nam với ngôi chùa cổ, nằm chếch về phía bên tay phải, cách chùa chừng 100 m. Quanh khu mộ có tường hoa thấp, cây cối xanh tốt, um tùm, phía trước mộ thoáng đãng có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Quảng Ngãi và con sông Trà Khúc lững lờ trôi.

Khu mộ cụ Huỳnh mới được tu bổ. Phía trước là bàn thờ, có đài cao bằng đá hoa cương, khắc chữ vàng “Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng, chí sĩ yêu nước, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt) sinh năm Bính Tý 1876 tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam; Tạ thế ngày 21 tháng 4 năm 1947 tại thị trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”. Phía dưới khắc chân dung cụ Huỳnh mặc quốc phục. Mặt sau của đài, khắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi Huỳnh Thúc Kháng “Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao… Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

Tôi đã đọc ở đâu đó, viết rằng trước đây mộ cụ Huỳnh có đôi câu đối: “Làm nghị sĩ không vinh, tù Côn Lôn không nhục, khí tiết cõi tùng trơ một gốc/ Lãnh bộ trưởng tròn tài, quyền Chủ tịch trọn đức, minh tinh sao Vĩ chiếu ngàn thu”, nhưng nay mộ được trùng tu đã không còn.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Nguyễn Văn Tố (hàng đầu từ phải qua) – Ảnh: TL

Phía sau đài là phần mộ cụ Huỳnh, có mái che. Bình phong hậu bằng đá hoa cương đỏ, khắc dòng chữ “Sĩ phu cùng dân Quảng Ngãi khẳng khái và kiên quyết, phần đông hy sinh vì nước, một mực thẳng tới, không thối lui trước một trở lực nào”. Huỳnh Thúc Kháng (Trích bài viết Chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908).

Cùng đứng bên mộ cụ Huỳnh, đọc những dòng chữ trên đây, Trương Thanh Hòa có đặt câu hỏi, cụ Huỳnh có nhiều câu nói nổi tiếng, nhưng câu này lại được chọn để khắc ở mộ cụ, hẳn có lý do…

Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một nhà khoa bảng, thi Hương đỗ đầu, thi Hội đỗ đầu, đậu Tam giáp Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1904, nhưng không ra làm quan mà ở nhà đọc Tân thư. Cụ là một nhà thơ, một nhà báo, nên để lại nhiều tác phẩm, nhiều câu nói nổi tiếng. Khi ra báo Tiếng dân, lời mở đầu đăng trên số báo đầu tiên cụ viết: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”. Hay trên số báo ra ngày 1/5/1929, cụ nêu rõ: “Tôi là nhà cách mạng công khai, tôi đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam một cách công khai. Vì đất nước Việt Nam có biên cương và lãnh thổ công khai trên bản đồ thế giới, cho nên tôi cũng công khai nói lên tiếng nói của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và tự chủ. Do đó, tôi thách đố mọi trừng phạt và hiểm nguy đến với cá nhân tôi”.

Thật là những lời tâm huyết, khẳng khái và mạnh mẽ biết bao, nhưng hậu thế chọn câu nói trong bài “Chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908”, có lẽ bởi phong trào chống thuế đó là biểu hiện rõ ràng của kết quả mấy năm vận động Duy tân, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh mà các chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp… hết lòng cổ võ.

Trung Kỳ dân biến

Phong trào chống thuế Trung Kỳ (còn gọi là Trung Kỳ dân biến) nổ ra bắt đầu từ huyện Đại Lộc, Quảng Nam vào tháng 3/1908. Quá bức xúc trước tình cảnh sưu cao thuế nặng, người dân đã làm đơn với chữ ký của các hào lý, rồi kéo đến dinh Công sứ ở Hội An để đưa đơn đòi giảm sưu thuế, nhưng không được giải quyết. Do đó dân chúng càng thêm bất bình, nhiều người hưởng ứng, dẫn đến 6 ngàn người vây quanh dinh Công sứ suốt 10 ngày. Thực dân Pháp phải ban hành lệnh giới nghiêm và đàn áp, nhưng phong trào vẫn lan rộng sang huyện khác trong tỉnh Quảng Nam và sang Quảng Ngãi rồi Bình Định, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Thanh Hóa.

Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng Ảnh: Nguyễn Phan Khiêm

Ở Quảng Ngãi, dưới sự lãnh đạo của Hội Duy tân, tính chất của phong trào đã nâng cao hơn, đó là đòi thực hiện dân quyền. Đến ngày 26/3/1908, dòng người biểu tình từ Bình Sơn đổ về dinh Công sứ, được sự trợ giúp của người dân Sơn Tịnh, Tư Nghĩa nên có đến 1500 người tham gia đấu tranh. Hội còn viết đơn gửi Toàn quyền Đông Dương nêu 7 yêu cầu, bên cạnh 4 yêu cầu về giảm thuế, họ còn đòi “Lập một phòng tư vấn để tham khảo ý kiến về tất cả những việc có liên quan đến dân chúng trước khi đưa ra thi hành; Phải thay thế viên Tuần vũ Lê Từ; Tố giác cựu Cần chánh Nguyễn Thân vu oan giá họa cho dân chúng”. Ngày 14/4/1908 quần chúng còn bao vây, đốt nhà Nguyễn Thân, một đại thần cộng tác đắc lực với thực dân Pháp về hưu sống ở Phú Thọ -Tư Nghĩa (nay là xã Nghĩa Phú, Tp Quảng Ngãi)…

Toàn quyền Đông Dương lâm thời khi đó là Bonhoure đã nhận định rằng: “Thực ra họ không chỉ nhằm giảm một vài thứ thuế mà nhằm – tôi xin nhắc lại đây mới là điều nghiêm trọng và đáng lo cho tương lai – tạo ra sự hỗn loạn về tổ chức cai trị trong toàn quốc và chuẩn bị cho sự thức tỉnh của một phong trào dân tộc”.

Nếu không có sự chuẩn bị của phong trào Duy tân thì chắc chắn không có sự tỉnh thức ghê gớm đến như thế từ những người dân bao nhiêu năm đã quen cam chịu. Phong trào Duy tân bắt đầu từ Quảng Nam đã phát triển thực nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và phát triển buôn bán, mở nông hội, thương hội; mở trường học kiểu mới, cả nam nữ đều đi học; bài trừ hủ tục, cắt tóc ngắn, cạo răng trắng, mặc đồ Âu phục và liên tục có diễn thuyết truyền bá tư tưởng tự lực tự cường.

Ở các trường kiểu mới của Duy tân, học sinh được học toán, lịch sử, địa lý, khoa học tự nhiên, tiếng Pháp, thể dục. Ở trường Diên Phong, còn chia làm hai ban, cho trẻ em và người lớn. Trong đó ban người lớn, ngoài những môn chung còn được giảng thêm sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, thuyết Dân quyền… Quảng Nam có khoảng 40, 50 ngôi trường tân học như thế.

Có thể nói cống hiến lớn lao hàng đầu của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp chính là cổ động cho phong trào tân học, thực học, đả phá khoa cử lỗi thời. Các cụ đã làm thay đổi mục đích của học tập, đó là học để hiểu biết, để làm việc, không phải học để ra làm quan nhằm vinh thân phì gia.

Cụ Phan Châu Trinh trong bài báo “Hiện trạng vấn đề” đăng trên Đại Việt Tân Báo năm 1907 kết luận: “ Xin có lời chính cáo với người nước ta rằng: Không bạo động, bạo động tất chết, không trông người ngoài, trông người ngoài tất ngu. Đồng bào ta, người nước ta ai mà ham mến tự do tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào là Chi bằng học”. Đó cũng là quan điểm, là tôn chỉ của Duy tân, dù đánh giá có thể khác nhau nhưng đề cao việc học hiển nhiên là một chân lý.

