Ngôi đền thiêng trên núi Mộ Dạ

NGUYỄN PHAN KHIÊM - Từ tuổi ấu thơ, địa danh “Mộ Dạ” xa xôi, nơi cha con vua An Dương Vương bị quân Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng truy đuổi đến cùng đường, đã in dấu vào tâm hồn non nớt của mỗi học trò. Vì thế, có chuyến công tác Nghệ An, một trong những danh lam chúng tôi muốn đến là đền Cuông, bên sườn núi Mộ Dạ…

27 tháng 07 năm 2019 07:25 GMT+7    1 Bình luận

1.
Đền Cuông tọa lạc tại núi Mộ Dạ, xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An bên quốc lộ 1A. Phía sau núi là biển, có cửa Hiền tương truyền có ngôi mộ của Công chúa Mỵ Châu, nhân dân vẫn hương khói. Xưa kia núi Mộ Dạ có nhiều chim công (khổng tước) nên dân gian gọi là núi Công, tiếng địa phương phát âm là Cuông, lâu dần thành tên.

Người Việt Nam nào chắc cũng biết truyền thuyết An Dương Vương có nỏ thần, Triệu Đà không địch nổi, bèn vờ hòa hiếu, xin kết thông gia. Trọng Thủy, con Triệu Đà sang ở rể. Mỵ Châu tin chồng nên cho xem nỏ thần. Thủy biết được bí mật rồi tìm cách đánh cắp lẫy nỏ thần, thay vào đó là lẫy giả. Thủy về nước rồi Triệu Đà mang quân sang đánh Âu Lạc. Loa Thành bị chiếm, An Dương Vương cùng con gái lên ngựa chạy miết về phương Nam, quân Triệu theo dấu lông ngỗng của Mỵ Châu truy đuổi. Đến núi Mộ Dạ cùng đường, thần Kim Quy hiện lên và nói: “Giặc ngồi sau lưng nhà vua đó”. Vua tỉnh ngộ bèn rút gươm chém Mỵ Châu rồi đi xuống biển. Cái kết cục bi thương của nhà vua và cái chết đau xót của cô Công chúa ngây thơ, trong sáng ám ảnh chúng ta.

Cổng vào đền sững sững với dãy trụ hoa biểu, tạo giới hạn không gian thiêng, cách biệt với quốc lộ ồn ào và cũng là để khách hành hương dọn mình, tĩnh tâm trước khi vào chiêm bái. Qua khoảng sân rộng là đến hàng trụ hoa biểu thứ hai, bức tường kết nối hai trụ hai bên đắp hình ngựa bạch và ngựa hồng chầu vào trung tâm. Qua khoảng sân nữa là đến bức bình phong hình cuốn thư lớn, chính giữa gắn tấm bia đá “An Dương Vương từ bi ký” dựng năm Tự Đức, Giáp Tuất 1874.

Hai bên là lối lên đền với chừng 30 bậc trong bóng cây cổ thụ rợp mát. Cổng tam quan đồ sộ với cửa chính lớn, phía trên là lầu tám mái, xung quanh là những trụ hoa biểu bề thế. Trên trán tam quan có bốn chữ Hán “Quốc tế thượng từ”, nghĩa là đền cấp quốc gia cúng tế.

Viêm phương triệu tích, do Phạm Phú Thứ cung tiến

Cổng giữa chỉ những ngày đại lễ mới mở, chúng tôi qua cổng bên cạnh để vào đền. Mặt trong của tam quan, đề bốn chữ “Mặc nhiên thanh cao”. Tòa hạ điện, chính giữa treo bức hoành phi “Viêm phương triệu tích”, nghĩa là dấu tích khởi đầu phương Nam do Hải An tổng đốc Phạm Phú Thứ (1821-1882), vị Tiến sĩ, đại thần của Nhà Nguyễn, người có tư tưởng canh tân đất nước, cung tiến năm Ất Hợi 1875, Tự Đức 28. Như vậy, Phạm Phú Thứ đến thăm viếng nơi này trong giai đoạn đất nước cam go, ông đã cùng Phan Thanh Giản, Ngụy Khắc Đản tham gia thương thảo với thực dân Pháp nhưng không thành, chúng đã chiếm cả lục tỉnh Nam Kỳ và tấn công ra Bắc, chiếm thành Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định… Để khích lệ người dân, nhắc nhở bài học mất nước nên ông cho làm bức hoành phi này chăng?!

2.
Tiếp sau nhà nước Văn Lang của nền văn hóa Đông Sơn là đến nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương – Thục Phán. Các sử gia ngày nay nhận định quốc gia Âu Lạc ra đời là kết quả của quá trình dung hợp hòa bình, tuy không tránh khỏi có những xung đột của hai tộc Tây Âu và Lạc Việt. Hai tộc này đã cùng giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết chống lại sự uy hiếp mạnh mẽ của thế lực ngoại bang. Âu Lạc là sự kế thừa và phát triển cao hơn trên cơ sở nước Văn Lang thời Hùng Vương.

