Đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng tại trụ sở Tòa án nhân dân - Thực trạng và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật

Hoạt động cấp, tống đạt văn bản tố tụng là một hoạt động thường xuyên và cực kỳ quan trọng của Tòa án để đảm bảo quy định của tố tụng và để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các việc, vụ án (sau đây trong phạm vi bài viết gọi tắt là “vụ án”). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có nhiều trường hợp đương sự từ chối nhận, ký nhận văn vản tố tụng tại trụ sở Tòa án nhân dân, điều này gây vướng mắc trong áp dụng pháp luật. Bài viết này tác giả tập trung phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định này và nêu một số kiến nghị, đề xuất cụ thể.

1. Quy định của luật và thực tiễn áp dụng

Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024 và 2025 (sau đây viết tắt là “BLTTDS”) quy định một trong các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng là phương thức trực tiếp[1]. Phương thức cấp, tống đạt trực tiếp này cũng là phương thức được sử dụng phổ biến nhất khi những người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Thư ký Tòa án trực tiếp tống đạt văn bản tố tụng và yêu cầu người nhận văn bản tố tụng ký vào biên bản tống đạt hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết các vụ án không ít trường hợp các đương sự không hợp tác, cố tình trốn tránh khi Tòa án thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng.

Đối với trường hợp đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng thì tại Điều 177, Điều 178 BLTTDS[2] và tại Điểm 9 Mục IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử có giải đáp về trường hợp này như sau:

“Như vậy, trường hợp Tòa án đã tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng mà đương sự từ chối nhận văn bản tống đạt thì người tống đạt lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177, Điều 178 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho đương sự được coi là tống đạt hợp lệ, Tòa án không phải niêm yết công khai”.

Mặc dù giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao không ghi rõ là việc tống đạt văn bản tố tụng tại địa chỉ của đương sự nhưng với nội dung về việc có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn thì có thể hiểu tinh thần của giải đáp này giải đáp về trường hợp đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng khi Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng tại địa chỉ của đương sự.

Tuy nhiên, trong quá trình cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự cũng phát sinh rất nhiều trường hợp khi đương sự đến trụ sở Tòa án làm việc thì Thẩm phán hoặc Thư ký tiến hành cấp, tống đạt văn bản tố tụng tại Tòa án nhưng đương sự từ chối nhận hoặc nhận nhưng từ chối ký nhận văn bản tố tụng. Việc đương sự từ chối nhận văn bản tại Tòa án đã cản trở nghiêm trọng đến tiến độ giải quyết vụ án khi trong thực tế đã tống đạt nhưng người cấp, tống đạt vẫn phải đến địa chỉ của các đương sự để thực hiện việc tống đạt hoặc niêm yết văn bản đã giao trước đó để đảm bảo quy định tố tụng. Ngoài ra, còn có trường hợp đương sự trong vụ án dân sự này là bị cáo trong vụ án hình sự khác từ chối nhận văn bản khiến Tòa án đến địa điểm giam giữ đương sự để thực hiện việc tống đạt hợp lệ nhưng để được gặp đương sự phải được sự đồng ý (bút phê) của cơ quan tiến hành tố tụng đang trực tiếp giải quyết đối với bị can/bị cáo trong chính vụ án hình sự (Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án nhân dân). Những vướng mắc này đã khiến cho vụ án bị kéo dài thời hạn giải quyết chỉ vì đương sự thiếu thiện chí hợp tác.

Xuất phát từ hành vi thiếu thiện chí của đương sự nhưng hiện nay pháp luật chưa có quy định nào để giải quyết tình trạng trên. Có quan điểm cho rằng, nên vận dụng tinh thần của nội dung giải đáp tại Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết, theo đó người cấp, tống đạt văn bản tố tụng tiến hành lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản tố tụng với lý do đương sự từ chối ký nhận văn bản tố tụng và có xác nhận của Tòa án. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, việc xác nhận của Tòa án khi Thẩm phán, Thư ký là công chức tại Tòa án là không khách quan, không đảm bảo và muốn đảm bảo vẫn phải mời đại diện của địa phương tới chứng kiến và lập biên bản về việc đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng. Mặc dù vậy, nếu thực hiện theo quan điểm này trong khi thời gian mời đại diện của chính quyền địa phương tới trong tình huống đột xuất chỉ để chứng kiến một sự việc diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn và sự việc này có thể lặp đi lặp lại hàng ngày là bất khả thi.

 Ngoài ra, thực tiễn giải quyết cũng có trường hợp, người tiến hành cấp, tống đạt văn bản tố tụng trong trường hợp đương sự đang bị tạm giam đến Tòa án yêu cầu lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Kiểm sát viên ký chứng kiến nhưng những người này từ chối vì hiện cũng không có quy định nào giao cho họ chức năng, nhiệm vụ này.

