Dinh thự vàng trên cao nguyên trắng

NGUYỄN PHAN KHIÊM - Bắc Hà, Lào Cai được mệnh danh là Cao nguyên trắng, bởi cũng như Sa Pa, nơi đây quanh năm mây trắng phủ đầy, khi mùa xuân đến hoa mận, hoa lê trải một màu trắng tinh khôi khắp cả núi rừng. Và không biết, Cao nguyên trắng còn liên quan gì đến khói thuốc phiện hay không, bởi Bắc Hà xưa là một nơi nổi tiếng về trồng thuốc phiện… Giữa Cao nguyên trắng ấy, gần 100 năm qua sừng sừng một dinh thự kiểu châu Âu cổ điển, đẹp đến nao lòng.

30 tháng 04 năm 2019 06:35 GMT+7    0 Bình luận

1.Nói đến Bắc Hà, người ta nghĩ đến núi đá, đến những thung lũng bạt ngàn mận hậu. Mùa xuân hoa mận nở trắng một vùng, thấp thoáng những người đàn ông cưỡi ngựa, những phụ nữ Mông Hoa váy áo rực rỡ, ríu rít rủ nhau xuống chợ như bồng bềnh trong mây trắng, hoa trắng. Bắc Hà còn nổi tiếng với phiên chợ bán đủ thứ, từ thổ cẩm, dụng cụ rèn đúc, đến gia cầm và nhất là ngựa, trâu bò… rồi những quán rượu có nồi thắng cố sôi sùng sục, ngất ngư mùi rượu Bản Phố… Tất cả, đậm đặc sắc màu 14 dân tộc chung sống nơi đây, mà đông nhất là đồng bào Mông, Dao, Tày, Nùng.

Vì thế, quả thật là bất ngờ khi giữa thị trấn Bắc Hà nổi bật lên một dinh thự kiểu châu Âu cổ điển với màu vàng đặc trưng và kiến trúc vững chãi. Tấm biển gắn bên trụ cổng ghi “Dinh thự Hoàng A Tưởng”. Dinh thự nằm trên đất bản Nà Hối Thổ, nay là trung tâm thị trấn Bắc Hà.

Qua một khoảng sân rợp bóng cây là hai cầu thang cong cong như một vòng tay, cao 17 bậc dẫn du khách lên dinh thự. Cửa chính mở ra một sân rộng vuông vức, nhà chạy quanh. Đây là kiểu kiến trúc hình chữ “khẩu” với bốn mặt liên hoàn khép kín, các cửa đều hướng ra khoảng sân rộng.

Nhà chính nhìn thẳng ra cổng

Tòa nhà chính nhìn ra cổng, cao hai tầng, bề thế, có diện tích 420 m2, mỗi tầng ba gian. Phần cao nhất ở chính giữa có họa tiết hai cành nguyệt quế ôm lấy một hình tròn như mặt trăng, phía dưới là năm khánh thành dinh thự -1921. Mặc dù kiến trúc châu Âu nhưng điểm xuyết vào đó là những hoa văn, họa tiết Á Đông như chữ song hỷ, họa tiết hoa cúc… Hành lang gian giữa có ba vòm cửa, trên mỗi vòm cửa nhỏ hai bên ở mỗi tầng đều có chữ Hán: Xuân phong ( gió xuân), Thụy khí ( khí lành) ở tầng trên và Bỉnh lạc (niềm vui trong sáng), Vinh tôn (tôn vinh) ở tầng dưới.

Chủ dinh thự này là ông Hoàng Yến Chao, Thổ ti được phong Châu úy châu Bắc Hà hồi đó. Ông Hoàng Yến Chao là người Tày, nhưng đây là vùng đất người Mông chiếm đa số nên người ta vẫn gọi ông là “Vua Mèo”. Hoàng A Tưởng là con trai của ông Hoàng Yến Chao.

