HOÀN THIỆN THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ PHÙ HỢP VỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN 03 CẤP
IMPROVING CASSATION AND REOPENING PROCEDURES UNDER THE THREE-TIER COURT APPARATUS
(TCTA) - Tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân theo mô hình 03 cấp đã làm thay đổi đáng kể cơ chế phân định thẩm quyền xét xử và xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trong bối cảnh sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng bảo đảm đúng tính chất là thủ tục đặc biệt - xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, không trở thành cấp xét xử thứ ba; đồng thời phải đủ hiệu quả để kịp thời khắc phục những sai lầm tư pháp nghiêm trọng. Bài viết phân tích một số vấn đề trọng tâm gồm: (i) cơ chế sàng lọc đơn; (ii) căn cứ kháng nghị; (iii) phạm vi giám đốc thẩm; (iv) tiêu chí hủy, sửa bản án; (v) căn cứ tái thẩm và phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án; từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2026. Abstract: The organisation of Vietnam’s People’s Courts under a three-tier Court apparatus has significantly reshaped the allocation of jurisdiction for adjudication and the review of legally effective judgments and decisions. In the context of the amendment and supplementation of the Criminal Procedure Code, cassation and reopening procedures should be further improved to ensure that they retain their nature as extraordinary review mechanisms for examining legally effective judgments and decisions, rather than becoming a third level of trial, while remaining sufficiently effective to promptly remedy serious judicial errors. The article examines several key issues, including the screening of petitions, grounds for protest, the scope of cassation review, standards for quashing or amending judgments, grounds for reopening, and the allocation of jurisdiction among the Court levels. On that basis, it proposes a number of recommendations and solutions for further improving the 2026 Draft Criminal Procedure Code.
1. Đặt vấn đề
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, nền tư pháp luôn được xem là lá chắn cuối cùng bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân. Đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm tính công bằng và nghiêm minh của các phán quyết tư pháp là một yêu cầu tối thượng. Trong tư pháp hình sự, thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng; đây được coi là cơ chế kiểm tra tư pháp đặc biệt, là "chốt chặn cuối cùng" nhằm xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có sai lầm nghiêm trọng về pháp luật hoặc xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án. Ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc của hai thủ tục này là khắc phục triệt để các sai lầm tư pháp, ngăn ngừa và giải quyết tận gốc các vụ án oan, sai, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trải qua các giai đoạn phát triển, hệ thống quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2021, 2025) đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mạnh mẽ của chính trị - kinh tế - xã hội và yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ quyền con người, thực tiễn áp dụng các quy định này đã bộc lộ không ít bất cập, xung đột, đặt ra những thách thức lớn đối với hiệu lực, hiệu quả của hoạt động tư pháp.
Nhìn lại tiến trình lịch sử, Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt và nhất quán đối với công cuộc cải cách tư pháp. Ngay từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Đảng ta đã khẳng định quan điểm: "Đổi mới thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ các căn cứ kháng nghị và người có quyền kháng nghị; khắc phục tình trạng nể nang, chậm trễ trong việc giải quyết" nhằm mục tiêu xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ và nghiêm minh. Bước vào giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: "Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, trọng tâm là xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân". Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã đánh dấu một bước chuyển dịch tư duy chiến lược mang tính đột phá. Nghị quyết 27-NQ/TW đề ra yêu cầu cụ thể: "Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền con người, quyền công dân", đồng thời chỉ rõ định hướng phải "Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp; hoàn thiện cơ chế tranh tụng trong xét xử; bảo đảm tính độc lập của Tòa án theo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật". Đối chiếu các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm với các quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đảng, có thể thấy việc nghiên cứu, rà soát một cách toàn diện, khách quan để tìm ra giải pháp hoàn thiện các thủ tục này không chỉ cần thiết, mà còn là một đòi hỏi khách quan, cấp bách. Việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chính là cụ thể hóa tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, đưa các nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống một cách sâu sắc, thực chất.
