Bàn thêm về việc mở phiên họp khi giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Qua nghiên cứu bài viết “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú có bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự không?” của ThS. Trương Minh Tấn, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 22/10/2026, chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề có những cách hiểu khác nhau trong thực tiễn.
Tác giả bài viết nêu hai quan điểm và đồng tình với quan điểm cho rằng khi giải quyết yêu cầu này, Tòa án không bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách hiểu trên còn một số nội dung cần tiếp tục trao đổi, nhất là về mối quan hệ giữa thủ tục chung giải quyết việc dân sự và thủ tục riêng tại Chương XXV Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Theo quan điểm của chúng tôi, khi yêu cầu đã được thụ lý và Tòa án tiến hành giải quyết về nội dung, Tòa án phải mở phiên họp theo thủ tục chung về việc dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định xử lý khác như đình chỉ xét đơn.
1. Các quan điểm được nêu trong bài viết và vấn đề cần trao đổi
Quan điểm thứ nhất trong bài viết cho rằng, Tòa án phải mở phiên họp, bởi yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là việc dân sự, thuộc phạm vi áp dụng các quy định chung tại Phần thứ sáu BLTTDS; phiên họp còn bảo đảm sự tham gia của Kiểm sát viên và việc ghi nhận diễn biến giải quyết yêu cầu.
Quan điểm thứ hai cho rằng, không bắt buộc mở phiên họp. Lập luận đáng chú ý của quan điểm này là BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) từng quy định cụ thể về việc mở phiên họp xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, trong khi BLTTDS năm 2015 không còn quy định tương ứng tại Chương XXV. Mặt khác, biểu mẫu quyết định thông báo tìm kiếm hiện hành được thiết kế theo hướng Thẩm phán xem xét hồ sơ và ra quyết định.
Theo chúng tôi, điểm mấu chốt không phải là việc Chương XXV có lặp lại từ “phiên họp” hay không, mà là chương này có đặt ra quy định loại trừ hoặc thay thế trình tự chung tại Điều 366 BLTTDS hay không. Chúng tôi cho rằng, câu trả lời là không; vì vậy, không thể suy ra quyền bỏ qua phiên họp chỉ từ việc một chương riêng không nhắc lại thủ tục này.
2. Về mối quan hệ giữa Điều 366 và Chương XXV BLTTDS
Khoản 2 Điều 27 BLTTDS quy định yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Điều 361 xác định các quy định tại Phần thứ sáu được áp dụng đối với những yêu cầu được quy định tại khoản 2 Điều 27. Phần thứ sáu bao gồm Chương XXIII về thủ tục chung giải quyết việc dân sự và Chương XXV về thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.
Điểm d khoản 2 Điều 366 BLTTDS quy định việc ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự trong thời hạn chuẩn bị xét đơn; khoản 3 và khoản 4 Điều này quy định việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát và thời hạn mở phiên họp. Trong khi đó, Điều 369 quy định trình tự tiến hành phiên họp và Điều 370 quy định về quyết định giải quyết việc dân sự. Như vậy, khi xem xét có phải mở phiên họp hay không, không nên chỉ xuất phát từ Điều 369 mà cần đối chiếu trước hết với Điều 366.
Chương XXV quy định từ Điều 381 đến Điều 386 về đơn yêu cầu, việc chuẩn bị xét đơn, quyết định thông báo tìm kiếm, nội dung và việc công bố thông báo, hiệu lực của quyết định. Điều 383 xác định rằng, khi chấp nhận đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; trường hợp chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản thì nội dung đó được quyết định trong cùng văn bản. Tuy nhiên, điều luật không trực tiếp xác định Tòa án ra quyết định sau phiên họp hay chỉ trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ.
Theo chúng tôi, cần phân biệt giữa quy định về nội dung, hình thức của quyết định giải quyết yêu cầu với quy định về trình tự để ban hành quyết định đó. Nếu thủ tục riêng đã quy định khác với thủ tục chung thì phải ưu tiên áp dụng quy định riêng. Ngược lại, khi quy định riêng chưa đề cập đến một bước tố tụng, cần tiếp tục xem xét quy định chung có điều chỉnh bước tố tụng ấy hay không, thay vì mặc nhiên coi sự không đề cập là căn cứ loại trừ.
