
Nghĩa vụ chịu án phí dân sự trong trường hợp các đương sự thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án
(TCTA) - Hiện nay, về mức án phí trong trường hợp đương sự thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có nhiều quan điểm khác nhau, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin nêu một số quan điểm của mình về vấn đề này thông qua thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự.
1. Quy định về nghĩa vụ chịu án phí vụ án dân sự trong trường hợp các bên thỏa thuận thành
Khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 quy định: “Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành hòa giải; nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”.
Theo quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: “Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch; Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 3 Điều 320 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các đương sự phải chịu 50% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn”.
2. Một số bất cập trong việc xác định mức án phí khi các đương sự thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa và đề xuất, kiến nghị
Điều 147 BLTTDS 2015 và Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 đã quy định về nghĩa vụ và mức án phí đương sự phải chịu, đặc biệt trong trường hợp các đương sự thỏa thuận thành.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc xác định và tính án phí dân sự trong trường hợp các bên thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa của một số Thẩm phán, Kiểm sát viên có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, hiện có hai quan điểm như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong vụ án dân sự các bên đương sự đã thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa và việc thỏa thuận đó không thông qua phiên hòa giải mà thông qua các phương thức khác như: Các đương sự gửi văn bản ý kiến về việc thỏa thuận thành hoặc yêu cầu Tòa án lập biên bản ghi nhận ý kiến về việc các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án trước khi mở phiên tòa. Sau đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án thì đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí. Ví dụ như: Tại bản án số 05/2025/KDTM-ST ngày 21/7/2025 Tòa án nhân dân Khu vực A - C đã xác định và tính án phí như sau: “Buộc ông Trịnh Nguyễn Minh K thanh toán cho Ngân hàng Đ số tiền 19.255.817.475 đồng, về án phí ông Trịnh Nguyễn Minh K phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 63.627.000 đồng”. Theo như Bản án nêu trên thì bị đơn ông K phải chịu 50% án phí sơ thẩm và cơ sở Tòa án nhân dân Khu vực A - C xác định mức án phí 50% là căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến đương sự ngày 21/7/2025 về việc các bên đương sự thỏa thuận được tất cả các vấn đề trong vụ án được lập trước khi phiên tòa diễn ra.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 “Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí, kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch”, nghĩa là, trong trường hợp Tòa án mở phiên hòa giải trước khi mở phiên tòa và đương sự thỏa thuận được với nhau thì mới chịu 50% mức án phí. Nếu Tòa án không tiến hành phiên hòa giải mà chỉ ghi nhận ý kiến hoặc đương sự gửi văn bản ý kiến về sự thỏa thuận thành thì tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó là 100% mức án phí.
Đây là thực tiễn mà Thẩm phán, Kiểm sát viên có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau trong việc xác định và tính án phí dân sự trong trường hợp các bên thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa.
Qua nghiên cứu, các tác giả đồng tình theo quan điểm thứ nhất về cách tính, xác định mức án phí vụ án dân sự trong trường hợp các bên thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa và không nhất thiết phải thông qua phiên hòa giải. Bởi lẽ, trong tình huống của vụ án nêu trên thấy rằng các đương sự đã tự chủ động tìm sự đồng nhất trong quan điểm giải quyết vụ án. Trong trường hợp này Tòa án chỉ là bên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, việc thỏa thuận này thể hiện sự thống nhất ý chí, việc thỏa thuận này có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và trước khi phiên tòa diễn ra, thỏa thuận đó không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, nên cần phải xác định mức án phí họ phải chịu như trong trường hợp hòa giải thành.
Đối chiếu với các quy định khác của pháp luật về án phí dân sự sơ thẩm thấy rằng có một số trường hợp được xem như là ngoại lệ cần phải lưu ý như sau:
- Trường hợp thứ nhất: trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326).
- Trường hợp thứ hai: đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định trước khi Tòa án tiến hành hòa giải thì đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung (điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326).
- Trường hợp thứ ba: Tòa án đã tiến hành hòa giải; tại phiên hòa giải, đương sự không thỏa thuận việc phân chia tài sản chung của vợ chồng nhưng đến trước khi mở phiên tòa các bên đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án hòa giải trước khi mở phiên tòa và phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia (điểm đ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326).
- Trường hợp thứ tư: các đương sự thỏa thuận được với nhau về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng trước khi mở phiên tòa nhưng có yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch (điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326).
Qua các quy định ngoại lệ trên thấy rằng, pháp luật tôn trọng và khuyến khích việc các đương thỏa thuận với nhau, nếu đương sự thỏa thuận được và yêu cầu Tòa án ghi nhận trước khi mở phiên tòa thì vẫn xem xét cho họ chịu mức án phí 50% so với quy định của pháp luật.
Việc vận dụng, nhận thức khác nhau về cách xác định mức án phí dân sự trong trường hợp các đương sự thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa là rất phổ biến trong các vụ án dân sự mà Tòa án giải quyết. Mà nếu xác định và tính án phí như quan điểm thứ hai thì sẽ ít nhiều gây bất lợi cho đương sự (hầu hết là bị đơn) đang có hoàn cảnh khó khăn, không đúng theo nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của đương sự mà pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Từ những bất cập phân tích nêu trên, các tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần có văn bản hướng dẫn vấn đề này, để bảo đảm việc vận dụng xác định mức án phí trong vụ án dân sự mà các bên thỏa thuận thành trước khi mở phiên tòa nhưng không thông qua phiên hòa giải, mà thông qua phương thức yêu cầu Tòa án ghi nhận hoặc văn bản ý kiến thể hiện thỏa thuận thành gửi đến Tòa án trước khi mở phiên tòa thì chỉ phải chịu 50% mức án phí theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTDS 2015 và khoản 7, khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 được thống nhất.
Bài liên quan
-
Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm chức vụ Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng chuyên trách
-
Một số bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về khiếu nại
-
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận - thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
-
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn, vướng mắc và kiến nghị
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Quy định về chiếm hữu và bảo vệ việc chiếm hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 – một số vấn đề cần lưu ý và đề xuất, kiến nghị
-
Thẩm quyền trong tố tụng hình sự của điều tra viên là trưởng hoặc phó trưởng Công an cấp xã
-
Trao đổi bài viết “Chiếc ghe máy đánh bắt cá có được xác định là tài sản mà Phạm Hữu V đã trộm cắp của ông Nguyễn Văn C không?”
-
Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên trao quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Thái Khắc Thành "vụ Gà lôi"
-
Soobin Hoàng Sơn, Hòa Minzy và dàn sao khủng “đổ bộ” Concert “Việt Nam trong tôi”
Bình luận