Tính ổn định của bản án không phải là giá trị tuyệt đối. Sai lầm nghiêm trọng trong đánh giá vụ án, áp dụng pháp luật hoặc vi phạm tố tụng có thể dẫn đến kết án oan, bỏ lọt tội phạm hoặc xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sau khi bản án có hiệu lực, cũng có thể xuất hiện những tình tiết mới làm thay đổi căn bản cơ sở của phán quyết. Trong những trường hợp đó, pháp luật phải thiết lập cơ chế xét lại bản án, quyết định đó nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân….[1]
Giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ chế đặc biệt nhằm cân bằng hai yêu cầu: bảo đảm tính ổn định của bản án đã có hiệu lực pháp luật và bảo đảm khả năng sửa chữa sai lầm tư pháp. Điểm cân bằng này quyết định cách thiết kế căn cứ kháng nghị, phạm vi xét lại và thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm.
Yêu cầu trên càng đáng chú ý khi hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo mô hình 03 cấp gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực[2]. Việc kết thúc hoạt động của Tòa án nhân dân cấp cao đồng thời dẫn đến sự phân định lại thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm giữa Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao.[3] Việc thay đổi mô hình kéo theo sự phân định lại thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh được bổ sung thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân khu vực. Khối lượng công việc trước đây do Tòa án nhân dân cấp cao đảm nhiệm nay chủ yếu tập trung về Tòa án nhân dân tối cao. Đây cũng là những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bảo đảm chất lượng thực hiện quyền tư pháp trong mô hình Tòa án mới.
Bên cạnh đó, các quy định về căn cứ, đối tượng kháng nghị, thời hạn, trình tự tiếp nhận và giải quyết đơn, thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, cùng sự phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát ở mỗi cấp cần được rà soát để tránh chồng chéo và bảo đảm tính khả thi. Với yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử ở cấp khu vực và cấp tỉnh, việc giám đốc thẩm, tái thẩm phải vừa khắc phục sai sót, vừa không làm mất ổn định của các bản án đã có hiệu lực. Vì những lẽ trên, việc nghiên cứu hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm phù hợp với mô hình Tòa án 03 cấp có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Bản chất và vị trí của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong mô hình Tòa án 03 cấp
Giám đốc thẩm và tái thẩm nằm trong phần "xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật" của BLTTHS. Đây là các thủ tục đặc biệt, chỉ được khởi động khi bản án, quyết định đã có hiệu lực và bị người có thẩm quyền kháng nghị. Theo Điều 370 BLTTHS hiện hành, giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Điều 371 quy định ba nhóm căn cứ kháng nghị: kết luận của bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến sai lầm nghiêm trọng; hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật.[4]
Tái thẩm khác giám đốc thẩm ở căn cứ xét lại. Điều 397 BLTTHS xác định tái thẩm được tiến hành khi có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định mà Tòa án không biết khi ra bản án, quyết định đó.[5]
Từ các quy định trên có thể khẳng định: giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba. Đây là điểm có ý nghĩa nền tảng.
Sơ thẩm và phúc thẩm là 02 cấp xét xử được bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Trong đó, phúc thẩm đã thực hiện chức năng kiểm tra lại bản án chưa có hiệu lực pháp luật về cả căn cứ thực tế và pháp lý trong phạm vi luật định. Khi bản án đã có hiệu lực, việc xét lại chỉ nên được đặt ra khi xuất hiện một căn cứ đặc biệt đủ sức làm mất đi giá trị ổn định của phán quyết.
Nếu mọi sai sót đều có thể trở thành căn cứ giám đốc thẩm, hoặc nếu người không đồng ý với bản án có thể thông qua đơn đề nghị để yêu cầu một lần xét xử lại về thực chất, ranh giới giữa phúc thẩm và giám đốc thẩm sẽ bị xóa nhòa. Ngược lại, nếu thủ tục xét lại bị giới hạn quá mức thì khả năng sửa chữa oan, sai không được bảo đảm.
