Khắc khoải Lý Sơn

Bài và ảnh của NGUYỄN PHAN KHIÊM - Ngồi chờ tàu cao tốc ra đảo Lý Sơn ở cảng Sa Kỳ, nhìn sóng biển mênh mông, thuyền cá dập dìu, bất giác tôi có cảm giác nôn nao, xúc động khi nghĩ đến những ngư dân hải đội Hoàng Sa vâng mệnh vua đi tuần tra, cắm mốc chủ quyền mấy trăm năm trước. Việt Nam có nhiều hải đảo, nhiều đảo lớn có lịch sử phong phú, riêng Lý Sơn - Cù lao Ré, là một đảo nhỏ nhưng có vị trí đặc biệt, đó là chứng cứ, là biểu tượng cho vấn đề lớn lao – chủ quyền biển đảo của Tổ quốc nói chung và Hoàng Sa nói riêng.

24 tháng 08 năm 2018 13:00 GMT+7    0 Bình luận

Cá lớn giương vây

Tàu cao tốc Chín Nghĩa đón khách từ Cảng Sa Kỳ chạy băng băng trên biển tháng 8 sóng gió dập dồn, có lúc chồm lên như tuấn mã bất kham. Xưa cụ Lê Quý Đôn nói đi “bốn trống canh” nhưng bây giờ chỉ chừng nửa giờ, Lý Sơn đã hiện ra như con cá lớn đang giương vây trên mặt biển ( Lý Sơn nghĩa là đảo Cá chép chăng?!). Ngoài đảo lớn với hai xã An Vĩnh và An Hải, Lý Sơn còn có đảo Bé nay là xã An Bình và hòn Mù Cu không có người ở.

Chúng tôi nghỉ ở Khách sạn Lyson Central, nhìn thẳng ra cầu tàu tấp nập tàu bè của ngư dân cập bến mỗi buổi ban mai và tàu chở khách du lịch liên tục vào ra. Trò chuyện làm quen với cô gái tiếp tân xinh xắn, là dân làng An Vĩnh,  mới biết trong dịp nghỉ lễ 30/4 vừa qua, có hơn 10 nghìn khách du lịch đến Lý Sơn. Lượng khách đến Lý Sơn hiện nay chiếm 1/4 lượng khách đến Quảng Ngãi.

Khách ra thăm Lý Sơn ngày càng đông có nguyên do. Nếu nhìn vào biểu đồ du lịch Lý Sơn 10 năm qua ta thấy rõ điều gì hấp dẫn nhất ở Lý Sơn. Năm 2007, tỉnh Quảng Ngãi khai trương tuyến du lịch “Biển đảo Lý Sơn”, giới thiệu các điểm du lịch theo tuyến chùa Hang, đình làng An Hải, chùa Đục, Miệng núi lửa, Di tích lịch sử Hải đội Trường Sa – Hoàng Sa, Âm Linh Tự và một số ngôi nhà cổ, tính ra đến cả trăm di tích, cơ sở thờ tự. Tuy nhiên, du khách vẫn không mấy chú ý đến hòn đảo nho nhỏ ở tỉnh Quảng Ngãi kẹt giữa Quảng Nam phía Bắc và Bình Định phía Nam vốn nhiều tiềm năng du lịch.

Một thoáng đảo Bé, Lý Sơn

 

Năm 2015, du lịch Lý Sơn tăng đột biến, có  bài báo nói du lịch Lý Sơn phát triển theo chiều thẳng đứng, với hơn 95.000 lượt khách, trong đó có hơn 600 lượt khách quốc tế. Với đà đó, các năm tiếp theo 2016, Lý Sơn thu hút 165.000 lượt khách và 2017 tăng lên 210.000 lượt khách.

Căn nguyên của sự đột biến năm 2015 liên quan đến sự kiện ngày 2/5/2014, Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan Hải Dương 981 tới vị trí  cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía Nam, cách đảo Lý Sơn khoảng 120 hải lý về phía Đông. Đây là vị trí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Để bảo vệ giàn khoan tỉ đô này, Trung Quốc huy động tới 80 tàu thuyền các loại, trong đó có  tàu hộ vệ tên lửa, tàu tuần tiễu, tên lửa tấn công nhanh, tàu hải cảnh, cùng nhiều tàu vận tải thường xuyên lượn lờ quanh giàn khoan.

