Một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn khi áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên và đề xuất hướng giải quyết
Bài viết tập trung phân tích sâu về cơ chế áp dụng quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; đồng thời, thông qua việc phân tích các tình huống thực tiễn điển hình (như thời gian thử thách án treo, thẩm quyền áp dụng xử lý chuyển hướng tại phiên tòa, hay sự có mặt của người làm công tác xã hội...), bài viết đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả và nhân văn khi áp dụng quy định của Luật vào đời sống.
Đặt vấn đề
Luật Tư pháp người chưa thành niên (TPNCTN) năm 2024 thiết lập một khuôn khổ pháp lý thống nhất, chuyên biệt điều chỉnh toàn diện hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên (NCTN), trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế có liên quan. Trọng tâm của Luật là xác lập các nguyên tắc xử lý mang tính định hướng bắt buộc, làm cơ sở chi phối toàn bộ quá trình lập pháp, áp dụng và giải thích pháp luật trong lĩnh vực này. Theo quy định tại Chương I của Luật, hoạt động TPNCTN được tổ chức và thực hiện trên cơ sở 16 nguyên tắc cơ bản, phản ánh đầy đủ tính nhân đạo, tiến bộ và đặc thù, trong đó có thể khái quát thành các nhóm nguyên tắc chủ đạo sau:
Nhóm nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em: Bảo đảm lợi ích tốt nhất của NCTN; bảo đảm quyền được thông tin, quyền tham gia và trình bày ý kiến; quyền bào chữa, trợ giúp pháp lý; bảo đảm bí mật đời sống riêng tư và danh tính.
Nhóm nguyên tắc về tố tụng thân thiện và bảo đảm thủ tục đặc thù: Thực hiện thủ tục tố tụng phù hợp với lứa tuổi; có sự tham gia của người đại diện; giải quyết vụ việc nhanh chóng, kịp thời; bảo đảm chuyên môn hóa trong hoạt động tư pháp.
Nhóm nguyên tắc về chính sách xử lý: Ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng; hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế và hình phạt tước tự do; chỉ áp dụng hình phạt tù khi thật sự cần thiết.
Nhóm nguyên tắc về thi hành và tái hòa nhập: Bảo đảm hiệu lực của các biện pháp xử lý chuyển hướng; tổ chức thi hành phù hợp; tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.
Các nguyên tắc nêu trên không chỉ có ý nghĩa định hướng chính sách mà còn là căn cứ pháp lý trực tiếp để các cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn phương thức xử lý phù hợp trong từng vụ việc cụ thể. Bên cạnh đó, Chương II của Luật đã quy định tương đối toàn diện về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động TPNCTN, bao gồm: người bị tố giác, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng và phạm nhân là NCTN. Các quy định này có tính mở rộng so với pháp luật hiện hành, bảo đảm sự tham gia thực chất và tăng cường cơ chế bảo vệ đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
Đáng chú ý, Luật lần đầu tiên thiết lập cơ chế điều phối liên ngành ở tầm quốc gia thông qua Hội đồng quốc gia về TPNCTN do Thủ tướng Chính phủ thành lập, với cơ quan thường trực là Bộ Công an. Cơ chế này có chức năng chỉ đạo, điều phối, giám sát, thống kê và đề xuất chính sách, qua đó khắc phục tình trạng phân tán, thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện trước đây. Ngoài ra, Luật cũng xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, gia đình và người làm công tác xã hội trong toàn bộ quá trình xử lý NCTN. Việc xã hội hóa hoạt động tư pháp theo hướng huy động sự tham gia của gia đình và cộng đồng được coi là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa và tái hòa nhập.
Từ các nội dung nêu trên có thể thấy, Luật TPNCTN không chỉ đơn thuần là đạo luật điều chỉnh thủ tục tố tụng, mà còn là công cụ pháp lý quan trọng nhằm chuyển đổi mô hình tư pháp theo hướng phục hồi, lấy NCTN làm trung tâm và bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ xã hội với mục tiêu giáo dục, phát triển con người. Đây chính là cơ sở lý luận và thực tiễn để tiếp cận, phân tích các điểm đổi mới và những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng Luật.
