Bàn về “Giới hạn của việc xét xử” theo Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hướng hoàn thiện
Bài viết phân tích và đánh giá quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 về giới hạn của việc xét xử, chỉ ra một số vướng mắc, bất cập và những quan điểm khác nhau về việc áp dụng quy định tại Điều 298 BLTTHS năm 2015 trong thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự; từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2015 về giới hạn xét xử sơ thẩm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả, chất lượng giải quyết xét xử các vụ án hình sự của Tòa án trong thời gian tới.
Đặt vấn đề
Giới hạn xét xử sơ thẩm là chế định pháp lý quan trọng trong tố tụng hình sự. Xác định đúng đắn chế định này giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhận thức đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc xét xử sơ thẩm; khắc phục được tình trạng chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như tình trạng bỏ lọt tội phạm hay bỏ lọt hành vi phạm tội. BLTTHS đã có những sửa đổi, bổ sung rất lớn về vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm theo hướng mở rộng phạm vi giới hạn xét xử của Tòa án so với quy định tại Điều 196 BLTTHS năm 2003. Đó là quy định cho Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Điều này đã đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án được độc lập và đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, tác giả thấy vẫn còn một số vướng mắc, bất cập như khi Tòa án có căn cứ xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn hoặc xét xử thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nhưng vẫn trong khoản mà Viện kiểm sát truy tố thì xử lý như thế nào? Có phải trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại hay không? Hay trường hợp xét xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố nhưng vượt thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực. Những vướng mắc, bất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giải quyết vụ án hình sự, làm vụ án có thể bị kéo dài và chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay. Trong phạm vi bài viết này tác giả nêu lên những quan điểm khác nhau khi áp dụng quy định về giới hạn của việc xét xử trong BLTTHS năm 2015 và những kiến nghị nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập.
1. Giới hạn xét xử trong BLTTHS 2015
Theo Điều 298 BLTTHS 2015 thì giới hạn xét xử được quy định như sau:
“1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”.
Như vậy, có thể thấy, giới hạn xét xử của BLTTHS năm 2015 bao gồm 03 nội dung:
Thứ nhất, Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Giới hạn xét xử trong trường hợp này là việc Tòa án xét xử những bị can, bị cáo bị Viện kiểm sát (VKS) truy tố bằng bản Cáo trạng và Tòa án chỉ xét xử trong phạm vi bản Cáo trạng của VKS. Ngoài ra, trong quá trình xét xử tại phiên tòa, Tòa án phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm thì Tòa án cũng không được đưa người đó ra xét xử mà chỉ có thể ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự (Điều 153 BLTTHS 2015) để điều tra bổ sung theo đúng trình tự.
Như vậy, để một hành vi được đưa ra xét xử tại phiên Tòa thì luôn luôn phải đảm bảo hành vi đó đã được khởi tố, điều tra, truy tố theo đúng trình tự và đúng thẩm quyền. Nếu một hành vi chưa được điều tra, truy tố thì không thể bị Tòa án kết án mặc dù có tài liệu, chứng cứ trong vụ án cũng như kết quả thẩm vấn tại phiên tòa cho thấy hành vi đó thỏa mãn tội danh đó.
Thứ hai, Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.
Đối với trường hợp Tòa án xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật. Tức là với những hành vi mà VKS truy tố, Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc theo khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo A về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 174 BLHS, thì Tòa án có thể xét xử bị cáo A phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 174 BLHS.
Đối với trường hợp, Tòa án xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Trường hợp này chúng ta cần so sánh tội mà Viện kiểm sát đã truy tố và tội mà Tòa án định xét xử. Theo đó:
- Tội phạm khác bằng tội phạm mà VKS đã truy tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với 02 tội phạm như nhau. Ví dụ: Bị cáo B bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, thì Tòa án có thể xét xử bị cáo B về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà VKS đã truy tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với tội phạm khác nhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố. Để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như sau:
+ Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy định loại hình phạt chính nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn.
+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt chính nặng nhất đối với cả hai tội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn.
+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn.
+ Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn. Nếu điều luật cùng quy định các loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất, mức khởi điểm khác nhau thì việc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực hiện tương tự như đã trình bày trên đây.
+ Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn. Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thì hình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn.
Như vậy, sau khi so sánh tội nếu xác định tội bằng hoặc nhẹ hơn tội VKS truy tố thì Tòa án có quyền xét xử. Ngược lại, nếu so sánh tội định xét xử nặng hơn so với tội Viện kiểm sát truy tố thì phải áp dụng khoản 3 Điều 298 BLTTHS.