Từ những căn cứ trên, quan điểm của chúng tôi là: đối với yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đã được thụ lý, nếu không thuộc trường hợp đình chỉ hoặc trường hợp khác được giải quyết theo quy định riêng, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp theo Điều 366 BLTTDS trước khi quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu. Việc áp dụng Điều 366 không phụ thuộc vào việc Chương XXV có nhắc lại cụm từ “mở phiên họp” hay không.
3. Việc BLTTDS năm 2015 không tiếp tục quy định riêng về phiên họp cần được đánh giá như thế nào?
Điều 325 BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 trước đây có quy định về quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Đến BLTTDS năm 2015, Chương XXV không tiếp tục thể hiện quy định tương ứng. Đây là sự thay đổi không thể bỏ qua và cũng là căn cứ có sức nặng cho quan điểm cho rằng nhà làm luật đã lựa chọn cách thức giải quyết khác.
Tuy nhiên, từ việc một quy định riêng không được tiếp tục ghi nhận đến kết luận rằng quy định chung cũng không áp dụng là hai vấn đề khác nhau. Khoản 4 Điều 388 và khoản 4 Điều 392 BLTTDS tiếp tục xác định thời hạn mở phiên họp đối với yêu cầu tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người là đã chết. Có thể lập luận rằng, nếu muốn mở phiên họp đối với yêu cầu thông báo tìm kiếm, nhà làm luật đã quy định tương tự. Song cũng cần tính đến việc các điều luật này đặt ra thời hạn riêng sau giai đoạn thông báo tìm kiếm, trong khi Chương XXV không có cùng cơ chế chuẩn bị xét đơn.
Do đó, chúng tôi không đồng tình với cách suy luận rằng BLTTDS năm 2015 bỏ quy định riêng về phiên họp tại Chương XXV thì đương nhiên loại bỏ luôn việc áp dụng Điều 366. Việc bỏ một điều khoản trùng lặp với quy định chung có thể xuất phát từ kỹ thuật lập pháp; khi không có quy định thay thế rõ ràng, thủ tục chung vẫn là căn cứ áp dụng. Những thời hạn đặc thù tại Điều 388 và Điều 392 cũng không làm thay đổi phạm vi điều chỉnh chung của Điều 366 đối với yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 27 BLTTDS.
4. Về Mẫu số 28-VDS ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP
Một căn cứ khác ủng hộ quan điểm không cần mở phiên họp là Mẫu số 28-VDS về quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Mẫu sử dụng cách thể hiện Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ việc dân sự sơ thẩm trước khi quyết định; phần ký dành cho Thẩm phán và không thể hiện thành phần tham gia phiên họp như một số mẫu quyết định giải quyết việc dân sự khác. Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề hình thức mà còn phản ánh cách thức giải quyết được dự liệu khi xây dựng biểu mẫu.
Chúng tôi ghi nhận cách thiết kế Mẫu số 28-VDS có thể dẫn đến cách hiểu quyết định được ban hành trên hồ sơ. Tuy nhiên, biểu mẫu chỉ thể hiện nội dung và hình thức văn bản, không thể tự đặt ra ngoại lệ đối với thủ tục đã được Bộ luật quy định. Việc Mẫu số 28-VDS không ghi thành phần phiên họp không phải là một quy phạm cho phép Tòa án bỏ qua bước ra quyết định mở phiên họp tại Điều 366. Nếu cách thiết kế mẫu chưa tương thích với trình tự chung, vấn đề cần giải quyết là hướng dẫn cách ghi nhận và ban hành quyết định, chứ không phải lấy mẫu để loại trừ thủ tục tố tụng.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị nghiên cứu chỉnh sửa hoặc hướng dẫn sử dụng Mẫu số 28-VDS cho phù hợp với trường hợp Tòa án đã mở phiên họp. Đây là vấn đề kỹ thuật thể hiện quyết định cần được thống nhất, không phải căn cứ làm thay đổi quan điểm của chúng tôi về việc phải mở phiên họp.
