Chùa Nam Nhã, một danh lam xứ Cần Thơ

Ghi chép của NGUYỄN PHAN KHIÊM - Di tích lịch sử cấp quốc gia Chùa Nam Nhã, ở thành phố Cần Thơ, tọa lạc bên bờ sông Long Tuyền, đối diện với đình Bình Thủy, là một di tích không chỉ đẹp bởi vẻ đẹp của kiến trúc, của chữ nghĩa, của không gian thoáng mát mà còn ở những giá trị tôn giáo, lịch sử tiềm ẩn…

27 tháng 01 năm 2020 07:12 GMT+7    0 Bình luận

Đức tế Phật đường

Đối diện với đình Bình Thủy cổ kính, còn có tên là Long Tuyền cổ miếu, qua con sông Long Tuyền, là ngôi chùa thấp thoáng mái ngói đỏ, cây cổ thụ tỏa bóng. Cổng chính của chùa đề “Nam Nhã đường” mà không phải “Nam Nhã tự” như những ngôi chùa khác. Hai bên cổng có đôi câu đối, hai chữ đầu ghép thành tên chùa: “Nam địa độ nguyên nhân, bát nhã cầm thanh thông giác lộ/ Nhã đình chiêu thiện khách, bồ đề thụ ảnh cái thiền môn”, nghĩa là: Nam địa độ nguyên nhân, Bát Nhã tiếng đàn thông giác lộ / Nhã đình mời thiện khách, Bồ Đề bóng mát rợp thiền môn. Cả ba cổng đều có mái, có câu đối chữ nghĩa hàm súc.

Khuôn viên Nam Nhã đường

Sân chùa nhiều cây tùng, trắc bách diệp và nhiều cây cổ thụ khác, giữa sân có núi non bộ lớn và một bể trồng sen lá xanh mướt, tạo một không gian thanh tịnh, khác biệt hoàn toàn với đường phố tập nập bên ngoài. Sau chùa là khu vườn rộng, cây trái sum suê. Gió từ sông Long Tuyền thổi vào khiến cái nắng cuối thu ở phương Nam cũng trở nên dịu dàng. Ngôi cổ tự mặt tiền kiểu phương Tây với những vòm cong, nhưng mái chùa có lưỡng long tranh châu kiểu Đông Tây kết hợp, tấm hoành phi nền vàng, chữ đỏ trên cửa chính vào nội điện đề “Đức Tế Phật Đường”, vậy là nơi đây ngoài tên Nam Nhã, nơi đây còn có tên là Đức Tế.

Năm 1890 ngôi chùa được xây dựng đơn sơ, lợp lá. Đến năm 1917, Thái lão sư Nguyễn Đạo Cơ tức Nguyễn Giác Nguyên, là người làng Bình Thủy cùng ban chủ sự hưng công xây dựng lại. Thái cô Nguyễn Kim Lan, con gái một vị điền chủ lớn ở Hậu Giang đã cúng 44 công đất. Tôn sư Nguyễn Đạo Cơ là học trò của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, và một người con của Bùi Hữu Nghĩa là Tiên sinh Bùi Huệ Đức (Bùi Hữu Sanh) đã tham gia xây dựng chùa này. Năm 1923, Phật đường được hoàn thiện có quy mô hiện nay.

Điều rất ấn tượng đối với chúng tôi là hệ thống chữ Hán tại di tích rất phong phú, ngoạn mục, những chữ đại tự viết trên tường và hệ thống hoành phi, câu đối cho thấy nét bút tài hoa của tiền nhân. Ngoài những chữ mang nội dung tôn giáo, chúng tôi rất thích bức hoành phi nền then đen chữ thếp vàng đề ba chữ “Tùng Cúc Mậu” mang phong vị Nho gia. Ngoài ra, hiện chùa còn lưu giữ hàng trăm tấm mộc bản khắc in kinh sách được khắc cách đây một thế kỷ, chứng tỏ rất nhiều trí thức Nho học đã vân tập tại đây.