Nghiên cứu so sánh về giám đốc thẩm trong pháp luật Việt Nam và Pháp cũng chỉ ra rằng, việc xác định đúng tính chất của giám đốc thẩm là cơ sở để phân biệt thủ tục này với sơ thẩm, phúc thẩm và tái thẩm, đồng thời là tiền đề xác định hợp lý phạm vi xét lại và thẩm quyền của Tòa án.[6]
Kinh nghiệm của Pháp thể hiện rõ giới hạn đó. Tòa Phá án không được xác định là một cấp xét xử thứ ba trên Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm; nhiệm vụ trọng tâm là kiểm tra việc áp dụng pháp luật trên cơ sở các tình tiết đã được các Tòa án xét xử nội dung xác định. Pháp luật tố tụng hình sự Đức cũng giới hạn thủ tục xét lại (Revision) chủ yếu ở việc kiểm tra vi phạm pháp luật.[7]
Tòa án Nhân quyền châu Âu, khi phát triển nguyên tắc về tính chắc chắn pháp lý và res judicata, cũng nhấn mạnh rằng, việc xem xét lại một phán quyết cuối cùng không được trở thành một hình thức kháng cáo trá hình; sự can thiệp chỉ có thể được biện minh bởi những hoàn cảnh có tính chất thực chất và đủ sức thuyết phục, đặc biệt nhằm sửa chữa sai lầm tư pháp hoặc khiếm khuyết cơ bản của quá trình xét xử.[8]
Trong mô hình Tòa án 03 cấp, nguyên tắc này còn liên quan trực tiếp đến việc phân định chức năng. Theo pháp luật hiện hành, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân khu vực; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định thuộc phạm vi thẩm quyền luật định.[9]Cách tổ chức này về cơ bản phù hợp với yêu cầu phân cấp. Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trực tiếp hơn đối với chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân khu vực; Tòa án nhân dân tối cao tập trung vào những vụ án có sai lầm nghiêm trọng, những vấn đề pháp lý phức tạp và yêu cầu bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.
Như vậy, có thể thấy bản chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thể hiện qua những phương diện sau:
Thứ nhất, đối tượng xem xét là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đây là điểm khác căn bản với phúc thẩm, vốn xét bản án chưa có hiệu lực do bị kháng cáo, kháng nghị. Vì bản án đã có hiệu lực nên nó đã phát sinh giá trị bắt buộc thi hành và tạo ra sự ổn định trong quan hệ pháp luật. Do đó, việc xét lại phải được giới hạn chặt chẽ.
Thứ hai, căn cứ kháng nghị được pháp luật tố tụng quy định cụ thể, vừa bảo đảm tính ổn định của tư pháp, vừa khắc phục được sai sót trong quá trình tố tụng. Với giám đốc thẩm, Điều 371 của BLTTHS chỉ cho phép kháng nghị khi có một trong các căn cứ sau: kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự. Với tái thẩm, căn cứ tập trung vào các tình tiết mới hoặc sự gian dối, sai lệch làm thay đổi cơ bản nội dung bản án (Điều 392 của BLTTHS).
Thứ ba, quyền kháng nghị thuộc về chủ thể đặc biệt. Khác với kháng cáo, người bị kết án, bị hại hay đương sự không tự mình mở thủ tục đặc biệt này. Họ chỉ có quyền đề nghị, khiếu nại, còn quyền kháng nghị thuộc về Chánh án Tòa án và Viện trưởng Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 373 BLTTHS. Điều này thể hiện tính chất "nhà nước" của thủ tục: cơ quan có thẩm quyền chủ động rà soát, kiểm tra vi phạm trong hoạt động tư pháp, chứ không chỉ chờ yêu cầu của các bên.
Thứ tư, thời hạn kháng nghị phân hóa theo hướng có lợi hay bất lợi cho người bị kết án. Tùy việc kháng nghị theo hướng có lợi hay không có lợi cho người bị kết án, thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực hoặc có thể được thực hiện bất cứ lúc nào. Quy định này phản ánh sự cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm tính ổn định của bản án và nguyên tắc nhân đạo, ưu tiên bảo vệ quyền con người của người bị kết án.
Thứ năm, phạm vi xét lại chủ yếu là vấn đề pháp lý. Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án đã có hiệu lực dựa trên hồ sơ vụ án và kháng nghị. Cần lưu ý rằng Hội đồng không phải là cấp xét xử thứ ba tái diễn toàn bộ việc điều tra, xét xử.
