Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự

Ngày 21/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp - Bộ Lao động-Thương binh và xã hội ký ban hành Thông tư liên tịch số: 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH về phối hợp thực hiện một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch). Trong phạm vi bài viết, tác giả trình bày một số quy định về người đại diện của người dưới 18 tuổi theo BLDS năm 2015 và một số vướng mắc trong thực tiễn.

Theo Thông tư liên tịch thì người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được xác định theo thứ tự sau đây: [1] Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; [2] Người giám hộ (Người giám hộ của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người giám hộ đương nhiên hoặc người được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi cư trú cử hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các điều 46, 47, 48, 52 và 54 Mục 4 Chương III Bộ luật Dân sự); Người do Tòa án chỉ định); [3] Người do Tòa án chỉ định.

1.MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG

1.1.Về người giám hộ đương nhiên của người dưới 18 tuổi.

BLDS năm 2015 không sử dụng cụm từ “người dưới 18 tuổi” mà sử dụng cụm từ “người chưa thành niên”. Tuy nhiên người chưa thành niên được hiểu là người dưới 18 tuổi vì tại khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015 có quy định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi.

Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015 thì người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ thì có người giám hộ đương nhiên của họ được xác định theo quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015. Cụ thể là việc xác định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo thứ tự sau đây:

[1]. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;

[2]. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;

[3]. Trường hợp không có người giám hộ như hai trường hợp trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

1.2.Về giám hộ được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi cư trú cử.

Việc cử người giám hộ của người chưa thành niên được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của BLDS năm 2015. Theo đó, người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ mà không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người chưa thành niên có trách nhiệm cử người giám hộ.

Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ. Trường hợp cử người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người chưa thành niên.

1.3.Về người giám hộ của người của người chưa thành niên được Tòa án chỉ định

Theo quy định tại Điều 54 của BLDS năm 2015 thì trong trường hợp có tranh chấp về người giám hộ giữa những người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại Điều 52 của BLDS năm 2015 hoặc có tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ. Trường hợp chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.

1.4.Về người đại diện của người chưa thành niên do Tòa án chỉ định

Theo khoản 3 Điều 136 BLDS năm 2015 thì trong trường hợp không xác định được người đại diện là cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ cho người chưa thành niên (bao gồm người giám hộ đương nhiên, người giám hộ do Ủy ban nhân dân cấp xã cử hoặc do Tòa án chỉ định) thì Tòa án chỉ định người đại diện cho người chưa thành niên.

2.MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN.

Tại khoản 4 Điều 19 của Thông tư liên tịch có quy định: Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc có vấn đề mới phát sinh, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm phản ánh với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để xem xét, hướng dẫn thực hiện hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Trên cơ sở nghiên cứu quy định trong Thông tư liên tịch, quy định của BLDS năm 2015, đối chiếu vào thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi trong thời gian qua, tác giả nhận thấy việc xác định người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi có một số vướng mắc cần được hướng dẫn như sau:

2.1.Trường hợp người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi đăng ký thường trú một nơi và đang sinh sống một nơi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nào có trách nhiệm cử người giám hộ.

Theo quy định tại Điều 12 Luật Cư trú năm 2006 thì nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Tuy nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi đăng ký thường trú một nơi nhưng sinh sống một nơi. Như vậy, trong trường hợp này thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người dưới 18 tuổi đăng ký thường trú hay nơi người dưới 18 tuổi có trách nhiệm cử người giám hộ cho họ. Trường hợp, có tranh chấp việc cử người giám hộ thì Tòa án nơi người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi đăng ký thường trú hay tạm trú có thẩm quyền chỉ định người giám hộ.

2.2.Trình tự, thủ tục Tòa án chỉ định người giám hoặc chỉ định người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được thực hiện như thế nào.

Như đã trình bày, trường hợp có tranh chấp về người giám hộ hoặc tranh chấp về cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên. Hoặc trong trường hợp không xác định được người đại diện là cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ cho người chưa thành niên thì Tòa án chỉ định người đại diện cho người chưa thành niên. Như vậy, trình tự thủ tục để Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc chỉ định người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được thực hiện như thế nào. Tòa án sẽ chỉ định ai là người giám hộ hoặc là người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi. Hoặc là khi có sự tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án trong việc chỉ định người giám hộ, chỉ định người đại diện thì giải quyết như thế nào.

2.3. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, nếu thuộc trường hợp Tòa án phải chỉ định người giám hộ hoặc chỉ định người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi nhưng thời hạn điều, truy tố, xét xử đã hết thì giải quyết như thế nào.

Trường hợp trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, nếu thuộc trường hợp Tòa án phải chỉ định người giám hộ hoặc chỉ định người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi nhưng thời hạn điều, truy tố, xét xử đã hết thì có quan điểm cho rằng cơ quan tiến hành tố tụng trong mỗi giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sẽ tạm đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ vụ án để chờ Tòa án có thẩm quyền chỉ định người giám hộ hoặc chỉ định người đại diện cho người tham giá tố tụng là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 229, khoản 1 Điều 247 và khoản 1 Điều 281 của BLTTHS năm 2015 thì việc tạm đình chỉ điều tra hay tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp này là không có căn cứ.

Những vướng mắc nêu trên do chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền quy định hoặc hướng dẫn cụ thể nên trong thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng đã lúng túng hoặc không thống nhất quan điểm với nhau. Thiết nghĩ, những vướng mắc này cơ quan có thẩm quyền cần sớm hướng dẫn để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất.

 

DƯƠNG TẤN THANH (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)