Tấm bia quốc ngữ dựng ở sân chùa giới thiệu cho hay, từ năm 1905 chịu ảnh hưởng của phong trào Đông Du, truyền thống yêu nước của các vị lão sư và các Phật tử được khởi động. Chùa trở thành trụ sở kinh tài, ủng hộ học sinh xuất dương du học chống lại chánh sách ngu dân của thực dân Pháp, truyền bá văn thơ yêu nước.
Theo nhiều tài liệu, Phan Bội Châu và Cường Để đã lưu lại chùa này một thời gian để vận động ủng hộ phong trào Đông Du. Theo cuốn Vĩnh Long vùng đất và con người của Nguyễn Chiến Thắng , hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Phan, cho con em xuất dương sang Nhật, Cai tổng Cần Thơ kiêm Hội trưởng Hội khuyến học tỉnh Nguyễn Thần Hiến đã ủng hộ 20.000 đồng, tương đương 300 lượng vàng; thương gia Lâm Bình cho hai con mang theo 4.000 đồng, tương đương 70 lượng vàng; điền chủ Lưu Đình Ngoạn bán 72 mẫu ruộng để ủng hộ 30.000 đồng, tương đương 450 lượng vàng…

Nam tông Minh sư đạo

Nam Nhã đường không phải là ngôi chùa theo nghĩa thông dụng là nơi thờ Phật, mà là Phật đường của Nam tông Minh Sư đạo.

Một thanh niên trẻ thanh tú, mặc quần áo nâu sẫm, đeo tràng hạt ra tiếp chúng tôi. Hỏi ra mới biết đó là thầy Thiện Đức, tu sĩ của Nam Nhã đường. Theo thầy Thiện Đức, Minh Sư đạo thờ theo ngũ hành gồm: Thiên bàn thuộc Hỏa; Long thần hộ pháp thuộc Thủy; Lịch đại tổ sư thuộc Kim; Lịch đại tông thân (bá tánh) thuộc Mộc và Ngũ phương Thổ thần thuộc Thổ.

Chánh điện Nam Nhã đường

Gian chánh điện thờ Tam giáo Thánh nhân với ba pho tượng đồng cao chừng 30 cm đặt trong khám, chính giữa là Đức Thích Ca Văn Phật, hai bên là Đức Khổng Tử chí thánh và Đức Lão Tử đạo tổ. Nhìn cách thiết trí chánh điện chúng tôi nghĩ rằng, mặc dù với một xuất xứ khác nhưng như vậy Minh Sư đạo cũng tương đồng với quan niệm Tam giáo đồng nguyên thời Lý -Trần. Sự dung hợp hài hòa giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đã góp phần tạo nên nền văn minh Đại Việt rực rỡ.

Phía trước ba pho tượng chính là ba pho tượng nhỏ hơn, chính giữa nhưng để thấp hơn là vị Di Đà cổ Phật, hai bên là Diêu Trì Thánh Mẫu và Ngọc Hoàng thượng đế.

Đối diện với bàn thờ chính là bàn thờ Long Thần hộ pháp và Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa; hai bên có bàn thờ Lịch đại Tổ sư, Quan Thánh Đế Quân, và người sáng lập Phật đường là Thái Lão sư Nguyễn Đạo Cơ; cùng bàn thờ Cửu huyền thất tổ. Hai bên tiền điện có hai hương án đặt bài vị của các vị Lão sư trụ trì và các vị tiền bối trong Đạo. Phía đặt bài vị nam tu sĩ đề hai chữ lớn Càn đạo, phía nữ tu sĩ đề Khôn đạo.