Nhà chính có gian thờ, nơi hội họp, tiếp khách và nơi ở của ông chủ. Hai dãy nhà hai bên liền với nhà chính, có hành lang rộng, nhưng thấp hơn, mỗi tầng có ba gian, mỗi gian 100 m2, hình thành 12 gian, xưa kia là phòng riêng của ba bà vợ ông Hoàng Yến Chao, hai người vợ của ông Hoàng A Tưởng, phòng của hai vị cố vấn người Pháp, người Trung Quốc và phòng xử án, phòng làm việc… Toàn bộ dinh thự có 36 phòng lớn nhỏ.

Nối liền với hai dãy nhà hai bên, nhìn vào đầu đốc tòa nhà chính là hai dãy nhà phụ thấp hơn, là nơi ở của lính canh, của người phục vụ, nhà kho… diện tích 160 m2, kiến trúc đơn giản. Khu này cũng hai tầng, có cầu thang thông với nhà chính.

Khung cảnh dinh thự trước 1945 – Ảnh tư liệu

Công trình trên 4000 m2 này nằm trên một quả đồi rộng khoảng 10 nghìn m2. Người ta kể rằng, để chọn địa thế xây dựng dinh thự này, ông thổ ty Hoàng Yến Chao dành ra hai năm trời để thầy địa lý chọn đất cho hợp phong thủy. Sau đó ông thuê kiến trúc sư người Pháp thiết kế, kết hợp cùng một cố vấn người Trung Quốc giám sát thi công xây dựng trong 7 năm. Vật liệu sắt thép, xi măng từ Hà Nội chở theo tàu hỏa lên đến ga Phố Lu, từ đó xe ngựa chở, nhân công gùi tiếp lên đến công trình. Người ta kể lại, đoàn ngựa thồ vật liệu từ Phố Lu lên Bắc Hà có hơn 100 con, cả đi và về mất 4-5 ngày/ chuyến, vì đường lên Bắc Hà ngày ấy quanh co theo các sườn núi đá dựng đứng, nên rất gian nan.

Gạch ngói được thuê thợ Trung Quốc sang tìm đất thật tốt để sản xuất và đốt lò. Vì vậy, vật liệu xây dựng nên dinh thự cũng là sự kết hợp giữa Đông và Tây. Móng làm bằng đá nên trải qua gần 100 năm, công trình vẫn vững chãi, nguyên vẹn, thách thức sức hủy hoại của thời gian.

Hai chữ Hán là Vinh tôn

Đây là công trình có ba công năng, nhà ở, nơi làm việc và là một pháo đài phòng thủ, nên đối với những công trình mang phong cách kiến trúc châu Âu tại Việt Nam, dinh thự này mang một giá trị đặc biệt.

Phía sau của tòa nhà chính có một cửa hầm kiên cố, đường hầm bí mật thoát hiểm này dẫn ra ngoài. Cửa hầm cao khoảng 1,5 m, rộng 1 m. Theo giới thiệu, đi vào bên trong có một căn hầm khoảng 6 m2. Đường hầm dẫn đến quả đồi phía sau nhưng lâu ngày đã bị bịt lại một phần. Cô hướng dẫn viên cho hay, năm 1979, trong cuộc chiến tranh biên giới ác liệt, bộ đội đã sử dụng đường hầm này.

Ngoài cửa hầm còn ba cây hoa mộc cổ thụ, cùng tuổi với dinh thự, trổ những bông hoa trắng tỏa hương thơm thoang thoảng. Cây mộc như nhân chứng của ngôi nhà, lặng lẽ chứng kiến dâu bể thời gian trong sương gió miền biên viễn xa xôi này.