Sự kiện này gây làn sóng phẫn nộ đối với người dân Việt Nam. Ngày 11/5/2014, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar, Thủ tướng Việt Nam tố cáo Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu vào vùng biển Việt Nam và kêu gọi sự ủng hộ của quốc tế.

Ngày 20/5/2014, phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hiệp Quốc tại Geneve đã gửi thông cáo đến Văn phòng Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác cũng như các cơ quan báo chí có trụ sở tại Geneve, về sự kiện “Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông”.

Cộng đồng quốc tế đã có những phản ứng quyết liệt trước cách hành xử ngang ngược của Trung Quốc. Ở trong nước, dư luận Trung Quốc cũng xuất hiện ngày càng nhiều tiếng nói phản đối hành vi của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng.

Trước những sức ép đó, Trung Quốc đã phải rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển Việt Nam, sau 75 ngày hạ đặt trái phép.

Sự kiện ấy thôi thúc mỗi người dân Việt Nam ý thức rõ hơn về bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc và Lý Sơn, quê hương của những hùng binh hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, thực hiện chủ quyền quốc gia ở Biển Đông, ở Hoàng Sa, Trường Sa – thu hút sự quan tâm đặc biệt. Ai cũng muốn một lần đặt chân lên mảnh đất lịch sử, còn ghi dấu bi hùng về các ngư dân can trường, quả cảm năm xưa.

Hoàng Sa trời nước mênh mông…

Là một đảo nhỏ, diện tích đảo lớn chỉ hơn 10 km2 nhưng Cù lao Ré có vị trí đặc biệt, như dấu gạch ngang giữa đất liền và quần đảo Hoàng Sa. Vì thế từ thời các Chúa Nguyễn, có lẽ là thời Chúa Sãi – Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635) đến triều vua Tự Đức (1847 – 1883), ngư dân trên đảo phải gánh vác một nhiệm vụ gian nan là cử người tham gia đội Hoàng Sa theo lệnh triều đình đi tuần tra trên biển, thu nhặt tài nguyên, đo vẽ bản đồ, xây dựng miếu thờ, dựng cột mốc chủ quyền ở Hoàng Sa.

Mô hình thuyền câu của Đội Hoàng sa năm xưa tại Nhà trưng bày.

 

Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi và Nhà trưng bày Đội Hoàng Sa – Bắc Hải trên đảo Lý Sơn trưng bày nhiều hiện vật liên quan đến đội Hoàng Sa, hiện vật gây xúc động nhất là hành trang của mỗi binh phu ngoài lương thực, còn có một đôi chiếu cói, bảy nẹp tre, bảy đoạn dây mây, một thẻ bài ghi rõ họ tên, quê quán, phiên hiệu. Đây là những hành trang không ai muốn phải dùng đến, bởi nếu không may tử nạn, thi thể họ sẽ được cuốn chiếu, trong đó có thẻ bài, bó nẹp tre bằng dây mây thật chắc chắn rồi thả xuống biển để thủy táng với hy vọng mong manh thi thể có thể trôi về Lý Sơn.

Mỗi người binh phu ra đi là đối diện với hiểm nguy, ra đi có thể không trở về và nhiều người đã không trở về. Dân đảo Lý Sơn có những câu hát: “Hoàng Sa trời nước mênh mông/ Người đi thì có mà không thấy về” rồi “ Hoàng Sa mây nước bốn bề/ Tháng Hai khao lề, thế lính Hoàng Sa” hay “Hoàng Sa đi có về không/ Lệnh Vua nên phải quyết lòng ra đi”.

Ngồi trò chuyện với bô lão Lý Sơn ở đình An Hải, nhìn ra biển xanh mênh mông, tôi hình dung nơi đây mấy trăm năm trước diễn ra những cuộc tiễn đưa binh phu lên đường bằng lễ khao lề thế lính thật bi tráng, biết bao người mẹ, người vợ đẫm lệ tiễn chồng, tiễn con ra đi làm việc nước.