Một hiện vật mới được trưng bày tại đền Hạ là con chim hạc dạng tiêu bản đặt trong hộp kính son son thếp bạc. Trò chuyện với các nhân viên ngành văn hóa quản lý đền, chúng tôi biết rằng, một thời gian dài chiến tranh, đền bị hư hại và hoang phế. Mãi đến năm 1990 đền mới bắt đầu được trùng tu và đến năm 1995, lễ hội đền Cuông mới được phục dựng sau mấy chục năm gián đoạn, trong niềm vui khôn tả của người dân Nghệ An. Đúng ngày khai mạc lễ hội năm 1995 đó, một con hạc lớn từ đâu bỗng bay về đậu trên tay một người đang cưỡi ngựa biểu diễn trong đoàn diễu hành. Mặc dù hàng ngàn người đông đúc nhưng chim hạc không bay đi mà liên tục xòe cánh, khoe vẻ đẹp cao quý, hòa với niềm vui của lễ hội. Người dân địa phương tin rằng hạc trắng là hiện thân của Công chúa Mỵ Châu hiển linh, nên đưa hạc vào đền cho đậu ở nơi trang trọng. Nhân dân đến chiêm bái rất đông. Lễ hội kết thúc, hạc cũng tự nhiên chết. Sau khi bàn bạc, nhân dân Nghệ An đã mang hạc ra Hà Nội làm tiêu bản và để trong lồng kính từ đó đến nay. Và cũng từ đó, đền Cuông như linh thiêng trở lại, trở thành điểm hành hương hàng đầu ở Nghệ An.

Bàn thờ Công chúa Mỵ Châu

Xem ra hậu thế không ngừng cảm thông và chiêu tuyết cho Mỵ Châu. Công chúa trong sáng, ngây thơ, là nạn nhân của những thủ đoạn thâm độc của kẻ thù và lơ là, mất cảnh giác của người lớn đấy thôi. Ở khu di tích Cổ Loa, đền thờ Mỵ Châu hiện vẫn có đôi câu đối:

Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt
Linh quang vạn cổ đẳng càn khôn

Tạm hiểu là: Tấm lòng trung tín với đất nước của Công chúa sáng như mặt trăng, mặt trời/ Ánh sáng thiêng vạn năm còn sánh cùng trời đất. Hai chữ “trung tín” chắc tác giả lấy từ Đại Việt sử ký toàn thư : “Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng: “Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này”. Cuối cùng vua vẫn chém Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng, hóa thành hạt minh châu”.

3.
Qua đền Hạ, là đến đền Trung liền kề. Hai bên cửa đền Trung có phù điêu hai vị quan văn lớn, gương mặt khắc khổ, u buồn, mặc áo thụng xanh đứng trang nghiêm. Gian giữa đền thờ tướng quân Cao Lỗ, tương truyền ông là người Gia Bình, Bắc Ninh, vị tướng tài của An Dương Vương, người chế ra nỏ liên châu, bắn được nhiều mũi tên một lúc, được tôn vinh là nỏ thần. Ông cũng là người thiết kế và tổ chức thi công thành Cổ Loa.

Gian bên phải thờ Công chúa Mỵ Châu, pho tượng Công chúa ngồi trong khám, dáng vẻ cao quý, trong sáng, đôn hậu ( khác với Cổ Loa thờ khối đá hình người cụt đầu). Gian bên trái có bài vị thần Kim Quy, vị thần giúp An Dương Vương diệt trừ yêu quái để xây Loa thành và cho mượn móng làm lẫy nỏ thần.

Vén màn sương mù huyền thoại phủ lên hiện thực, các nhà khoa học ngày nay đã chứng minh rằng “nỏ thần” thời An Dương Vương chính là vũ khí được chế tạo với trình độ kỹ thuật cao, với mũi tên đồng, rìu, giáo, qua đồng lợi hại. Năm 1959 tại Cầu Vực, Cổ Loa, các nhà khảo cổ đã phát hiện một kho mũi tên đồng chưa tra cán, số lượng lên đến hàng vạn mũi. Đến năm 2005, các nhà khảo cổ lại tìm thấy những khuôn đúc ba mang để đúc những mũi tên đồng ba cạnh độc đáo.

Một thế mạnh nữa khiến Triệu Đà luôn thất bại trước quân dân Âu Lạc, đó chính là Loa Thành “rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc … nhà Đường gọi là Côn Lôn, vì thành rất cao”. Khảo cổ ngày nay xác định Loa Thành có ba vòng thành khép kín, vẫn còn dấu vết, với chu vi lên đến 16 km… Cả ba vòng thành đều có ngoại hào, nối liền với nhau và thông với sông Hoàng Giang, tạo thành một hệ thống hào – sông rất thuận tiện giao thông thủy. Bên cạnh đó là các công sự chiến đấu, hệ thống lũy và những ụ đất khiến nơi đây là một phòng tuyến bảo vệ thành, vừa công vừa thủ rất hợp lý. Khi có chiến sự nổ ra, quân thủy có thể men theo sông Hoàng Giang sang sông Cầu hoặc sông Hồng tiến vào châu thổ hoặc ra biển.