5. Một số vấn đề phát sinh khi giải quyết yêu cầu
Thứ nhất, đối với trường hợp không chấp nhận yêu cầu. Điều 383 BLTTDS trực tiếp quy định hình thức quyết định khi Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu. Trên thực tế có thể phát sinh trường hợp tài liệu, chứng cứ không đủ để xác định người bị yêu cầu biệt tích 06 tháng liền trở lên theo Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 381 BLTTDS, nhưng người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu. Khi đó, cần xác định hình thức quyết định, nội dung giải quyết và việc bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật. Đây là vướng mắc còn tồn tại dù lựa chọn cách hiểu có hay không mở phiên họp.
Thứ hai, đối với yêu cầu quản lý tài sản của người vắng mặt. Các điều 64, 65, 66 và 67 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú, nghĩa vụ và quyền của người quản lý. Khi tài liệu thể hiện có nhiều người liên quan đến tài sản hoặc có ý kiến khác nhau về việc quản lý tài sản, thủ tục phiên họp có thể tạo điều kiện làm rõ chứng cứ, ghi nhận ý kiến và bảo đảm hoạt động kiểm sát. Tuy nhiên, sự cần thiết về mặt thực tiễn chỉ là lý do bổ trợ; căn cứ xác định có bắt buộc mở phiên họp vẫn phải xuất phát từ pháp luật tố tụng.
Thứ ba, về việc tham gia của Viện kiểm sát, lệ phí và quyền kháng cáo, kháng nghị. Những vấn đề này phải được xem xét tương ứng với trình tự tố tụng và loại quyết định được ban hành; không nên suy luận rằng chỉ vì có nghĩa vụ nộp lệ phí hoặc có hoạt động kiểm sát thì đương nhiên phải mở phiên họp. Tương tự, cũng không nên chỉ dựa vào cấu trúc của biểu mẫu để kết luận về quyền tố tụng của người yêu cầu và người liên quan.
6. Quan điểm và kiến nghị
Từ các phân tích trên, chúng tôi thống nhất với quan điểm thứ nhất được nêu trong bài viết của ThS. Trương Minh Tấn: Tòa án phải mở phiên họp khi giải quyết về nội dung yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Cơ sở của quan điểm này là khoản 2 Điều 27, Điều 361 và Điều 366 BLTTDS. Chương XXV quy định những nội dung đặc thù của loại việc nhưng không quy định trình tự giải quyết trên hồ sơ để thay thế phiên họp theo thủ tục chung. Điều 383 xác định quyết định được ban hành khi chấp nhận yêu cầu, chứ không quy định một ngoại lệ về việc không mở phiên họp. Việc BLTTDS năm 2015 không còn nhắc lại thủ tục phiên họp tại Chương XXV và cách thiết kế Mẫu số 28-VDS là những điểm cần giải thích, song không đủ để bác bỏ việc áp dụng Điều 366.
Để bảo đảm thống nhất trong thực tiễn, chúng tôi kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể việc tổ chức phiên họp theo Điều 366 đối với loại việc này; cách sử dụng Mẫu số 28-VDS sau khi mở phiên họp; hình thức quyết định khi không chấp nhận yêu cầu; sự tham gia của Viện kiểm sát và quyền kháng cáo, kháng nghị. Việc kiến nghị hướng dẫn nhằm tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực hiện, không có nghĩa là hiện nay Tòa án được tùy nghi lựa chọn mở hoặc không mở phiên họp.
Tóm lại, chúng tôi cho rằng, việc không mở phiên họp chỉ vì Chương XXV BLTTDS không nhắc lại thủ tục này là chưa phù hợp với cách áp dụng thống nhất các quy định của Phần thứ sáu. Khi đã thụ lý và giải quyết về nội dung yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án phải thực hiện thủ tục mở phiên họp theo Điều 366 BLTTDS, trừ trường hợp pháp luật quy định một cách xử lý khác. Trên đây là quan điểm trao đổi của chúng tôi, rất mong nhận được ý kiến của các đồng nghiệp.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 và các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan.
2. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, các điều 64 đến 67.
3. Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09/8/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Mẫu số 28-VDS.
4. Trương Minh Tấn (2026), “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú có bắt buộc phải mở phiên họp việc dân sự không?”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, ngày 22/10/2026.
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án nhân dân tối cao triển khai Kế hoạch hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031
-
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
-
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng tiếp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
-
Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu
-
LÁ CHẮN TRƯỚC CÁC XUẤT BẢN PHẨM MANG “ĐỘC TỐ”
Bài 2: Xuất bản phẩm điện tử thực trạng đáng báo động
Bình luận