Tòa án nhân dân cấp tỉnh không được chuyển vụ việc đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 về Tòa án nhân dân khu vực

Qua nghiên cứu bài viết “Có được chuyển vụ, việc dân sự đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025 cho Tòa án nhân dân khu vực tiếp tục giải quyết hay không?” của tác giả Nguyễn Quảng Ninh và Lê Thị Phương Loan đăng ngày 29/7/2026; đối với 02 quan điểm được nêu trong bài viết, tôi đồng ý với quan điểm thứ hai của tác giả: Tòa án nhân dân cấp tỉnh không được chuyển vụ việc đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 về Tòa án nhân dân khu vực.

Đặt vấn đề

Từ ngày 01/7/2025, hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo mô hình mới, trong đó Tòa án nhân dân khu vực thực hiện thẩm quyền sơ thẩm đối với phần lớn các vụ án, vụ việc dân sự. Cùng với đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức và phân định thẩm quyền mới.

Việc chuyển đổi này đặt ra vấn đề cần được thống nhất trong thực tiễn: Đối với vụ án, vụ việc dân sự đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong, nếu theo quy định mới vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có được chuyển vụ việc đó về Tòa án nhân dân khu vực để tiếp tục giải quyết hay không?

Thực tiễn xuất hiện hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Tòa án nhân dân cấp tỉnh được chuyển vụ việc về Tòa án nhân dân khu vực nếu theo quy định mới Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền; việc chuyển trong phạm vi cùng tỉnh; các đương sự có yêu cầu và không phát sinh tranh chấp về thẩm quyền.

Quan điểm thứ hai cho rằng, Tòa án nhân dân cấp tỉnh không được chuyển vụ việc đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 về Tòa án nhân dân khu vực, mà phải tiếp tục giải quyết theo quy định chuyển tiếp tại Nghị quyết số 225/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Có thể thấy, quan điểm của hai tác giả Nguyễn Quảng Ninh và Lê Thị Phương Loan xuất phát từ những mục tiêu có cơ sở thực tiễn và pháp lý nhất định, như: bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự; bảo đảm vụ án được giải quyết bởi Tòa án có thẩm quyền theo quy định mới đồng thời hạn chế những xáo trộn không cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án khi chuyển sang mô hình Tòa án nhân dân khu vực.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách tiếp cận trên vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được xem xét, đặc biệt là mối quan hệ giữa quy định chung về chuyển vụ việc dân sự tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự và quy định chuyển tiếp được ban hành riêng để điều chỉnh các vụ án, vụ việc đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025. Việc đề cao sự thỏa thuận, quyền tự định đoạt của đương sự và thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực theo quy định mới chưa đủ để khẳng định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền chuyển một vụ án đã thụ lý trước thời điểm chuyển đổi mô hình tổ chức Tòa án.

Theo tác giả, quan điểm thứ hai là phù hợp hơn với quy định của pháp luật hiện hành vì những lý do sau đây:

Một là, quy định chuyển tiếp đã xác định rõ Tòa án tiếp tục giải quyết

Điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về việc thi hành các luật liên quan đến việc tổ chức lại hệ thống Tòa án quy định: “Trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 nhưng chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết”.

Đối với vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực nhưng Tòa án nhân dân cấp tỉnh đang giải quyết trước ngày 01/7/2025, Nghị quyết phân biệt rất rõ hai trường hợp: trường hợp thứ nhất, nếu Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu nhưng chưa thụ lý thì chuyển cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết và trường hợp thứ hai: nếu Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết.

Như vậy, pháp luật chuyển tiếp đã thiết lập một ranh giới rất rõ: Đây không phải là sự suy luận từ các quy định về thẩm quyền mà là quy định chuyển tiếp được ban hành nhằm trực tiếp xử lý những vụ án đang được giải quyết tại thời điểm thay đổi mô hình tổ chức Tòa án. Do đó, khi vụ án đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025 thì việc xác định cơ quan tiếp tục giải quyết phải căn cứ trước hết vào quy định chuyển tiếp này.

Hai là, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP tiếp tục khẳng định nguyên tắc trên

Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Sơ thẩm vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, giải quyết phá sản và các vụ việc khác mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong”. Kể từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền đối với các vụ án, vụ việc dân sự mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong. Trong khi đó, Tòa án nhân dân khu vực thực hiện thẩm quyền đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền mới và tiếp nhận những vụ việc mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã nhận đơn nhưng chưa thụ lý trước ngày 01/7/2025.

Như vậy, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP đã cụ thể hóa nguyên tắc chuyển tiếp của Quốc hội: Nếu Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết và Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa thụ lý theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01/7/2025 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh chuyển Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Nếu cho rằng Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn có thể chuyển vụ án đã thụ lý xuống Tòa án nhân dân khu vực thì sự phân định này sẽ không còn ý nghĩa thực tế.

Ba là, có thể áp dụng Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự để chuyển vụ án hay không?

Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Quyết định của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng”.

Như vậy, trường hợp vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền.

Nếu chỉ dựa vào quy định tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự một cách độc lập, có thể lập luận rằng, từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực là Tòa án có thẩm quyền đối với vụ việc theo quy định mới, do đó Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải chuyển vụ án. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa thuyết phục vì đã bỏ qua quy định chuyển tiếp được ban hành riêng cho chính trường hợp đang xem xét. Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự là quy định chung về chuyển vụ việc khi Tòa án đã thụ lý nhưng không thuộc thẩm quyền; trong khi đó, Nghị quyết số 225/2025/QH15 là quy định chuyển tiếp nhằm giải quyết hệ quả của việc thay đổi tổ chức và thẩm quyền Tòa án từ ngày 01/7/2025.