Thế mạnh thứ ba chính là số quân rất đông, theo Việt sử lược, An Dương Vương huấn luyện được đội quân lên đến một vạn người.

Hơn nữa, Âu Lạc lúc đó có tiềm lực kinh tế phát triển, nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng sông Hồng và sông Mã mang lại nguồn lương thực lớn, hàng năm số lượng tích trữ dồi dào nên “thực túc, binh cường”.

Nhờ những sức mạnh tổng hợp đó, Âu Lạc ngạo nghễ, vững vàng trước những cuộc tấn công, uy hiếp của quân Triệu Đà.

4.
Đền Thượng cao hơn hẳn và cách đền Hạ và đền Trung một khoảng sân. Đây là nơi thờ An Dương Vương. Bức cuốn thư đắp trên cửa chính có ba chữ “Cao phối thiên” ý nói công đức của Vương cao ngang trời. Ngắm nhìn đền Thượng nằm tách biệt, tựa lưng vào núi trong bóng chiều vắng lặng, tôi chợt cảm thấy nỗi cô đơn thăm thẳm của An Dương Vương. Ông đã mất cảnh giác, đã có những sai lầm dẫn đến mất nước, để lại nỗi ngậm ngùi ngàn thu không thể lãng quên.

Đền Thượng thờ An Dương Vương

Sử sách còn ghi, sau khi dùng vũ lực đều không hạ được quân Âu Lạc, Triệu Đà cho rút quân về núi Vũ Ninh, huyện Quế Võ, Bắc Ninh ngày nay và dùng thủ đoạn giảng hòa, hai bên hòa hiếu, với mục đích cài người vào kinh thành Cổ Loa, làm gián điệp điều tra hệ thống phòng thủ, tìm hiểu bí mật quân sự và nhất là vũ khí của Âu Lạc. An Dương Vương đã mắc mưu gian. Trọng Thủy với sứ mạng được giao lại được tiếp nhận vào hoàng gia với địa vị phò mã của Công chúa Mỵ Châu thì còn có sơ hở nào hơn.

Không biết cuộc hôn nhân kéo dài bao lâu thì Trọng Thủy hoàn thành sứ mạng, Đại Việt sử ký toàn thư có ghi rằng: Đà mang quân đến đánh. An Dương Vương không biết nỏ thần đã mất, ngồi đánh cờ cười mà bảo: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?”. Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy về phía Nam.

Các sử gia ngày nay nhận định: An Dương Vương đã “ngủ quên trên chiến thắng”, xa rời nhân dân, không tăng cường khối đoàn kết trong nội bộ triều đình. Vua đam mê hưởng thụ, khi giặc đánh đến nơi vẫn ung dung ngồi đánh cờ, có sách còn chép vua đang say rượu chưa tỉnh. Nhiều tướng lĩnh tài giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán… người thì bị bạc đãi, người thì bị sát hại, hoặc bất mãn giã từ triều đình ra đi. Thêm vào đó, Triệu Đà dùng nhiều thủ đoạn thâm độc như hối lộ, gây bất hòa, chia rẽ vua tôi Âu Lạc, trong khi An Dương Vương mất cảnh giác, dẫn đến mất nước.

Hai bên cửa chính đền Thượng có đôi câu đối: “Âu Lạc thiên thu khai đế quốc/ Mộ sơn vạn cổ ngưỡng thần từ”, tạm hiểu là: Nước Âu Lạc mở ra quốc gia trường tồn/ Núi Mộ Dạ có đền thiêng muôn năm ngưỡng mộ.

Chữ Mộ trên câu đối có nghĩa là chiều tối, hoàng hôn. Phải chăng chữ Dạ có nghĩa là ban đêm, là bóng tối. Tên ngọn núi này hậu thế đặt sau kết cục bi thảm của cha con An Dương Vương chăng? Quả thật, thất bại của An Dương khiến Âu Lạc bị sáp nhập vào nước Nam Việt của Triệu Đà. Đến năm 111 TCN, khi Nam Việt bị nhà Tây Hán thôn tính thì toàn bộ Âu Lạc cũng trở thành quận huyện thuộc Hán. Nhân dân Âu Lạc hùng mạnh năm xưa phải sống trong đêm trường tăm tối của cảnh nước mất nhà tan, kéo dài đẵng đẵng 1000 năm Bắc thuộc. Sử gia Ngô Thì Sĩ đã nhận định: “Nước ta nội thuộc Trung Hoa từ Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chính là Triệu Đà”.

Bởi bài học giữ nước ngàn năm còn nóng hổi nên đền Cuông mãi mãi linh thiêng. Khí thiêng ấy phải chăng chính là bài học cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù luôn rình rập non sông, đất nước ta.

Bình luận (1)
  1. Suy luận về tên núi Mộ Dạ rất là hay.

    Ngô Đình Trai 09:07 27/07.2019 GMT+7 Trả lời