Chi bằng học

Dù các nhà Duy tân không mong muốn và cũng không chỉ đạo, phong trào chống thuế của hàng vạn nông dân miền Trung nhưng đó là một hệ quả tất yếu do dân trí được thay đổi, dân khí được chấn hưng. Chính vì thế mà năm 1908, thực dân Pháp bắt chém Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng bị kết án tù chung thân và đày đi Côn Đảo cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn Thành, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn… 13 năm sau, năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng mới được tha.

Ngay trong những ngày tháng lao tù ở Côn Đảo, cụ Huỳnh Thúc Kháng miệt mài học Pháp văn. Chỉ bằng tự học, trao đổi với các bạn tù và mấy cuốn từ điển, cụ đã có một trình độ tiếng Pháp khá tốt, được chính Ngục trưởng của Côn Đảo dùng làm thông ký suốt 3 năm. Nhờ đó mà cụ Huỳnh có thêm kỹ năng về văn thư hành chính, tài chính, kế toán.

Năm 1925, Pháp lập Viện Dân biểu Trung Kỳ, do nhiều người vận động nên Huỳnh Thúc Kháng ra ứng cử và trúng với số phiếu cao, được bầu làm Viện trưởng. Viện trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã có nhiều bài phát biểu kinh thiên động địa, trong đó có đề nghị “có một Hiến pháp hẳn hoi và mở rộng quyền hạn cho nhân dân được tham dự chính trị”. Cụ viết: “Hiện tình về đường chính trị: Dân chúng tôi không được quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do giáo dục, tự do du lịch và xuất ngoại…”.

Tuy nhiên, sau hai năm làm Viện trưởng, nhận thấy không thiết thực, cụ xin từ chức để ra làm báo. Năm 1927, Huỳnh Thúc Kháng lập tờ báo Tiếng Dân và làm chủ bút liên tục trong 16 năm. Tờ báo Tiếng Dân đã góp phần truyền bá những tư tưởng tiến bộ, phản ánh nỗi thống khổ cũng như những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đến chính quyền thuộc địa, tiếp tục mang tinh thần Duy tân đến với công chúng.

Một trong những nội dung rất quý giá được cụ Huỳnh nêu trên Tiếng Dân là chủ quyền của nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Trong bài “Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ biên tạp lục” cụ nhận định: “Theo các báo cáo ta gần đây sưu tập các tài liệu về đảo Tây Sa để chứng minh thì đảo ấy là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy”. Cụ đã dẫn rất nhiều tài liệu chứng cứ để khẳng định: “Vấn đề “quốc tịch đảo Tây Sa” này, nếu trên sân khấu quốc tế, nhận chủ quyền sở hữu của những ai chiếm trước và có tài liệu làm chứng hẳn hoi, như luật điền thổ, khai tài, khai lập nghiệp ở xa, bằng theo lộ tịch và phân thư chúc từ của tiền nhân để lại, tưởng không có nước nào có chứng cứ đầy đủ như nước ta”.

Bên cạnh những nội dung đó, điều đặc biệt có ý nghĩa lâu dài chính là tâm huyết cổ vũ cho việc học tập, nâng cao dân trí của cụ, tiếp nối tinh thần Duy tân một cách miệt mài.

Trong bài phát biểu ở Viện Dân biểu ngày 1/10/1928, Huỳnh Thúc Kháng lên án chính sách ngu dân của thực dân Pháp “Dân An Nam là một dân tộc sẵn có văn hóa mấy trăm đời, ai cũng công nhận sự học là sự cần thiết nhất xem như tính mệnh, tài sản, không có không sống được… Vậy mà nhà nước một nói rằng khai hóa, hai nói rằng hợp tác, song về đường học giới không chịu châm chước thế nào cho thỏa hiệp. Xứ Trung Kỳ bây giờ học cũ đã bỏ hẳn, mà học mới trăm phần chưa được một, trường công không đủ dùng mà trường tư thì không có, gia dĩ chương trình hạn chế, quy luật ngăn ngừa dân thì lấy sự học làm sinh mệnh mà quan xem sự học như thù nghịch thì ức vạn thiếu niên An Nam sẽ thành ra một bọn thất nghiệp… Cái dốt là cái họa của người An Nam… Vậy thì về đường học giới có nên thi hành cách cưỡng bách giáo dục và nhân dân tự do lập trường không?”.