Nội thất chùa Nam Nhã

Điều đặc biệt là ở bàn thờ chính điện có treo ngọn đèn có tên là Vô cực huyền đăng, tức là ngọn đèn Nhiên Đăng luôn thắp sáng, được treo bằng trong một khung tròn, phía trên khung tròn là hình con dơi mang hàm ý chữ Phúc, dưới ngọn đèn đặt một bình tịnh thủy (nước trong), hai bên bình nước là là chiếc đĩa sứ nhỏ xíu đặt trên đế cao. Bình tịnh thủy tượng trưng cho ngôi Thái cực, hai chén nước hai bên là lưỡng nghi (âm dương), với chén cơm ở giữa hợp lại là Tam tài, tượng trưng cho Thiên – Địa – Nhân. Phía trong cùng, dưới các pho tượng là một tấm gương để nhắc tín đồ phải luôn hồi quang phản chiếu.

Điều khác biệt nữa là ngày thường thì thắp hương nhưng khi có lễ thì không thắp hương mà đốt bột thơm. Thầy Thiện Đức cho chúng tôi xem hai chiếc thố sứ nhỏ đặt hai bên lư hương, trong đó một thố là bột hương, một thố đựng những thanh gỗ trắc bách diệp như những que diêm. Khi hành lễ, bột thơm được đổ vào lư hương và những mẩu trắc bách diệp được đốt cháy cắm vào bột thơm, tạo một mùi hương thanh nhã. Lễ vật bao gồm cơm, được tạo hình như ngọn tháp nhỏ, năm loại trái cây và năm loại nấm, tuyệt đối không dùng rượu thịt.

Tu sĩ không cắt tóc

Khác với giáo phẩm Phật giáo, trong Minh Sư đạo các tu sĩ được phân cấp gồm ba bậc. Bậc Thượng thừa gồm: Thái Lão sư (Tổ sư), Thập địa Lão sư (Đại Trưởng lão – không quá 10 người), Bổ thiệt Lão sư (Đại Lão sư), Đảnh hàng Lão sư (Trưởng lão). Bậc Trung thừa gồm: Bảo ân, Dẫn ân, Chứng ân và Thiên ân. Bậc Hạ thừa gồm: Tam bộ, Nhị bộ, Nhất bộ, Sám hối (ăn chay trường, giữ giới đạo) và Quy y Hộ đạo (ăn chay kỳ).

Nữ phái chỉ cầu đạo trong phạm vi hai bậc là Hạ thừa và Trung thừa (phẩm cao nhất là Bảo ân). Nữ phái ở phẩm Thiên ân, Chứng ân, Dẫn ân được gọi bằng Cô; phẩm Bảo ân được gọi bằng Thái cô (đồng chân xuất gia) hoặc Thái bà (bán thế xuất gia). Ngày nay, Minh Sư đạo không có ai kế vị chức Thái lão sư.

Tác giả trao đổi với tu sĩ Thiện Đức

Minh Sư đạo tu vô vi, không chấp tướng, tu sĩ không thí phát (cắt tóc) nhưng bắt buộc người tu phải ăn chay trường, tuyệt dục, giữ giới luật Đạo pháp. Hàng ngày Phật Đường cúng tứ thời là Tí (23 giờ) Ngọ (11 giờ), Mão (6 giờ) và Dậu (18 giờ); hàng tháng cúng Sóc, Vọng; hàng năm có các ngày lễ: Mùng 9, Mùng 10 và Rằm tháng Giêng; 19 tháng Hai; 8 tháng và 29 tháng Tư… Hàng ngày, vãn đàn (18 giờ) và tảo đàn ( 6 giờ) dành cho các vị từ sám hối trở xuống, các vị Nhất bộ trở lên thì thực hành công phu tại Thiền phòng. Tu sĩ Minh Sư đạo tu Thiền kết hợp với khí công.

Hiện nay tại Nam Nhã đường, bên phải ở dãy nhà Càn đạo có 7 nam tu sĩ, bên trái là Khôn đạo có 6 nữ tu sĩ, hai dãy nhà có hành lang dẫn lên chánh điện. Đạo phục của nam tu sĩ khi hành lễ là áo dài màu đen, quần trắng, chít khăn đóng hoặc mũ màu đen, mang hài vải hoặc vớ bao chân. Nữ phái đầu đội khăn vuông (không được để đầu trần), chân mang hài vải màu đen hoặc vớ; khi hành lễ từ bậc Sám hối trở lên phải mặc áo rộng màu đen, quần trắng (cả nam và nữ).