2.Xung quanh dinh thự xưa có tường thành kiểu trình tường bằng đất nện pha mật mía kiên cố, lính đi tuần trên mặt thành. Tường có tháp canh, có lỗ châu mai, thường xuyên có hai trung đội lính canh phòng cẩn mật. Cô hướng dẫn viên chỉ cho chúng tôi xem mấy cây lê xanh tốt ở phía trước dinh thự và cho biết xưa kia nơi đây có vườn lê, mùa xuân hoa lê nở trắng trước dinh thự, rất đẹp. Tiếc rằng sau một thời gian dài hoang phế, tường thành không còn và những cây lê cũng bị mất đi nhiều…

Phần hành lang đối diện nhà chính, tầng 1 là cổng vào, hai bên có các lỗ châu mai, còn ở tầng trên là một hành lang lộ thiên, đứng ở đó, gió thổi lồng lộng, có thể ngắm được toàn cảnh dinh thự và ngắm nhìn núi non trùng điệp xung quanh. Núi non vùng biên giới phía Bắc ngàn năm qua vẫn như thế nhưng thế sự thì biết bao thay đổi.

Vùng Lào Cai nói chung, Bắc Hà nói riêng, thời nhà Lý thuộc châu Đăng, nhà Trần thuộc Quy Hóa. Châu Quy Hóa gồm 4 huyện Yên Lập, Văn Bàn, Văn Chấn và Thủy Vĩ. Dinh thự này trên đất Thủy Vĩ chăng?! Thời nhà Lê, nhà Nguyễn đất này thuộc Tuyên Quang. Năm 1907 thành lập tỉnh Lào Cai, Bắc Hà trở thành một châu của tỉnh Lào Cai. Những năm nửa cuối thế kỷ XX, nhiều lần tách nhập, Bắc Hà tách làm hai huyện, những xã phía Bắc giáp biên giới là huyện Si Ma Cai.

Những địa danh ấy nhiều lần được nhắc đến trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Hoa. Thời nhà Tống, phong kiến phương Bắc 8 lần tấn công nước ta thì có tới 6 lần chúng hành quân qua vùng đất này.

Năm 1256, quân Nguyên dưới sự chỉ huy của Ngột Lương Hợp Thai kéo quân sang xâm lược nước qua vùng Thuỷ Vĩ. Khi bị đánh bại ở Đông Bộ Đầu chúng lại rút chạy về nước theo đường sông Hồng và liên tiếp bị dân binh Quy Hóa chặn đánh.

Cuối năm 1427, trong khi quân Minh bị vây chặt trong thành Đông Quan, nhà Minh sai hai cánh quân kéo sang nước ta cứu viện. Một cánh quân do Liễu Thăng dẫn đầu qua Lạng Sơn, bị đánh bại ở ải Chi Lăng. Cánh quân thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy đóng ở bên kia cửa ải Lê Hoa (Lào Cai). Cuối tháng 10 năm 1427, quân ta tổng công kích đánh tan 5 vạn quân Minh, giết chết hơn 1 vạn tên, bắt sống 1000 tên. Chiến thắng ải Lê Hoa đã chặt đứt một mũi tiến quân của địch, góp phần giải phóng tổ quốc khỏi ách đô hộ của giặc Minh.

Gần đây hơn, từ năm 1868 đến năm 1885 Lưu Vĩnh Phúc xây dựng căn cứ địa tại Lào Cai. Từ nơi đây, quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc phối hợp với dân binh các châu Tây Bắc xuôi sông Hồng về Hà Nội chống Pháp, lắm phen làm quân Pháp kinh hoàng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, giai đoạn 1951-1954 nơi đây nổi tiếng với những trận đánh tiễu phỉ.

Biết bao binh lửa, thương vong đã diễn ra trên mảnh đất này nhưng dinh thự Hoàng A Tưởng may mắn không bị dính một “mũi tên hòn đạn” nào, trở thành một chứng nhân của lịch sử sừng sững đến hôm nay.

3.Trong nhà chính treo một số hình ảnh gia đình ông Hoàng Yến Chao do con cháu mới cung cấp, cho thấy, giống như dinh thự châu Âu này lạc giữa vùng đồng bào Mông, họ mặc đồ Tây, gương mặt, phong thái như các công chức Hà Nội lịch lãm.