3. Thực tiễn áp dụng các quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm
Sau khi mô hình Tòa án 03 cấp được vận hành, hoạt động xét xử cơ bản được duy trì ổn định trong điều kiện khối lượng công việc lớn. Trong năm công tác 2025, các Tòa án đã thụ lý 683.341 vụ việc, giải quyết 618.341 vụ việc, đạt 90,49%; tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan là 0,69%.[10]
Trong giai đoạn từ ngày 01/7/2025 đến ngày 30/4/2026, các Tòa án đã thụ lý 728.316 vụ việc, giải quyết 520.259 vụ việc; tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan giảm còn 0,54%.[11]
Đối với công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, trong năm công tác 2025, Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp cao đã giải quyết đạt tỷ lệ 64,22%, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao.[12]
Tuy nhiên, số lượng đơn và tỷ lệ giải quyết mới phản ánh một phần kết quả công tác. Bản chất của hoạt động này đòi hỏi phải đánh giá cả khả năng phát hiện đúng vụ án có sai lầm nghiêm trọng, chất lượng quyết định kháng nghị và chất lượng trả lời đơn.
Thực tiễn cũng đặt ra một vấn đề đáng chú ý: số đơn đề nghị xét lại luôn lớn hơn nhiều so với số vụ án thực sự có căn cứ kháng nghị. Không ít trường hợp nội dung đơn chỉ lặp lại các lý do kháng cáo đã được cấp phúc thẩm xem xét hoặc gửi nhiều lần nhưng không có tình tiết, lập luận mới. Trong khi đó, việc xác định một vụ án có dấu hiệu oan, sai thường cần nghiên cứu kỹ toàn bộ hồ sơ.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là giải quyết nhanh hơn mà phải sàng lọc chính xác hơn.
Mặt khác, khi thẩm quyền giám đốc thẩm đối với bản án của Tòa án nhân dân khu vực được giao cho Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, năng lực giám đốc thẩm giữa các địa phương trở thành vấn đề cần được đặc biệt quan tâm. Nếu cách nhận diện “sai lầm nghiêm trọng”, điều kiện kháng nghị hoặc căn cứ hủy, sửa án không thống nhất thì sự khác biệt có thể xuất hiện ngay trong chính thủ tục có chức năng bảo đảm tính đúng đắn của phán quyết.
Do đó, phân cấp thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao phải đồng thời đi cùng cơ chế bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.
Thời gian qua, công tác xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện thận trọng, chặt chẽ, có căn cứ, đúng pháp luật. Về cơ bản, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (cũ) thống nhất với kết quả kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao (cũ). Các quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm đều nêu rõ những lý do, thiếu sót của bản án phúc thẩm, sơ thẩm, tạo cơ sở để Tòa án nhân dân cấp dưới có căn cứ khắc phục và giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Nội dung kháng nghị chủ yếu tập trung vào các trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hoặc phát hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án. Một số vụ án phức tạp, kéo dài nhiều năm đã được xem xét lại thông qua thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, qua đó kịp thời khắc phục những thiếu sót trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.
Chất lượng kháng nghị từng bước được nâng lên, thể hiện ở tỷ lệ kháng nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận tương đối cao. Điều này cho thấy việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá vi phạm và xác định căn cứ kháng nghị của các cơ quan có thẩm quyền ngày càng thận trọng, khách quan và có cơ sở hơn trước. Thông qua hoạt động kháng nghị, nhiều quan điểm pháp lý quan trọng đã được làm rõ, góp phần định hướng áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử. Đồng thời, công tác kháng nghị cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng pháp luật của các Tòa án. Thông qua hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm, nhiều bản án, quyết định có vi phạm đã được kịp thời phát hiện và khắc phục, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, hoạt động này còn góp phần nâng cao chất lượng xét xử, tăng cường trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với cơ quan bảo vệ pháp luật.