Thứ ba, Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để VKS truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết. Việc phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp này được thực hiện theo Điều 7, Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP như sau:
+ Trường hợp phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn thì Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung để thay đổi tội danh và kết luận điều tra về tội danh khác nặng hơn;
+ Trường hợp Viện kiểm sát đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 156 và Điều 180 của BLTTHS. Trường hợp Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
2. Một số vướng mắc, bất cập
2.1. Quy định tại khoản 2 Điều 298 BLTTHS
Khoản 2 Điều 298 BLTTHS 2015 quy định: “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện Kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện Kiểm sát đã truy tố”. Như vậy, BLTTHS 2015 không có quy định nào bắt buộc Tòa án phải trả hồ sơ cho VKS đối với trường hợp Tòa án xét xử bị cáo về khoản khác nặng hơn với khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật. Do đó, việc trả hồ sơ điều tra bổ sung hay không trong trường hợp này phụ thuộc vào từng vụ án cụ thể và việc phân tích, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khách quan của Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử:
+ Trường hợp có cơ sở xác định bị cáo có hành vi phạm tội ở khoản nặng hơn nhưng cần thiết điều tra bổ sung như lấy lời khai của những người tham gia tố tụng mà cơ quan điều tra chưa xác định và thực hiện trong hồ sơ vụ án, cần định giá lại tài sản, giám định lại… hoặc cần làm rõ thêm các tình tiết khác của vụ án được quy định khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015, đặc biệt là phải kiểm tra kỹ xem hành vi phạm tội của bị cáo đã bị Viện kiểm sát truy tố đầy đủ chưa? Nếu còn hành vi phạm tội của bị cáo mà VKS chưa truy tố thì nhất định Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và để Viện kiểm sát truy tố lại, đồng thời thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết. Sau khi điều tra bổ sung mà VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố thì Tòa án có quyền xét xử khoản khác nặng hơn nếu đã đủ căn cứ. Trong thực tiễn có vụ án do Tòa án không xem xét kỹ, đã xét xử cả hành vi VKS chưa truy tố dẫn đến bản án bị hủy.
Ví dụ: Chiều 8-11-2010, Nguyễn Xuân S và anh trai Nguyễn Xuân Tr đến một căn nhà trên đường Lạc Long Quân (quận M) để sửa điện. Trong lúc làm, Tr lén mở cửa phòng ngủ trộm ba mặt dây chuyền, ba đôi bông tai, vòng đeo tay vàng. Sửa điện xong, trên đường về, Tr mới nói cho S biết về việc trộm cắp này và đưa nữ trang cho S đem bán được 8,3 triệu đồng.
Theo kết quả định giá, số tài sản bị trộm trị giá gần 20 triệu đồng. Xử sơ thẩm TAND quận M đã phạt Tr một năm ba tháng tù về tội trộm cắp tài sản, S sáu tháng tù về tội chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Sau đó, VKS quận M kháng nghị cho rằng chỉ truy tố S về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng tòa sơ thẩm lại xử bị cáo cả về tội chứa chấp lẫn tội tiêu thụ là vượt quá giới hạn xét xử.
Giữa năm 2011, TAND TP. H xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị, hủy một phần bản án để xử sơ thẩm lại vì bản án sơ thẩm xác định S có hai hành vi là vừa cùng Tr đi bán số nữ trang chiếm đoạt được, vừa cất giữ giúp anh trai một số nữ trang chưa bán. Việc xét xử S về hai tội là vượt quá giới hạn xét xử.
+ Trường hợp có đầy đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo thuộc khoản nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật; tuy nhiên quá trình truy tố, VKS chưa xem xét kỹ càng, có sai lầm về cách nhận định, đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật hoặc nhầm lẫn về số liệu, tính toán… thì không bắt buộc Tòa án phải trả hồ sơ cho VKS mà tiến hành các thủ tục để xét xử vụ án. Bởi lẽ, việc trả hồ sơ trong trường hợp này cũng chỉ mang tính hình thức, VKS có thay đổi hay không thay đổi truy tố thì cuối cùng Tòa án cũng sẽ xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn. Trong quyết định xét xử buộc phải ghi rõ tội danh, điều, khoản của Bộ luật Hình sự mà VKS truy tố và tội danh, điều, khoản của Bộ luật Hình sự mà Tòa án sẽ xét xử. Việc ghi rõ khung hình phạt nặng hơn mà Tòa án dự kiến xét xử nhằm tạo điều kiện cho bị cáo biết trước để tự bào chữa cho mình, nhờ người khác bào chữa.