2. Một số gợi mở về hướng giải quyết đối với trường hợp tương ứng

Thảm khảo các quy định của pháp luật đối với trường hợp tương ứng thì thấy, quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 (LXLVPHC) và Nghị định 68/2025/NĐ-CP ngày 02/5/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính, theo đó, quy định trường hợp khi người vi phạm hành chính có mặt nhưng từ chối ký, điểm chỉ vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vi phạm hoặc của ít nhất một người chứng kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm không ký vào biên bản; trường hợp không có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc của người chứng kiến, thì phải ghi rõ lý do vào biên bản[3]. Như vậy, theo nội dung trên tại LXLVPHC và các văn bản hướng dẫn vẫn ghi nhận trường hợp có thể sử dụng người chứng kiến làm căn cứ ghi nhận sự kiện người vi phạm từ chối ký vào biên bản xử lý vi phạm hành chính chứ không nhất thiết phải có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vi phạm đã giải quyết được nhu cầu cấp thiết để ghi nhận lại ngay những vi phạm diễn ra trong những khoảng thời gian rất ngắn. Mặt khác, quy định của LXLVPHC cũng tạo điều kiện cho phép cả trường hợp không có chữ ký của người chứng kiến hay chính quyền địa phương nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Đây là một quy định hết sức hợp lý, bởi nó đáp ứng được tính cấp thiết để xử lý các vi phạm trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay. Có thể kể đến những trường hợp phát hiện vi phạm qua hệ thống camera khi không có người chứng kiến nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể lập biên bản xử lý vi phạm hành chính.

3. Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật

Hoạt động của Tòa án cũng là một hoạt động mang tính đặc thù và những sự việc diễn ra trong quá trình cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án thực tiễn diễn ra còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Hiện nay cũng chưa có quy định nào cho phép họ được giữ hay yêu cầu đương sự ở lại để lập biên bản hoặc ký nhận biên bản ghi nhận sự việc đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng tại trụ sở Tòa án.

Vì vậy, trên tinh thần nghiên cứu các quy định pháp luật trong trường hợp tương ứng của LXLVPHC và các văn bản hướng dẫn, tác giả kiến nghị hoàn thiện, bổ sung quy định pháp luật về việc trong trường hợp đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng tại trụ sở Tòa án như sau:

Một là, cần có quy định rõ đối với trường hợp đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng tại Tòa án thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải lập Biên bản ghi rõ lý do của việc từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng.

Hai là, cần có quy định cho phép người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được đề nghị người chứng kiến (nếu có) ký vào Biên bản về việc đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng trong đó ghi đầy đủ thông tin của người chứng kiến đồng thời yêu cầu người chứng kiến cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam kết của mình. Mặc khác, để đảm bảo tính khách quan thì cũng cần quy định rõ người chứng kiến không được là Thẩm phán, Thư ký tiến hành tố tụng cũng như đương sự trong cùng vụ án. Trường hợp không có người chứng kiến thì vẫn có thể lập biên bản nhưng người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải kèm theo bằng chứng thông qua ghi âm, trích xuất dữ liệu camera tại trụ sở Tòa án để làm căn cứ lập biên bản.

Ba là, cần quy định rõ về thẩm quyền xác nhận của Tòa án khi xảy ra sự việc đương sự từ chối nhận, ký nhận văn bản tố tụng tại Tòa án nếu có đủ các căn cứ nêu trên.

Bốn là, cần có quy định về việc Kiểm sát viên, Lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp có nghĩa vụ phối hợp với người cấp, tống đạt văn bản tố tụng xác nhận sự việc trong trường hợp bị cáo là đương sự trong vụ án dân sự có mặt tại phiên tòa hình sự từ chối nhận văn bản tố tụng.

Năm là, ngoài quy định trong phạm vi sự việc đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng, có thể bổ sung thêm quy định về việc Tòa án có thẩm quyền lập biên bản khi đương sự tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng từ chối ký nhận vào các biên bản phiên họp trên.

 

ĐẶNG ĐẠI BÌNH - ThS. PHAN QUANG ÂN (Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai)

[1] Điều 173 của BLTTDS quy định:

“Điều 173. Các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện bằng các phương thức sau đây:

1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo.

2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

3. Niêm yết công khai.

4. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

5. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức khác theo quy định tại Chương XXXVIII của Bộ luật này.”

[2] Khoản 4 Điều 177 của BLTTDS quy định: “Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.” khoản 2 Điều 178 của BLTTDS quy định: “Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 177 của Bộ luật này.”

[3] Tại Khoản 6 Điều 1 Nghị định 68/2025/NĐ-CP ngày 02/5/2025 sửa đổi bổ sung Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 như sau:

Điều 12. Lập biên bản vi phạm hành chính

….

8. Ký biên bản vi phạm hành chính:
b) Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc có mặt nhưng từ chối ký, điểm chỉ vào biên bản hoặc trường hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính, thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vi phạm hoặc của ít nhất 01 người chứng kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm không ký vào biên bản; trường hợp không có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc của người chứng kiến, thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.