Những kết quả đạt được cho thấy thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm không chỉ góp phần khắc phục những vi phạm, thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện thực tiễn áp dụng pháp luật, thống nhất nhận thức và đường lối giải quyết, qua đó đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn thi hành vẫn đặt ra nhiều yêu cầu mới đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức thực hiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ công lý trong tình hình mới.
4. Một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện
4.1. Hoàn thiện cơ chế sàng lọc đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Pháp luật cần phân biệt rõ quyền đề nghị xem xét lại với quyền yêu cầu mở thủ tục xét xử. Người bị kết án và các chủ thể khác có quyền thông báo vi phạm và cung cấp tài liệu cho người có thẩm quyền kháng nghị. Tuy nhiên, việc gửi đơn không làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm như quyền kháng cáo làm phát sinh xét xử phúc thẩm.
Từ đặc điểm này, cơ chế giải quyết đơn cần được tổ chức theo hướng sàng lọc. Trước hết, cần nhận diện và xử lý ngay những đơn trùng lặp, đơn không có nội dung mới hoặc chỉ thể hiện sự không đồng ý với kết quả xét xử mà không chỉ ra vi phạm cụ thể.
Tiếp theo, phải ưu tiên nghiên cứu những vụ việc có dấu hiệu kết án oan; có mâu thuẫn căn bản giữa chứng cứ và kết luận của bản án; có dấu hiệu sử dụng chứng cứ không hợp pháp; hạn chế nghiêm trọng quyền bào chữa; áp dụng pháp luật không thống nhất hoặc có tài liệu mới có khả năng thay đổi căn bản kết quả vụ án.
Việc sàng lọc không làm hạn chế quyền của người gửi đơn mà nhằm tập trung nguồn lực vào những trường hợp có khả năng thực sự phải sử dụng thủ tục đặc biệt. Có thể tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia sau:
(1) Hoa Kỳ: tiêu chí sàng lọc công khai và tính tùy nghi. Việc Tòa án tối cao xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm không phải là quyền của đương sự mà thuộc thẩm quyền tùy nghi, chỉ được chấp nhận khi có "lý do thuyết phục". Quy tắc 10 của Tòa án tối cao nêu các tiêu chí tham khảo như xung đột giữa các tòa phúc thẩm hoặc một vấn đề pháp luật liên bang quan trọng chưa được giải quyết. Đơn được cho là hiếm khi được chấp nhận nếu chỉ viện dẫn sai sót trong nhận định thực tế hoặc việc áp dụng sai một quy tắc pháp luật đã nêu đúng[13]. Theo hướng dẫn của Văn phòng Thư ký Tòa án tối cao tháng 3/2026, mối quan tâm chính của Tòa không phải là sửa sai cho tòa dưới mà là giải quyết các vấn đề có tầm quan trọng vượt ra ngoài từng vụ việc. Tòa chỉ thụ lý và nghe tranh luận khoảng 1% số đơn nộp mỗi khóa xét xử, và việc bác đơn không nhằm bày tỏ quan điểm về nội dung[14].
(2) Anh: cơ quan sàng lọc chuyên trách với ngưỡng "khả năng thực sự". Ủy ban xem xét các vụ án hình sự (CCRC) chỉ được chuyển vụ án khi cho rằng có "khả năng thực sự" (real possibility) bản án sẽ không được giữ nguyên. Khả năng đó phải đến từ một lập luận hoặc chứng cứ chưa được nêu ở các giai đoạn trước, trừ trường hợp có tình tiết đặc biệt. Ngoài ra, vụ án phải đã qua kháng cáo hoặc đơn xin kháng cáo đã bị bác[15]. Trong án lệ R (Lyons) v CCRC, tòa nhắc lại nguyên tắc từ vụ Pearson rằng CCRC không thể mời tòa xem lại những vấn đề, chứng cứ đã được tòa quyết định, trừ trường hợp đặc biệt[16]. Một nghiên cứu năm 2025 chỉ ra mặt trái của ngưỡng này: nó gắn CCRC với chuẩn "tính an toàn của bản án" của Tòa phúc thẩm, khiến cơ quan này khó tự xác định vấn đề oan sai theo nghĩa thực chất[17].