1. Các điểm đổi mới của Luật Tư pháp người chưa thành niên
1.1. Chuyển đổi mô hình từ trừng trị sang tư pháp phục hồi
Luật TPNCTN năm 2024 xác lập rõ định hướng chuyển đổi từ mô hình tư pháp trừng trị sang tư pháp phục hồi, lấy giáo dục, hỗ trợ và tái hòa nhập cộng đồng làm trung tâm. Nội dung này không chỉ mang tính định hướng chính sách mà đã được cụ thể hóa bằng các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc. Theo quy định của Luật, hình phạt tù có thời hạn chỉ được áp dụng khi thật sự cần thiết, sau khi đã xem xét mà các biện pháp khác không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Quy định này đặt ra nghĩa vụ pháp lý cho Tòa án trong việc đánh giá toàn diện các điều kiện trước khi quyết định áp dụng hình phạt tù, qua đó cụ thể hóa nguyên tắc xử lý NCTN theo hướng ưu tiên giáo dục.
Quy định nêu trên đồng thời tương thích với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về TPNCTN năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh), theo đó việc tước tự do chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời gian ngắn nhất.
1.2. Cơ chế xử lý chuyển hướng và mở rộng thẩm quyền của Tòa án
Luật đã thiết lập chế định xử lý chuyển hướng với hệ thống các biện pháp đa dạng, áp dụng thay thế hoặc trước khi áp dụng hình phạt, thể hiện rõ tính nhân đạo và linh hoạt trong xử lý NCTN phạm tội. Các biện pháp xử lý chuyển hướng được quy định tập trung tại Điều 36, bao gồm: khiển trách; xin lỗi bị hại; bồi thường thiệt hại; tham gia học tập, dạy nghề; tư vấn tâm lý; phục vụ cộng đồng; cấm tiếp xúc; hạn chế đi lại; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; quản thúc tại gia đình; giáo dục tại trường giáo dưỡng,…
Đáng chú ý, Luật trao thẩm quyền cho Tòa án trong giai đoạn xét xử được quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu xét thấy NCTN có đủ điều kiện. Quy định này mở rộng đáng kể vai trò của Tòa án, bảo đảm việc đánh giá lại toàn diện vụ án trên cơ sở nguyên tắc độc lập xét xử. Về cơ sở pháp lý, quy định này phù hợp với Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc độc lập xét xử và Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự về xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm Tòa án có quyền lựa chọn phương thức xử lý phù hợp nhất với từng trường hợp cụ thể.
1.3. Chính sách hình phạt và nguyên tắc áp dụng pháp luật có lợi
Luật đã hoàn thiện chính sách hình phạt theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với NCTN, đồng thời mở rộng khả năng áp dụng các hình phạt nhẹ hơn và tăng điều kiện được hưởng án treo. Cụ thể, Luật bổ sung và làm rõ việc áp dụng hình phạt cảnh cáo trong các trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý và có nhiều tình tiết giảm nhẹ; mở rộng điều kiện áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi có tài sản riêng; đồng thời định hướng giảm mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù.
Trong trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định pháp luật, việc áp dụng phải tuân theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội theo Điều 7 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong trường hợp có sự khác nhau giữa luật chung và luật chuyên ngành thì ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành. Do đó, các quy định của Luật TPNCTN được ưu tiên áp dụng khi xử lý NCTN phạm tội.
1.4. Hoàn thiện thủ tục tố tụng thân thiện
Luật đã thiết lập cơ chế tố tụng thân thiện, chuyên biệt đối với NCTN trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, Luật quy định cụ thể các yêu cầu như: bảo đảm sự tham gia của người đại diện hợp pháp; người bào chữa, trợ giúp viên pháp lý được tham gia từ giai đoạn sớm; hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, đặc biệt là tạm giam; ưu tiên áp dụng các biện pháp giám sát thay thế; bảo đảm bí mật đời sống riêng tư và danh tính của NCTN.
Đáng chú ý, lời khai của NCTN chỉ được coi là chứng cứ khi có sự tham gia của người bào chữa hoặc trợ giúp viên pháp lý, qua đó nâng cao tính khách quan và bảo vệ quyền lợi của họ trong tố tụng. Những quy định này nhằm cụ thể hóa quyền được xét xử công bằng theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013, đồng thời bảo đảm quyền được bảo vệ đời sống riêng tư, danh dự và nhân phẩm của NCTN trong quá trình tố tụng.
2. Các vướng mắc thực tiễn áp dụng Luật Tư pháp người chưa thành niên và hướng giải quyết
2.1. Về thời gian thử thách của án treo
Thực tiễn cho thấy, còn có sự lúng túng trong việc xác định thời gian thử thách đối với NCTN được hưởng án treo khi áp dụng đồng thời quy định của Điều 124 Luật TPNCTN và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Một số quan điểm vẫn vận dụng nguyên tắc “gấp đôi mức hình phạt tù” như đối với người đã thành niên.