Hai nhóm quy định phải được hiểu thống nhất với nhau, không thể lấy quy định chung tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự để phủ nhận quy định chuyển tiếp cụ thể của Quốc hội rằng: Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự phải được giải thích và áp dụng trong sự thống nhất với quy định chuyển tiếp đặc biệt, chứ không thể lấy Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự để phủ nhận điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 225.

Như vậy, vụ án đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết. Nói cách khác, việc Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo mô hình mới không đương nhiên dẫn đến việc Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải chuyển vụ án đã thụ lý trước thời điểm chuyển đổi.

Bốn là, sự đồng thuận của đương sự có làm phát sinh quyền chuyển vụ án hay không?

Quan điểm thứ nhất còn cho rằng nếu đương sự có đơn đề nghị chuyển và các bên không tranh chấp về thẩm quyền thì có thể chuyển vụ án.

Theo chúng tôi, lập luận này không có cơ sở vững chắc, bởi lẽ: Thẩm quyền của Tòa án là vấn đề do pháp luật tố tụng quy định, không phải trong mọi trường hợp đều phụ thuộc vào sự lựa chọn của đương sự. Đáng chú ý, Nghị quyết số 225/2025/QH15 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết đối với vụ án đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 nhưng không đặt ra ngoại lệ trừ trường hợp đương sự yêu cầu chuyển”.

Nếu chấp nhận việc chuyển vụ án chỉ vì các bên cùng đề nghị, sẽ dẫn đến vướng mắc trong áp dụng. Ví dụ, vụ án A đã thụ lý trước ngày 01/7/2025, các bên không đề nghị chuyển vụ án thì Tòa án cấp tỉnh tiếp tục giải quyết; vụ án B cũng đã thụ lý trước ngày 01/7/2025, các bên đề nghị chuyển vụ án thì sẽ chuyển vụ án về Tòa án khu vực; trong khi hai vụ án có cùng đặc điểm pháp lý. Cách áp dụng như trên sẽ làm cho việc thực hiện quy định chuyển tiếp phụ thuộc vào ý chí của đương sự, trong khi pháp luật không trao cho đương sự quyền lựa chọn này. Do đó, việc đương sự có đơn đề nghị chuyển vụ án không phải là căn cứ để Tòa án nhân dân cấp tỉnh chuyển vụ án đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 về Tòa án nhân dân khu vực.

Năm là, việc lựa chọn quan điểm thứ hai của chúng tôi còn bảo đảm tính liên tục của tố tụng

Khi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý vụ án, quan hệ tố tụng giữa Tòa án và các đương sự đã được xác lập. Trong quá trình giải quyết, Tòa án có thể đã tiến hành nhiều hoạt động tố tụng như lấy lời khai, thu thập chứng cứ, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, hòa giải hoặc các hoạt động tố tụng khác. Nếu chỉ vì thay đổi mô hình tổ chức Tòa án mà chuyển vụ án sang Tòa án nhân dân khu vực thì có thể phát sinh việc bàn giao, tiếp nhận hồ sơ, nghiên cứu lại hồ sơ, thậm chí phải thực hiện lại một số hoạt động tố tụng cần thiết… Điều này làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, phát sinh chi phí và ảnh hưởng đến tính ổn định của quá trình tố tụng.

Sáu là, cần phân biệt với trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý

Một vấn đề cần lưu ý là không nên hiểu quan điểm thứ hai theo nghĩa - mọi vụ án đã được Tòa án cấp tỉnh thụ lý hoặc mọi vụ án đã được Tòa án cấp huyện thụ lý đều do Tòa án cũ tiếp tục giải quyết.

Đối với vụ án, vụ việc mà Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý trước ngày 01/7/2025, cơ chế chuyển tiếp được quy định khác: Tòa án nhân dân khu vực tiếp nhận nhiệm vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện để tiếp tục giải quyết; trường hợp đặc biệt, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP còn quy định cách xử lý đối với vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là bất động sản khi địa giới hành chính thay đổi. Sự khác nhau này càng cho thấy pháp luật chuyển tiếp đã phân định theo Tòa án đã thụ lý và tình trạng tố tụng cụ thể, chứ không áp dụng một nguyên tắc duy nhất cho mọi vụ án. Vì vậy, đối với trường hợp đang được đưa ra bàn luận ở đây là Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý vụ án theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong, cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 225/2025/QH15 và khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP.

Kết luận

Từ những phân tích trên, có cơ sở để lựa chọn quan điểm thứ hai: Đối với vụ án, vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực theo quy định mới nhưng đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01/7/2025 và chưa giải quyết xong thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục giải quyết, không chuyển về Tòa án nhân dân khu vực chỉ vì thay đổi thẩm quyền theo mô hình mới hoặc vì đương sự có yêu cầu chuyển. Thay đổi thẩm quyền theo mô hình tổ chức Tòa án mới không làm đương nhiên chấm dứt việc giải quyết của Tòa án đã thụ lý; đối với vụ án đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025, quy định chuyển tiếp là căn cứ xác định Tòa án cấp tỉnh tiếp tục giải quyết. Đây là cách hiểu vừa bảo đảm tuân thủ quy định chuyển tiếp của pháp luật, vừa bảo đảm tính liên tục của hoạt động tố tụng và hạn chế việc chuyển hồ sơ không cần thiết trong giai đoạn tổ chức lại hệ thống Tòa án.

Trên đây là quan điểm của tác giả, rất mong có thêm nhiều ý kiến đóng góp của đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

TRẦN THỊ NHẬT VI (Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Khánh Hòa)

Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, ngày 25/11/2015.

2. Quốc hội (2025), Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, ngày 25/6/2025.

3. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên quan.

4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2025), Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Hội đồng xét xử TAND khu vực 3 - Cần Thơ (Nguồn: Trang TTĐT TAND TP. Cần Thơ).