(3) Đức: tách bước kiểm tra tính hợp lệ khỏi kiểm tra nội dung. Thủ tục xét lại (Wiederaufnahme) có bước kiểm tra tính hợp lệ của đơn. Theo Điều 368 BLTTHS Đức, đơn bị bác nếu không đúng hình thức, không nêu căn cứ do luật quy định hoặc không nêu chứng cứ phù hợp. Đơn hợp lệ mới được chuyển cho phía đối lập để có ý kiến. Mục lục các điều luật cũng cho thấy cấu trúc các bước: kiểm tra tính hợp lệ (Điều 368), thu thập chứng cứ (Điều 369), quyết định về căn cứ (Điều 370). Ngoài ra có các điều về việc chỉ định người bào chữa cho thủ tục xét lại (Điều 364a, 364b)[18]
(4) Trung Quốc: phân cấp nộp đơn, danh mục tài liệu và yêu cầu bổ sung. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc (Tòa phúc thẩm lưu động số 4), đơn khiếu nại đối với bản án đã có hiệu lực trước hết nộp cho tòa đã ra bản án. Nếu bị bác, người nộp có thể nộp lên tòa cấp trên. Vụ án đã được Tòa án cấp cao của tỉnh xem xét lại hoặc tái thẩm thì có thể tiếp tục nộp lên Tòa án nhân dân tối cao, trừ vụ án đã kết thúc theo luật. Hướng dẫn liệt kê rõ hồ sơ phải nộp. Nếu người nộp đơn dựa vào chứng cứ mới thì phải nộp kèm chứng cứ đó. Nếu hồ sơ thiếu thì tòa yêu cầu bổ sung, và tòa không xem xét nếu người nộp từ chối bổ sung mà không có lý do chính đáng[19]. Điều 253 BLTTHS Trung Quốc liệt kê năm căn cứ buộc phải xét xử lại khi đơn khiếu nại hợp lệ, trong đó có chứng cứ mới, sai lầm áp dụng pháp luật và vi phạm thủ tục[20].
4.2. Cụ thể hóa căn cứ “vi phạm nghiêm trọng”, “sai lầm nghiêm trọng”
Điều 371 BLTTHS hiện hành sử dụng thuật ngữ “nghiêm trọng” nhưng chưa xác định cụ thể tiêu chí đánh giá.[21]
Theo chúng tôi, có thể xác định theo hướng: vi phạm nghiêm trọng là vi phạm làm hoặc có khả năng làm sai lệch việc xác định sự thật vụ án, xâm phạm nghiêm trọng một quyền tố tụng cơ bản hoặc dẫn đến quyết định không đúng về trách nhiệm hình sự và những vấn đề cơ bản của vụ án.
Cách tiếp cận này giúp phân biệt sai sót cần rút kinh nghiệm nghiệp vụ với sai lầm phải hủy hoặc sửa bản án đã có hiệu lực.
4.3. Xác định hợp lý phạm vi giám đốc thẩm
Điều 387 BLTTHS hiện hành quy định Hội đồng giám đốc thẩm xem xét toàn bộ vụ án, không chỉ giới hạn trong nội dung kháng nghị.[22]
Quy định này có ưu điểm là tạo điều kiện phát hiện đầy đủ sai lầm, nhất là những sai lầm có lợi cho người bị kết án. Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa Hội đồng phải kiểm tra lại toàn bộ vụ án như một cấp xét xử mới thì không phù hợp với tính chất của giám đốc thẩm.
Theo chúng tôi, nên hoàn thiện theo hướng: phạm vi giám đốc thẩm về nguyên tắc được xác định bởi nội dung kháng nghị và những vấn đề có quan hệ không thể tách rời với nội dung kháng nghị. Hội đồng được xem xét vượt quá phạm vi đó nếu phát hiện sai lầm nghiêm trọng mà việc không xem xét có thể dẫn đến oan, làm bất lợi trái pháp luật cho người bị kết án hoặc ảnh hưởng đến tính thống nhất của quyết định.
Khi mở rộng phạm vi xét lại, Hội đồng phải nêu rõ căn cứ trong quyết định giám đốc thẩm.