Ông Hoàng Yến Chao có bảy người con, trong đó có hai con trai. Hoàng A Tưởng là con trai thứ hai, ngay từ lúc còn nhỏ đã thông minh, lanh lợi, tướng mạo hơn người nên được cha rất ưu ái. Hoàng A Tưởng được đưa về học trường Bưởi ở Hà Nội, sau đó là sang Pháp du học.

Ông Hoàng Yến Chao mặc vest trắng – Ảnh tư liệu

Sau khi du học trở về, Hoàng A Tưởng là trợ thủ đắc lực của cha trong xử lý công việc, quan hệ với các thổ ty khác trong vùng. Do sự nổi bật đó mà dân trong vùng gọi đây là dinh thự Hoàng A Tưởng.
Trong thời kỳ hoàng kim của gia tộc họ Hoàng, hẳn dinh thự đã chứng kiến nhiều đêm thiếu nữ Thái múa xòe ngoài sân, mùi thuốc phiện, rượu thịt thơm lừng trong những bữa tiệc. Ngắm những bức ảnh mới được in lại, tôi cố hình dung khi xưa, cuộc gặp gỡ, kết nghĩa anh em giữa ông Hoàng A Tưởng và nhạc sĩ Văn Cao diễn ra ở đây như thế nào…

Theo bài “Quán Biên Thùy và chuyện trong dinh Hoàng A Tưởng” đăng trên An ninh thế giới ngày 31/8/2016, của tác giả Văn Thao, con trai của nhạc sĩ Văn Cao, thì trung tuần tháng 7 năm 1947 lễ kết nghĩa được tổ chức tại dinh thự này. Hôm đó, bên phía Văn Cao có ông Trần Huy Liệu, đại diện Chính phủ và các nghệ sĩ quán Biên Thùy. Bên Hoàng A Tưởng có toàn thể gia đình, họ hàng, quan khách, có các thổ ty lân cận như: Đèo Văn Long, thổ ty người Thái ở Phong Thổ, Lai Châu; Vương Chí Sình, thổ ty người Mèo ở Hà Giang; Nông Vĩnh Xương, thổ ty người Nùng ở Mường Khương… Vì sao lại có cuộc kết nghĩa lạ lùng như thế?

Bà vợ ba của ông Hoàng Yến Chao và các con

Đầu tháng 12/1946, ông Lê Giản – Giám đốc Nha Công an Trung ương nói với Văn Cao rằng: “Tình hình Lao Cai hiện nay rất phức tạp, bọn Quốc dân đảng cấu kết với thổ phỉ chống phá chúng ta công khai, trong khi lực lượng ta lại yếu. Mình muốn cậu sang giúp ngành Công an. Cậu sẽ phụ trách Đội điều tra Công an Liên khu 10. Với kinh nghiệm hoạt động bí mật trước đây, lại có vỏ bọc là nhạc sỹ, chỉ có cậu mới đủ khả năng trong công việc khó khăn và phức tạp này”.

Do đó, đầu tháng 3/1947, Văn Cao cùng vợ lên Lao Cai. Một địa điểm gần chợ Cốc Lếu được Văn Cao mở quán cà phê ca nhạc lấy tên là quán “Biên Thùy”, để làm cơ sở hoạt động của Đội điều tra. Quán Biên Thùy nhanh chóng trở thành một địa điểm lý tưởng, đặc biệt là đối với giới văn nghệ sỹ đi kháng chiến. Ban nhạc của quán được thành lập với sự tham gia của nhiều nhạc sỹ, nhạc công cùng các ca sỹ có tên tuổi của Hà Nội, Hải Phòng. Nhạc sỹ Phạm Duy cũng thường xuyên đến hát trong một thời gian dài.