Tuy nhiên, nếu trường hợp tại phiên tòa, HĐXX mới phát hiện bị cáo phạm vào khoản khác nặng hơn khoản VKS truy tố thì xử lý thế nào? Có quan điểm cho rằng, trường hợp này buộc phải trả hồ sơ cho VKS truy tố lại vì nếu xét xử luôn sẽ bất lợi cho bị cáo và chưa đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo…, quan điểm khác lại cho rằng tùy từng trường hợp cụ thể để xử lý có thể hoãn phiên tòa và thông báo rõ cho bị cáo biết có thể bị xét xử ở khoản khác nặng hơn khoản VKS truy tố trong cùng một điều luật ở phiên tòa lần sau mở lại mà không phải trả hồ sơ cho VKS để truy tố lại hoặc thậm chí có thể xét xử luôn theo khoản khác nặng hơn khoản VKS truy tố nếu bị cáo đồng ý. Chúng tôi cho rằng, quan điểm này là phù hợp để giải quyết kịp thời, dứt điểm vụ án, tránh vụ án bị kéo dài không cần thiết.
Ngoài ra, khi xét xử Tòa án có được áp dụng thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nhưng vẫn trong khoản VKS truy tố hay không? Hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Có quan điểm cho rằng, Tòa án được xét xử thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt mà không cần phải trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại vì Tòa án có quyền xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn thì đương nhiên cũng được xét xử bị cáo thêm tình tiết tăng nặng định khung nhưng vẫn trong khoản VKS truy tố. Tuy nhiên, trong quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án phải nêu rõ những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt mà bị cáo có thể sẽ bị xét xử để đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo.
Ví dụ: VKS nhân dân khu vực X, tỉnh Y truy tố bị can A về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân khu vực X, tỉnh Y để xét xử theo thẩm quyền. Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân khu vực X thấy có căn cứ để xét xử bị cáo A thêm điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS nên Tòa án nhân dân khu vực X ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và nêu rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo A có thể bị xét xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c, đ khoản 2 Điều 341 BLHS.
Quan điểm khác lại cho rằng, trường hợp nếu có căn cứ để xét xử thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nhưng vẫn trong khoản VKS truy tố thì Tòa án vẫn phải trả hồ sơ cho VKS để truy tố lại cho đầy đủ các tình tiết định khung tăng nặng, bởi vì mặc dù có căn cứ xét xử bị cáo thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nhưng cáo trạng của VKS chưa truy tố hành vi này của bị cáo, hơn nữa đây là tình tiết gây bất lợi cho bị cáo. Vì vậy, cần phải trả hồ sơ cho VKS để xem xét, đánh giá lại và cũng là để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo được tốt nhất. Nếu VKS vẫn giữ nguyên quan điểm thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử và trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án phải nêu cụ thể điểm khoản điều luật mà cáo trạng truy tố và điểm khoản điều luật Tòa án có thể sẽ xét xử bị cáo. Nếu chúng ta đưa vụ án ra xét xử luôn mà không trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại thì tại phiên toà nếu Kiểm sát viên đồng quan điểm phải truy tố thêm tình tiết tăng nặng định khung đối với bị cáo nhưng do giới hạn xét xử Kiểm sát viên cũng không được đề nghị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng định khung vì đây là tình tiết gây bất lợi cho bị cáo.
Cụ thể như ví dụ trên thì sau khi Tòa án nhân dân khu vực X, tỉnh Y nhận được hồ sơ do VKS chuyển sang, quá trình nghiên cứu hồ sơ thấy có căn cứ xét xử bị can A thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS thì Tòa án sẽ ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu truy tố thêm bị cáo A tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS.
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ, theo quy định tại khoản 2 Điều 298 BLTTHS thì Tòa án có quyền xét xử theo khoản khác nặng hơn khoản Viện kiểm sát truy tố. Ở đây, chỉ là áp dụng thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nhưng vẫn trong khoản mà Viện kiểm sát truy tố nên vẫn thuộc giới hạn xét xử. Hơn nữa, trong quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án cũng đã nêu rõ những điểm, khoản, điều luật bị cáo có thể bị xét xử là đã đảm bảo quyền bào chữa đầy đủ cho bị cáo. Mặt khác, nếu xét xử luôn mà không phải trả hồ sơ để truy tố lại trong trường hợp này sẽ đảm bảo nguyên tắc độc lập của HĐXX cũng như bảo đảm vụ án được giải quyết, xét xử kịp thời, đúng pháp luật.
2.2. Quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS
Khoản 3 Điều 298 BLTTHS quy định: “Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện Kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện Kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện Kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”.
Quy định trên chỉ phù hợp trong trường hợp Tòa án đã thụ lý hồ sơ vụ án là Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Vì, theo quy định tại khoản 2 Điều 268 BLTTHS thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiệm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp Toà án truy tố bị can về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng nhưng Tòa án nhân dân cấp tỉnh cho rằng bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên đã trả hồ sơ để VKS truy tố lại. Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS, nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền xét xử bị cáo về tội danh đặc biệt nghiêm trọng đó.