4.4. Làm rõ ranh giới giữa hủy án và sửa án
BLTTHS cho phép Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định khi tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã rõ ràng, đầy đủ; việc sửa không làm thay đổi bản chất vụ án, không làm xấu đi tình trạng người bị kết án và không gây bất lợi cho bị hại, đương sự.[23]
Quyền sửa án cần được duy trì vì có thể hạn chế việc hủy án không cần thiết. Tuy nhiên, ranh giới giữa sửa án với xét xử lại cần được xác định rõ hơn.
Để giải quyết vấn đề này, tác giả cho rằng, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ nên sửa án khi không cần xác lập lại các tình tiết thực tế đang có tranh chấp và không phải đánh giá lại chứng cứ theo cách thay thế Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm.
Nếu phải xác định lại người thực hiện hành vi, giải quyết mâu thuẫn chứng cứ, đánh giá lại lời khai hoặc tiến hành thêm hoạt động chứng minh có ý nghĩa quyết định thì phải hủy án để giải quyết lại theo thủ tục thông thường.
Ngược lại, khi sự kiện đã rõ và sai lầm chỉ nằm ở áp dụng điều luật, hình phạt hoặc một hậu quả pháp lý có thể xác định trực tiếp từ hồ sơ thì sửa án là giải pháp hợp lý hơn. Cũng cần ưu tiên hủy hoặc sửa một phần nếu sai lầm có thể tách biệt, tránh hủy toàn bộ vụ án một cách không cần thiết.
4.5. Làm rõ hơn căn cứ tái thẩm
Theo Điều 397 BLTTHS, tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.
Điều 398 BLTTHS cụ thể hóa căn cứ kháng nghị tái thẩm, bao gồm trường hợp có căn cứ chứng minh lời khai, kết luận giám định, kết luận định giá, lời dịch hoặc bản dịch có những điểm quan trọng không đúng sự thật; có tình tiết mà người tiến hành tố tụng do không biết được nên có kết luận không đúng; vật chứng, biên bản tố tụng, chứng cứ, tài liệu hoặc đồ vật trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; và những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.
Vì vậy, “tình tiết mới” không đồng nhất với việc có một tài liệu mới được xuất trình sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yếu tố quyết định không chỉ là thời điểm tài liệu được xuất trình mà là nội dung được phát hiện có thuộc căn cứ tái thẩm và có khả năng làm thay đổi cơ bản cơ sở sự thật của bản án, quyết định hay không.
Một lời khai thay đổi, một kết luận giám định mới hoặc một tài liệu được cung cấp sau khi xét xử không đương nhiên là căn cứ tái thẩm. Chúng chỉ có ý nghĩa đối với thủ tục tái thẩm khi qua xác minh cho thấy có căn cứ thuộc một trong các trường hợp luật định và có khả năng làm cho nhận định, kết luận của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không còn phù hợp với sự thật khách quan của vụ án.
Ngược lại, nếu tài liệu được gọi là “mới” chỉ đưa ra một cách đánh giá khác đối với những chứng cứ mà Tòa án đã biết và đã xem xét khi xét xử, còn vấn đề thực chất nằm ở việc Tòa án đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật sai, thì cần xem xét theo căn cứ giám đốc thẩm chứ không nên chuyển hóa thành căn cứ tái thẩm.