Hoàng A Tưởng nói tiếng Pháp thành thạo, yêu âm nhạc và biết chơi violon đã tìm đến quan Biên Thùy và nhanh chóng trở nên thân thiết với Văn Cao. Ngay buổi đầu tiên gặp mặt, Hoàng A Tưởng đã lên sân khấu, lấy violon biểu diễn hai nhạc phẩm của Văn Cao là “Thiên Thai” và “Bến xuân” trong sự ngạc nhiên và tán thưởng của mọi người.

Phòng khách trong dinh thự xưa

Cảm phục và yêu quý Văn Cao nên Hoàng A Tưởng có ý muốn được kết nghĩa anh em. Trong buổi lễ ấy “Hoàng A Tưởng cùng Văn Cao đứng lên cứa ngón tay rỏ vào bát rượu mỗi người ba giọt máu. Thầy mo cầm bát rượu lắc cho máu hòa tan rồi đưa bát rượu cho Hoàng A Tưởng. A Tưởng hai tay bưng bát rượu dõng dạc khấn: “ Ta, Hoàng A Tưởng, 30 tuổi, cùng Văn Cao 25 tuổi, xin thề trước thần linh trời đất, trước gia tộc họ Hoàng, trước sự chứng giám của toàn thể các vị quan khách: Kể từ giờ phút này trở đi, chúng tôi chính thức trở thành anh em, tuy không cùng cha cùng mẹ sinh ra. Anh em chúng tôi nguyện trung thành với nhau cho đến chết”.

Hoàng A Tưởng đưa bát rượu cho Văn Cao. Văn Cao uống một hơi hết nửa bát rồi đưa lại cho Hoàng A Tưởng. Hoàng A Tưởng ngửa cổ uống một hơi hết rồi vung tay đập bát rượu xuống đất vỡ tan tành. Hoàng A Tưởng nói tiếp: “ Nếu ai phản nhau sẽ bị tan xương nát thịt như chiếc bát này”. Văn Cao cùng Hoàng A Tưởng ôm nhau thân thiết trong tiếng hò reo của mọi người…

Theo Văn Cao kể lại, sau đó Hoàng A Tưởng đã được giao giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Lao Cai. Ông Ngô Minh Loan (sau này là Bộ trưởng Bộ Lương thực – Thực phẩm) được cử làm đặc phái viên của Chính phủ trực tiếp làm việc cùng Hoàng A Tưởng.

Tuy nhiên, năm 1950, gia đình họ Hoàng đã rút khỏi Bắc Hà và định cư ở Đà Lạt và đi Pháp. Mới đây con cháu họ Hoàng có liên lạc lại và cung cấp một số hình ảnh xưa của gia tộc để ban quản lý trưng bày, giới thiệu với du khách.

**

Tác già ở hành lang đối diện nhà chính

Phía sau của dinh thự, gần đường hầm thoát hiểm và cổng phụ của khu di tích có lò nấu rượu truyền thống và bán thổ cẩm, đồ lưu niệm cho khách du lịch. Trong căn phòng của nhân viên bảo vệ dinh thự, sát cổng phụ, chúng tôi thấy có một bàn thờ, có tủ thờ đàng hoàng, những bát hương đầy ắp chân nhang. Trên đó đặt ảnh chân dung ông Hoàng Yến Chao và ông Hoàng A Tưởng, một người nhân viên nói rằng: Chúng tôi thờ các vị chủ nhà.

Một nghĩa cử làm ấm lòng những người hoài niệm, pha lẫn chút ngậm ngùi. Giá như theo những bức hình còn lưu lại, khu di tích lập lại phòng khách, ban thờ trên nhà chính dinh thự để du khách hình dung được sinh hoạt của gia đình thổ ty Hoàng Yến Chao khi xưa thì hay biết bao…

Thời gian làm minh bạch nhiều điều và cũng phủ mờ hay xóa nhòa nhiều thứ, nhưng dinh thự này cũng như gia tộc họ Hoàng là một phần của lịch sử Bắc Hà, cần lưu giữ, bảo tồn như một tư liệu sống động hữu ích cho mai sau.

Bình luận (0)