Một số ý kiến về viết bản án hình sự sơ thẩm

TRẦN HÙNG - Soạn thảo bản án hình sự sơ thẩm là công việc thường xuyên của Thẩm phán và những người được giao soạn thảo bản án. Bản án hình sự sơ thẩm là sản phẩm thể hiện kết quả toàn bộ hoạt động tố tụng của Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi tuyên án. Thực tiễn cho thấy hiện nay việc viết bản án vẫn còn xảy ra nhiều sai sót. Qua nghiên cứu các quy định về viết bản án hình sự sơ thẩm xin nêu một số nội dung nhằm hoàn thiện vấn đề viết bản án...

15 tháng 08 năm 2018 07:34 GMT+7    1 Bình luận

Bản án hình sự sơ thẩm là văn bản tố tụng đặc biệt của Toà án nhân danh nước CHXHCN Việt Nam kết thúc hoạt động xét xử xác định bị cáo có tội hay không có tội quy định trong BLHS, xác định trách nhiệm pháp lý của bị cáo với Nhà nước cụ thể hoá bằng hình phạt quy định trong BLHS, xác định trách nhiệm của bị cáo với bị hại (nếu có) và các thành phần khác cụ thể hoá bằng mức bồi thường thiệt hại quy định trong BLDS. Bản án hình sự sơ thẩm khi được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì những quyết định trong bản án đưa đến hậu quả pháp lý rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của những người bị buộc tội và những chủ thể khác có liên quan thể hiện tại Điều 31 Hiến Pháp, Điều 14 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, các Điều 13, 14 BLTTHS. Vì vậy việc soạn thảo bản án nhằm phản ánh khách quan, toàn diện, đầy đủ vụ án là một yêu cầu rất quan trọng, thực tiễn cho thấy hiện nay việc viết bản án vẫn còn xảy ra nhiều sai sót. Qua nghiên cứu các quy định về viết bản án hình sự sơ thẩm và các bản án xin nêu một số nội dung nhằm hoàn thiện vấn đề viết bản án hình sự sơ thẩm như sau:

  1. Phần mở đầu.

– Phải ghi đầy đủ tiền án, tiền sự của bị cáo.

– Trường hợp bị hại chết thì trong phần đầu của bản án vẫn ghi căn cước của bị hại. Không ghi lý lịch của bị hại đã chết trước đại diện hợp pháp của bị hại.

– Trước khi mở phiên tòa, gia đình bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên tòa, đại diện gia đình bị cáo không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền mà gia đình đã ứng ra để bồi thường thì không xác định đại diện gia đình bị cáo là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà xác định những người này với tư cách là người làm chứng.

– Trường hợp bị hại nằm viện, được người thân chăm sóc và họ yêu cầu bồi thường tiền công chăm sóc thì trong bản án không xác định người chăm sóc này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì khoản thu nhập thực tế của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị được tính để bồi thường cho bị hại, do vậy cần xác định người chăm sóc cho bị hại là người làm chứng.

– Đối với trường hợp “Việc vắng mặt của những người làm chứng trong vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử do Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ” được xem xét giải quyết trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa và được ghi vào biên bản phiên tòa mà không ghi ở phần nhận định của Tòa án.

– Trường hợp người mua tài sản sau khi biết số tài sản đã mua là tài sản trộm cắp và đã giao cho Cơ quan Công an, không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã mua tài sản thì cần xác định người mua tài sản đó là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đồng thời không tịch thu số tiền mà người mua tài sản không đòi của bị cáo, vì đây là quan hệ dân sự.

  1. Phần nội dung.

Khi viết phần nội dung vụ án không ngắt đoạn theo từng vấn đề vì rất khó xác định rõ hành vi phạm tội của bị cáo. Ghi tóm tắt hành vi phạm tội của bị cáo được mô tả trong bản cáo trạng, mặc dù là tóm tắt, nhưng phải thể hiện được đầy đủ về thời gian, không gian, địa điểm thực hiện tội phạm, diễn biến hành vi phạm tội, động cơ, mục đích, thủ đoạn của người phạm tội và hậu quả của tội phạm; ý kiến, quan điểm của KSV về nội dung truy tố bị cáo theo cáo trạng (