Bị cáo A có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến đồng phạm nếu ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Sau khi nghiên cứu bài viết “Phạm Văn A có quyền kháng cáo đối với phần nội dung bản án không thuộc về mình hay không? của tác giả Lê Bá Trường đăng ngày 31/3/2026, tôi đồng tình với quan điểm thứ hai của tác giả.

Điều 331 BLTTHS năm 2015 quy định rất rõ ràng những người nào có quyền kháng cáo bao gồm: Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị cáo, bị hại, người bào chữa (trong một số trường hợp), nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (trong một số trường hợp) và người được Tòa án tuyên không có tội. Cũng theo quy định tại Điều 61 BLTTHS năm 2015, thì bị cáo là người hoặc pháp nhân thương mại đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử và có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án.

Về phạm vi thực hiện quyền kháng cáo, có thể chia thành ba trường hợp: Kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định; kháng cáo một phần bản án, quyết định; kháng cáo về căn cứ xác định không có tội.

Như vậy, các quy định tại Điều 61 và khoản 1 Điều 331 BLTTHS năm 2015 chỉ ghi nhận quyền kháng cáo của bị cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án mà không đặt ra giới hạn cụ thể về phạm vi nội dung được kháng cáo. Do đó, có thể hiểu theo hướng mở rộng cho phép bị cáo kháng cáo cả những nội dung không tuyên trực tiếp đối với mình nhưng có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình là phù hợp với tinh thần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Đồng thời, cách hiểu này cũng không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bị cáo khác, bởi lẽ việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo còn phụ thuộc vào việc Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tính có căn cứ của yêu cầu đó trên cơ sở toàn bộ hồ sơ vụ án.

Trong vụ án đồng phạm, hành vi của mỗi người không tồn tại độc lập mà nằm trong một chỉnh thể thống nhất, cùng hướng đến việc thực hiện tội phạm và cùng gây ra hậu quả chung. Chính vì vậy, việc xác định trách nhiệm của từng bị cáo cả về hình sự lẫn dân sự luôn gắn với việc đánh giá vai trò, mức độ tham gia và mối quan hệ giữa các đồng phạm. Bị cáo có quyền kháng cáo phần trách nhiệm bồi thường của đồng phạm khác nếu việc xác định nghĩa vụ đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, Tòa án chỉ chấp nhận kháng cáo khi có căn cứ xác định việc phân chia trách nhiệm bồi thường là không đúng; còn trường hợp yêu cầu đồng phạm “tăng mức bồi thường” mà không chứng minh được sự ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân thì không có cơ sở chấp nhận.

Áp dụng vào tình huống nêu trên, A vẫn có quyền kháng cáo phần bồi thường của B, nếu A cho rằng việc xác định nghĩa vụ bồi thường của B ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, kháng cáo của A chỉ có thể được xem xét nếu việc xác định phần bồi thường của B dẫn đến A phải gánh phần nghĩa vụ lớn hơn đáng ra phải chịu, ví dụ: Đáng ra B phải chịu nhiều hơn theo lỗi nhưng Tòa sơ thẩm xác định chưa đúng nên A bị thiệt; lúc này, bản chất kháng cáo không phải là tăng mức bồi thường đối với Vũ Văn B mà là yêu cầu xác định lại tỷ lệ trách nhiệm cho đúng.

Trên đây là quan điểm của tôi về quyền kháng cáo đối với phần nội dụng bản án trong vụ án đồng phạm. Rất mong nhận được sự trao đổi từ đồng nghiệp và quý bạn đọc.

NGUYỄN THÀNH LUÂN (Toà án quân sự Quân khu 3)

TAND khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử lưu động vụ án "Mua bán trái phép chất ma túy" - Ảnh: Đức Hữu.