Dù cho nam nữ cùng ở, cùng tu nhưng bảng quy định được treo nơi Phật đường ghi rõ là tuyệt đối cấm nam nữ tu sĩ trò chuyện, tiếp xúc riêng tư với nhau, khi tiếp xúc chỉ được bàn về đạo pháp và công việc chung của Phật đường.

Nam địa độ nguyên nhân…

Ngồi trò chuyện với thầy Thiện Đức trên bộ tràng kỷ kê ở nhà Càn đạo, tôi băn khoăn về chữ “nguyên nhân” ở câu đối ngoài cổng, không biết diệu ý là gì, thầy Thiện Đức giải thích: Minh Sư đạo chia thế giới thành ba cõi: Thượng giới, Trung giới và Hạ giới; Hạ giới là cõi âm phủ, Trung giới là thế giới loài người, Thượng giới là cõi trời. Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị chủ tể ngự trị ở cõi trời, nhưng chưởng quản cả hai thế giới còn lại.

Giáo lý chia thời gian thành ba kỳ tức Tam nguyên: Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên, mỗi kỳ có 12 Hội; mỗi Hội là 10.800 năm. Thượng nguyên là giai đoạn Diêu Trì Kim Mẫu tạo lập thiên địa. Lúc bấy giờ ngài cho 96 ức Nguyên nhân (Linh căn) xuống trần, đến nay đã trải qua đời Thượng nguyên, Trung nguyên và sắp hết đời Hạ nguyên mà chỉ có 4 ức Nguyên nhân trở về với mẹ. Như vậy còn 92 ức Nguyên nhân đang chìm trong biển trầm luân, đời mạt kiếp sắp tới, Bồ tát Di Lặc sẽ xuống trần lập Hội Long Hoa, tế độ tất cả các Linh căn đó. Như vậy, “nguyên nhân” của Minh sư đạo được hiểu là “những người đầu tiên”.

Về các tu sĩ đang tu hành tại Nam Nhã đường, thầy Thiện Đức chia sẻ, đường chủ (tương tự như trụ trì) của Nam Nhã đường hiện nay là Đại Tiên sanh Hồ Minh Phong, vốn là một Cử nhân công nghệ thông tin. Thầy Thiện Đức cũng tốt nghiệp Đại học Xây dựng, đã ăn chay trường từ thời còn học phổ thông, nên sau khi tốt nghiệp Đại học mới quy y. Trong Phật đường còn có một vị là Kỹ sư nông nghiệp… Một người muốn xuất gia thì phải có ba người thầy đồng ý giúp đỡ, đó là Khai thị sư, Bảo cử sư và Dẫn tấn sư. Khi đã đủ điều kiện thì đường chủ đồng ý cho xuất gia cầu đạo.

Hiện nay, Minh Sư đạo có 53 Phật đường hoạt động ở 18 tỉnh, thành phố từ Hà Nội đến TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và nhiều nhất là đồng bằng sông Cửu Long với 300 chức sắc, hơn 1.262 chức việc và trên 11.224 tu sĩ, tín đồ. Tổ đình của Minh Sư đạo đặt tại Quang Nam Phật Đường ở quận 1, TP Hồ Chí Minh.

**

Chia tay thầy Thiện Đức và chùa Nam Nhã, hòa vào dòng xe cộ tấp nập, chúng tôi nghĩ rằng ngôi chùa là điểm đến để lòng người lắng lại, để mỗi người bớt chuyện sân si, phiền não… cho cuộc sống được an bình. Cần Thơ là thành phố trù phú, đang phát triển từng ngày, những di tích như chùa Nam Nhã, đình Bình Thủy, khu lưu niệm Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa… là những viên ngọc quý, tô điểm cho mảnh đất gạo trắng nước trong này.

Bình luận (0)