Mỗi đội Hoàng Sa có 70 người, đứng đầu là một viên Cai đội. 70 người đi trên 5 chiếc ghe câu. Đây là loại ghe chiều dài chừng 12 m, có hai cột buồm. Theo Võ Minh Tuấn, một người con của Lý Sơn, tác giả cuốn sách Đảo Lý Sơn – những góc nhìn từ biển thì thời các Chúa Nguyễn binh phu được chiêu mộ từ các xã An Vĩnh, An Hải của phủ Bình Sơn trong đất liền và dân hai phường An Vĩnh, An Hải của Lý Sơn. Đến triều Nguyễn thì đội Hoàng Sa chỉ lấy từ dân trên đảo. Theo gia phả các dòng tộc có người đi lính Hoàng Sa thì triều đình miễn cho dân đinh là trưởng tộc, trưởng chi để họ lo việc thờ phụng tổ tiên.

Đầu thế kỷ XIX, dưới triều vua Gia Long, nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa được tăng thêm là xem xét và đo đạc thuỷ trình. Từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Đại Nam thực lục chính biên cho hay, Vua y theo lời tâu của Bộ Công sai Suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm mốc dấu. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bia khắc những chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, Thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét, đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ”. Nhân đó, theo đề nghị của bộ Công, kể từ năm 1836 trở đi, hàng năm vào cuối tháng Giêng sẽ phái biền binh, thủy quân và vệ giám thành ra Hoàng Sa để khảo sát, vẽ bản đồ đem về.

Không biết Phạm Hữu Nhật dẫn đội Hoàng Sa đi bao nhiêu chuyến, chỉ biết rằng chuyến đi năm 1854 ông đã hy sinh ngoài đảo Hoàng Sa. Gia tộc đã lập mộ chiêu hồn (mộ gió) cho ông dưới chân núi Hòn Vung và đời sau lấy tên ông đặt cho một hòn đảo thuộc nhóm Lưỡi Liềm ở Hoàng Sa.

Có người cho hay, Lý Sơn có khoảng 100 ngôi mộ gió, để hương khói những người ra đi không trở về. Nỗi đau thương, mất mát ấy thời gian như gió đã cuốn đi, nhưng mỗi ngôi mộ gió là một biểu tượng nghiệt ngã của biển cả bao la, đầy hiểm nguy, trắc trở mà ngư dân trên đảo phải gánh chịu.

Chính vì sự hiểm nguy đó mà ngày tiễn các binh phu ra đi, các dòng họ và dân làng tổ chức Lễ Khao lề thế lính. Lề có nghĩa là lệ, thực hiện lệ bày tiệc tiễn đưa và thế lính là làm hình nhân thế mạng, để cầu xin thần linh phù hộ cho những người ra đi được bình an trở về. Khi Đội Hoàng Sa không còn hoạt động thì lễ này là Khao lề tế lính – cúng tế tưởng niệm những binh phu năm xưa.

Cư dân trên đảo hiện còn thờ phụng các nhiều vị Cai đội Hoàng Sa  như Võ Văn Khiết, Võ Văn Phú, Vũ Văn Hùng, Phạm Hữu Nhật, Phạm Quang Ảnh… nay là phúc thần của Lý Sơn.

Những hoạt động của đội Hoàng Sa, thành phần là ngư dân giỏi nghề biển của Cù lao Ré mấy trăm năm qua không chỉ được biên chép trong chính sử, châu bản triều Nguyễn, thư tịch của người Việt mà cả trong sách của người nước ngoài. Sách Hải ngoại kỷ sự của Hòa thượng Trung Hoa Thích Đại Sán viết năm 1696; sách Mô tả xứ Đàng Trong của giáo sĩ kiêm thương gia Pháp Piere Poivre (1719-1786); Một chuyến du hành tới Đàng Trong của John Barow – Anh, ghé qua Quảng Nam (1793)… đã phản ánh về hoạt động của hải đội Hoàng Sa.

Đó là những bằng chứng lịch sử hùng hồn và sống động về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. GS. Carlyle Thayer, Học viện Quốc phòng Australia nhận định:  “Trung Quốc cho rằng, họ có bằng chứng không thể chối cãi về việc Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước này. Tuy nhiên, những tài liệu về Đội Hoàng Sa cho thấy, chủ quyền về Hoàng Sa mà Trung Quốc từng tuyên bố là vấn đề còn tranh cãi. Trong khi đó, quan điểm của Việt Nam có cơ sở vững chắc. Đội Hoàng Sa có chức năng kinh tế, quốc phòng. Vào thời điểm đó, cách thức để duy trì việc quản lý chủ quyền là thông qua các cuộc thăm viếng thường xuyên để quản lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ đảo. Và Đội Hoàng Sa của Việt Nam đã thực hiện các chức năng này”.