Trong trường hợp này, Tòa án nhân dân cấp tỉnh chỉ cần thi hành đúng các quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, về đảm bảo quyền bào chữa,... Tuy nhiên, đối với Tòa án nhân dân khu vực thì trường hợp này không thể xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố, nếu tội danh mà Tòa án định xét xử là tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt đến tù chung thân hoặc tử hình hoặc những tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh như: tội Giết người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia…. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS, thì Tòa án nhân dân khu vực chỉ có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù. Trường hợp này, Tòa án nhân dân cấp khu vực tiến hành ra quyết định trả hồ sơ cho VKS đã truy tố để chuyển VKS có thẩm quyền truy tố về tội danh nặng hơn theo quy định tại khoản 1 Điều 274 BLTTHS.
Nếu VKS đã truy tố không đồng ý thay đổi tội danh, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và không ban hành quyết định chuyển vụ án lên VKS cấp trên có thẩm quyền mà trả lại hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực thì Tòa án nhân dân khu vực xử lý như thế nào? trong khi Điều 275 BLTTHS chỉ quy định giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân khu vực trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, giữa các Tòa án quân sự khu vực trong cùng một Quân khu; giữa các Tòa án nhân dân khu vực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các Tòa án quân sự khu vực thuộc các Quân khu khác nhau; giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự Quân khu; giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự mà không quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án cấp tỉnh trong cùng địa bàn cấp tỉnh. Do vậy, đa số Tòa án nhân dân khu vực đều chấp nhận xét xử bị cáo theo tội danh mà VKS đã truy tố, đồng thời làm kiến nghị lên Tòa án cấp trên xét xử lại theo hướng huỷ bản án do chính mình đã xét xử vì không đúng thẩm quyền và không đúng tội danh. Như vậy, vô hình chung vụ án đã phải trải qua rất nhiều thủ tục và bị kéo dài thời gian giải quyết vụ án một cách không cần thiết. Đây là cản trở rất lớn trong thực tiễn xét xử khi áp dụng khoản 3 Điều 298 BLTTHS.
3. Kiến nghị, đề xuất
Để giải quyết những vướng mắc, bất cập trên, tác giả kiến nghị như sau:
- Liên ngành tư pháp Trung ương cần có hướng dẫn cụ thể các trường hợp Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và trường hợp Tòa án có quyền tiến hành thủ tục xét xử vụ án mà không cần trả hồ sơ cho VKS truy tố lại khi xét xử bị cáo ở khoản nặng hơn với khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật hoặc xét xử bị cáo thêm tình tiết tăng nặng định khung nhưng vẫn trong khoản Viện kiểm sát truy tố.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015 về giới hạn của việc xét xử theo hướng sau:
3. “Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh Viện Kiểm sát đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó và phải đảm bảo về thành phần Hội đồng xét xử theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 254 Bộ luật này; trường hợp Tòa án khu vực xét thấy tội danh cần xét xử vượt quá thẩm quyền xét xử của cấp mình thì báo cáo Tòa án cấp trên trực tiếp để chuyển vụ án giải quyết theo thẩm quyền”.
Kết luận
Giới hạn xét xử là một trong những chế định quan trọng của tố tụng hình sự. Điều 298 BLTTHS năm 2015 đã có bước tiến quan trọng khi mở rộng quyền xét xử của Tòa án, góp phần đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và có những hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.
Tài liệu tham khảo
1. BLTTHS 2003; 2015.
2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025.
3. BLHS năm 2015, sửa đổi , bổ sung 2017; 2025.
4. Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
5. PGS-TS Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia - sự thật.
6. Hoàng Yến (2012), Xử vượt giới hạn, nhiều án bị hủy, https://tuoitre.vn.
VKSND quận Hoàn Kiếm đã phối hợp với TAND quận Hoàn Kiếm tổ chức xét xử phiên tòa hình sự sơ thẩm rút kinh nghiệm và thực hiện số hóa hồ sơ vụ án (tháng 7/2023) - Nguồn: VKSND quận Hoàn Kiếm.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Thời hiệu khởi kiện thừa kế bất động sản: Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và thực tiễn áp dụng pháp luật
-
Quy định về ghi âm, ghi hình tại phiên tòa và sự phù hợp của Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC
-
LIÊM CHÍNH TƯ PHÁP: TỪ NHẬN THỨC ĐẾN HÀNH ĐỘNG
-
Đề xuất cơ chế bảo vệ toàn diện đối với Thẩm phán và thân nhân
-
Bất cập trong quy định về nghĩa vụ gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác và kiến nghị hoàn thiện
Bình luận