Tuy nhiên, theo quy định của Luật TPNCTN với tính chất là luật chuyên ngành, thời gian thử thách chỉ được ấn định trong khoảng từ 01 năm đến 03 năm và không bắt buộc phải bằng hai lần mức hình phạt tù. Do đó, hướng xử lý thống nhất là Tòa án không được áp dụng nguyên tắc “gấp đôi”, mà phải ấn định trong khung luật định, có thể bằng với mức hình phạt tù nhưng không vượt quá 03 năm. Cách tiếp cận này bảo đảm nguyên tắc áp dụng pháp luật có lợi cho NCTN.
2.2. Về áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại phiên tòa
Một vướng mắc phát sinh khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nhưng không được Tòa án chấp nhận, sau đó vụ án vẫn bị truy tố và đưa ra xét xử. Vấn đề đặt ra là tại phiên tòa, Tòa án có còn thẩm quyền xem xét lại việc áp dụng biện pháp này hay không.
Khoản 6 Điều 151 Luật TPNCTN đã làm rõ: tại giai đoạn xét xử, nếu bị cáo có đủ điều kiện thì Hội đồng xét xử vẫn có quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Như vậy, hướng xử lý là bảo đảm tính linh hoạt của hoạt động xét xử, cho phép Tòa án lựa chọn phương án tối ưu, phù hợp với mục tiêu giáo dục, phục hồi NCTN, không bị ràng buộc bởi quan điểm xử lý ở các giai đoạn trước.
2.3. Về biện pháp xin lỗi bị hại
Quy định tại khoản 1 Điều 41 yêu cầu việc xin lỗi bị hại phải được thực hiện trực tiếp tại phiên họp hoặc phiên tòa. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thường phát sinh trường hợp bị hại vắng mặt, gây khó khăn trong việc thi hành biện pháp này.
Hướng xử lý được xác định theo hai tình huống: (i) nếu sự có mặt của bị hại là cần thiết, Tòa án có thể hoãn phiên họp, phiên tòa; (ii) nếu bị hại có đơn xin vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, Tòa án vẫn có thể xem xét, quyết định áp dụng và thi hành biện pháp xin lỗi. Cách giải quyết này vừa bảo đảm mục đích giáo dục của biện pháp, vừa tránh kéo dài thời gian tố tụng không cần thiết.
2.4. Về áp dụng quy định chuyển tiếp
Đối với các vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nhưng chưa giải quyết xong trước thời điểm Luật có hiệu lực (01/01/2026), việc áp dụng pháp luật còn phát sinh vướng mắc về phạm vi và cách thức áp dụng.
Theo điểm a khoản 1 Điều 179 Luật TPNCTN, các vụ án này phải áp dụng quy định của Luật để giải quyết, trừ các vấn đề về thời hạn tố tụng tiếp tục thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, nếu trong quá trình xét xử chưa có sự tham gia của người làm công tác xã hội thì Tòa án phải yêu cầu bổ sung. Trường hợp không đủ thời gian để thực hiện đầy đủ thủ tục xử lý chuyển hướng, Tòa án vẫn có thể xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này tại phiên họp hoặc phiên tòa. Đây là cơ chế linh hoạt nhằm bảo đảm quyền lợi của NCTN trong giai đoạn chuyển tiếp.
2.5. Về điều kiện áp dụng hình phạt tù
Một số ý kiến cho rằng, trong trường hợp NCTN chỉ có một tình tiết giảm nhẹ (như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) thì cần ưu tiên áp dụng các biện pháp không tước tự do. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa toàn diện.
Theo khoản 4 Điều 12 Luật TPNCTN, việc áp dụng hình phạt tù chỉ đặt ra khi các biện pháp khác không còn tác dụng giáo dục, phòng ngừa. Do đó, hướng xử lý đúng là Tòa án Tòa án cần phải xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như khả năng giáo dục, phục hồi của NCTN để quyết định hình phạt bảo đảm phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của NCTN mà không nhất thiết phải căn cứ bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ.
Kết luận
Luật TPNCTN đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam, thể hiện rõ định hướng nhân văn và tiến bộ. Tuy nhiên, hiệu quả của đạo luật phụ thuộc vào việc áp dụng thống nhất các căn cứ pháp lý và bảo đảm điều kiện thực thi. Trong đó, Tòa án giữ vai trò trung tâm trong việc hiện thực hóa mục tiêu giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập đối với NCTN vi phạm pháp luật.
NCTN lầm lỡ được nuôi dưỡng, giáo dục và hướng thiện tại Trường Giáo dưỡng số 3, Bộ Công an - Ảnh: Nguyễn Tuấn.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với đối tượng tranh chấp là bất động sản
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Danh sách địa điểm đặt trụ sở chính của 34 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 355 Tòa án nhân dân khu vực
-
Hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian
Bình luận