Cụ chỉ trích lối học cũ “… học giới nước ta không có tư tưởng tự do, không có năng lực sáng tạo, mất hẳn tính chất phán đoán, chỉ một mực nhắm mắt theo mù làm nô lệ cho người xưa…” và khuyến khích lối học mới kiểu phương Tây “phải có tư tưởng độc lập, có trí não phán đoán tự do, để phát triển năng lực của mình, nhất là nuôi các mầm sáng tạo…”. Cụ cho rằng giáo dục cần đạt đến cả ba tiêu chí, đó là “trí thức, kỹ năng, nhân cách”.

Ngay lúc đó cụ Huỳnh đã chỉ rõ giáo dục phải phục vụ yêu cầu của xã hội, cụ viết: “Trong nước người nào cũng phải biết một nghề, kỹ nghệ là nghề, khảo cứu là nghề, trước thuật cũng là nghề. Muốn công nghệ được thịnh, thầy giáo phải biết trọng khiếu riêng của thiếu niên”.

Gần 100 năm qua, tình hình đất nước, tình hình thế giới đã thay đổi ghê gớm nhưng tư tưởng Duy tân, quan niệm về việc học của cụ Huỳnh vẫn mang tính thời sự hữu ích.

**

Ngồi bên bờ sông Trà Khúc cùng với Chánh án huyện Tư Nghĩa – Đỗ Tài Tính và ông Trương Châu Nga, cựu Thẩm phán Tòa phúc thẩm Tòa án tối cao tại Đà Nẵng, chúng tôi lại nghe được thêm nhiều chuyện về núi Thiên Ấn, về cụ Huỳnh. Một chuyện mà tôi nhớ mãi, đó là khi trở lại công tác tại Quảng Ngãi, cụ Huỳnh đã qua Quế Sơn, Quảng Nam ghé thăm bạn cũ là cụ Nguyễn Đình Hiến, một trong bốn người, cùng với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu được tôn vinh là Tứ kiệt của Quảng Nam. Trước khi chia tay cụ Huỳnh có tặng bạn đôi câu đối:

“Tự thiên trích hạ, ngẫu nhiên nẫm tải hỗn trận đồ, diệc khoa, diệc hoạn, diệc quận, diệc triều, kịch giới mang nhàn, vũ trụ túy song bạch nhãn/ Đặc địa khởi lai, do thị thập phần bản sắc, mỗ thụ, mỗ khưu, mỗ sơn, mỗ thủy, tiên hương quy khứ, càn khôn thu thập nhất thanh nang”.

Nghĩa là: Trên trời rớt xuống, hai mươi năm sống lẫn cõi trần hoàn, cùng đỗ, cùng quan, cùng quận, cùng triều, chốn kịch trường khi bận khi nhàn, vũ trụ tỉnh say đôi mắt trắng/ Dưới đất trồi lên, mười phân trọn vẫn còn nguyên bản sắc, này cây, này đống, này non, này nước, nơi tiên cảnh lại về lại ở, càn khôn thâu lượm một bao xanh.

Sau cuộc chia tay này, ba tháng sau Nguyễn Đình Hiến qua đời, bốn tháng sau Huỳnh Thúc Kháng cũng về tiên cảnh. Đôi câu đối linh ứng biết bao. Nghe câu chuyện này tôi hiểu, đối với người dân Quảng Ngãi, cụ Huỳnh đã là phúc thần linh thiêng, thành hồn thiêng sông núi…

Bình luận (2)
  1. Đọc bài này muốn đến thăm Quảng Ngãi một lần.

    Trần Hoài Linh 06:35 19/08.2019 GMT+7 Trả lời

  2. Bài viết về Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng nhân kỷ niệm CMTT và Quốc khánh 2-9 rất có ý nghĩa. Bấy lâu tôi cũng không biết nhiều về cụ Huỳnh, đọc thấy thêm kính trọng cụ

    Lê Thu Hương 08:53 19/08.2019 GMT+7 Trả lời