Sự hy sinh thầm lặng của cư dân trên đảo mấy thế kỷ qua, ngày nay trở thành những nền tảng pháp lý quan trọng khẳng định, Việt Nam đã thụ đắc chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa theo đúng các quy tắc của luật pháp quốc tế áp dụng vào thời điểm đó để đấu tranh bảo vệ, gìn giữ biển đảo thân yêu của Tổ quốc.

Đau đáu Hoàng Sa

Sau khi thăm chùa Hang – Thiên Khổng Thạch tự, lên đỉnh Thới Lới bao quát toàn bộ vùng biển đảo, chúng tôi đến thăm đình An Hải. Ngôi đình được xây dựng năm Minh Mạng thứ nhất (1820) qua nhiều lần tu bổ vẫn còn nguyên kiến trúc ban đầu. Đình là ba tòa nhà kiểu chữ Tam nối với nhau bằng máng xối. Từ ngoài bước vào ta thấy ngay bức hoành đề ba chữ An Long Đình và nhiều đối liễn khảm trai, trong đó có đôi câu đối “An Hải hội tài nguyên, khoái đổ hương lư đào phú thứ/ Lý Sơn khai bút mạch, hoan chiêm khoa giáp triệu trinh tường” tạm hiểu là: An Hải hội tụ tài nguyên, vui sướng thấy làng xóm trở nên giàu có, đông đúc/ Lý Sơn đã được khai nguồn học vấn, hân hoan thấy khoa giáp báo điềm tốt lành. Tòa trong cùng thờ Thành hoàng không có bài vị, trên tường có chữ Thần, hai bên là tả ban, hữu ban. Đình trung thờ Hội đồng và các vị tiền hiền. Đình hạ đặt long đình.

Nội thất đình An Hải

 

Ông Nguyễn Văn Thọ, 70 tuổi, người trông giữ đình 14 năm qua, dẫn tôi đi thăm đình và bày tỏ niềm tự hào vì nhiều vị lãnh đạo cao cấp đã đến thăm viếng ngôi đình này, khi vấn đề chủ quyền biển đảo được cả nước quan tâm. Hai năm nay, đảo có điện lưới, đình sáng điện cả đêm, ông vui lắm.

Ngồi ngắm biển trước sân đình, dưới tán phi lao vi vút, ông cụ Trương Đình Toàn, 75 tuổi, dáng vẻ quắc thước, bắt tay rất chặt, thì nhiều tâm tư. Gia đình ông không có truyền thống đi biển, dù sống trên đảo nhưng chỉ làm nghề nông. Bây giờ cũng vậy, bảy người con ông đều đi làm thuê làm mướn trong Thành phố.

-Như vậy là khỏe, không phải phiền Biên phòng đi đón về, không phải lo nộp tiền chuộc cho Trung Quốc hay lo Ngân hàng xiết nhà – ông nói như dằn dỗi.

Để tôi hiểu rõ ý ông Toàn, anh Đặng Phụ, 47 tuổi, ngồi cạnh cho hay, anh đã nhiều năm theo tàu đi đánh bắt ở Hoàng Sa. Chừng 20 năm trước thì tàu cá của ta vẫn lên đảo Hoàng Sa bình thường, có Trung Quốc ở đó nhưng họ có vẻ e ngại Việt Nam. Nhưng từ năm 2005-2006 thì Trung Quốc có thái độ hung hăng, ngăn cản, bắt giữ tàu cá của mình. Phụ từng bị Trung Quốc bắt đưa về đảo Hải Nam đòi tiền chuộc, chủ tàu hồi đó phải nộp 10.000 USD.

Khi Việt Nam đấu tranh mạnh thì nó không bắt giữ tàu đòi tiền chuộc mà chuyển sang xua đuổi, hành hung. Bọn chúng có vũ khí, lên tàu mình nó phá hết ngư cụ máy móc, chỉ để lại cái la bàn. “Mình chống lại sao được nó, nhiều người đã bị đánh đập rồi. Uất ức ghê lắm anh à” – Đặng Phụ ngó ra biển mênh mông, giọng buồn thiu.

-Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, sao Trung Quốc chiếm đảo, cấm ta đánh cá? Bà con ngư dân thì chống sao được… Chuyện này phải Trung ương mới lo nổi. Ông Trương Đình Toàn nói gay gắt.

-Mới đây nè, hôm 18/5, anh Lê Hơn của An Hải đây, là chủ tàu QNg 96798 TS bị tàu Trung Quốc tông chìm khi đang khai thác rong biển ở Hoàng Sa. Do bị tàu Trung Quốc đâm thẳng vào giữa mạn trái khiến thân tàu cá của anh Hơn bị lật úp và chìm. Trung Quốc vớt anh em lên tra hỏi, lập biên bản. Mấy ngày sau họ mới bàn giao anh em cho tàu Cảnh sát biển Việt Nam đưa về. Tàu chìm, tài sản của gia đình anh Hơn trị giá hơn 1,5 tỉ đồng mất sạch rồi. Vậy là nợ nần, túng thiếu. Anh Phụ cho hay.

Từ trái qua, anh Đặng Phụ, ông Trương Đình Toàn và tác giả.

 

Đặng Phụ bây giờ bỏ nghề đi biển quá nhiều hiểm nguy, hàng ngày anh chạy ca nô phục vụ khách du lịch sang đảo Bé để mưu sinh. Nhiều ngư dân khác cũng đành bỏ những chuyến tàu đánh bắt xa bờ đã từng là lẽ sống của họ. Phải xa Hoàng Sa, mỗi ngư dân Quảng Ngãi, Lý Sơn đều thấy xót xa, khắc khoải trong lòng. Có người nói, ngư dân Lý Sơn đi Hoàng Sa, Trường Sa là về với mảnh đất của cha ông từ bao đời trước. “Trên quần đảo Hoàng Sa có các đảo mang tên các ông cai đội Hoàng Sa như Quang Ảnh, Hữu Nhật. Chính vì vậy, ra tới nơi, ngư dân chúng tôi đều cáo lạy tổ tiên!”.

Lắng nghe câu chuyện của các ngư dân nơi đây tôi mới hiểu nguyên nhân của tình trạng thiếu nhân lực đi biển hiện nay. Báo Quảng Ngãi ngày 9/4/2018 phản ánh: Quảng Ngãi hiện có 5.720 tàu cá, trong đó có 3.592 tàu cá trên 90 CV đánh bắt xa bờ. Trong khi đó, số lao động trực tiếp tham gia sản xuất trên biển chỉ khoảng 38.000 người, nên nhiều tàu không đủ lao động để ra khơi.

Nhớ hình ảnh lũ trẻ hồn nhiên đá bóng dưới chân tượng đài Hải đội Hoàng Sa, có dòng chữ ghi lời vua Minh Mạng: “Bản quốc hải cương Hoàng Sa, tối thị hiểm yếu” tôi thầm nghĩ không biết dăm bảy năm nữa, những cậu bé này có bám biển nữa không, có tha thiết với Hoàng Sa như tổ tiên họ nữa hay không… Lớp trẻ ngày nay đã không mặn mà với biển do hiểm nguy nhưng thu nhập thấp, họ vào thành phố, học hành để có nghề tốt hơn, người ít học thì làm thuê làm mướn. Những người như ông Trương Đình Toàn, như ngư dân Đặng Phụ hàng ngày ngồi day mặt ra phía biển, nơi đó có Hoàng Sa, khắc khoải nghe câu “Chiều chiều ra ngóng biển xa/ Ngóng người đi lính Hoàng Sa chưa về”, ai đó ngâm ngợi trong gió biển xôn xao.

 

Trẻ em nô đùa dưới chân Tượng đài hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.

 

Trở về thành phố Quảng Ngãi, tôi thấy trên đường phố trung tâm có tấm pano lớn vẽ hình những con tàu đánh cá lướt sóng trên nền quốc kỳ với khẩu hiệu: “Mỗi con tàu là cột mốc biên cương”. Làm gì để những cột mốc biên cương ấy đủ mạnh để vượt qua sóng dữ và hiểm nguy, thanh bình thả lưới quanh quần đảo Hoàng Sa thân yêu của Tổ Quốc là câu hỏi day dứt đối với mỗi chúng ta.

 

 

Bình luận (0)