4.6. Nghiên cứu cơ chế thu, nộp, tạm ứng lệ phí, chi phí giám đốc thẩm, tái thẩm
Giám đốc thẩm và tái thẩm là các thủ tục đặc biệt nhằm sửa chữa sai lầm pháp luật hoặc xem xét tình tiết mới trong bản án đã có hiệu lực. Khác với tố tụng dân sự hay hành chính (nơi chi phí phụ thuộc vào tranh chấp tài sản cá nhân), tố tụng hình sự vận hành theo nguyên tắc trách nhiệm công. Nhà nước bảo đảm ngân sách cho các hoạt động tố tụng đặc biệt này. Theo các điều 135, 136 BLTTHS hiện hành và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì người nộp đơn đề nghị không phải nộp tạm ứng lệ phí hay lệ phí xét lại bản án, quyết định. Việc này bảo đảm quyền hiến định về chống oan sai và không tạo rào cản tài chính đối với người bị kết án hay người đại diện. Chi phí trưng cầu giám định, định giá tài sản hoặc dẫn giải ở giai đoạn này do cơ quan tiến hành tố tụng chi trả từ ngân sách nhà nước, trừ trường hợp người nộp đơn tự chủ động yêu cầu giám định riêng theo luật định. Tuy nhiên, việc "miễn phí" này vô tình dẫn đến “hệ lụy” cho ngành tư pháp khi nhiều đương sự lạm dụng để nộp đơn "cầu may" hoặc cố tình trì hoãn thi hành án, gây quá tải nặng nề cho Tòa án cấp giám đốc thẩm. Đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, các nước thuộc hệ thống thông luật và dân luật đều kiểm soát rất chặt chẽ giai đoạn này. Thậm chí có quốc gia còn quy định về mức xử phạt đối với hành vi cố tình khiếu kiện vô căn cứ.
Đức - Cơ chế phân bổ chi phí sau thủ tục Xét lại: Theo BLTTHS Đức (Điều 464a và Điều 473), trong bước kiểm tra tính hợp lệ (Điều 368), người nộp đơn không phải đóng tạm ứng lệ phí. Nếu đơn bị bác vì vô căn cứ, người nộp đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng phát sinh. Ngược lại, nếu bản án bị tuyên hủy/thay đổi do oan sai, Nhà nước sẽ hoàn trả toàn bộ chi phí tố tụng và bồi thường thiệt hại.
Hoa Kỳ - Phí nộp đơn và Miễn phí cho người nghèo: Tòa án tối cao Mỹ quy định phí nộp đơn là $300 (Quy tắc 38). Tuy nhiên, đối với đơn xin xem xét lại trong án hình sự từ các bị án không có khả năng tài chính, Tòa án áp dụng thủ tục In Forma Pauperis (Quy tắc 39) để miễn toàn bộ lệ phí nộp đơn và chi phí in ấn hồ sơ.
Singapore: Tòa án tối cao (Supreme Court) kiểm soát rất nghiêm ngặt chi phí tố tụng. Khi đương sự nộp đơn xin cấp phép kháng án hoặc yêu cầu xem xét lại một phán quyết đã có hiệu lực lên Tòa phúc thẩm (Court of Appeal), mức lệ phí nộp đơn (Filing fee) thông thường dao động từ 200 SGD đến 500 SGD tùy loại văn bản vụ việc. Đặc biệt, Singapore áp dụng cơ chế "Phí xét xử theo ngày" (Hearing fees). Đối với các phiên điều trần xét lại tại Tòa án tối cao từ ngày thứ tư trở đi, đương sự phải nộp mức phí từ 3.000 SGD đến 9.000 SGD/ngày nhằm thúc đẩy các bên tranh tụng tập trung và hiệu quả.
Để hoàn thiện cơ chế này tại Việt Nam, cơ quan lập pháp cần thiết kế một giải pháp dung hòa giữa tính nhân văn và hiệu quả vận hành tư pháp. Tác giả đề xuất triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp:
Thứ nhất, quy định một khoản lệ phí nộp đơn xét lại cố định ở mức vừa phải để nâng cao trách nhiệm của người nộp đơn, đồng thời hoàn trả 100% nếu đơn có căn cứ và được chấp nhận kháng nghị.
Thứ hai, luật hóa chế tài xử phạt hành chính đối với các trường hợp cố tình nộp đơn lạm dụng, kéo dài thời gian nhằm mục đích trục lợi hoặc trì hoãn thi hành án.
Cuối cùng, cần tiếp tục duy trì chính sách miễn, giảm cho các đối tượng yếu thế, hộ nghèo và các đối tượng yếu thế khác.
5. Một số vấn đề cần lưu ý trong dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) năm 2026
Bài viết tập trung nghiên cứu hồ sơ dự thảo BLTTHS (sửa đổi) ngày 15/10/2026, trong đó thể hiện những nội dung của Dự thảo còn có nhiều phương án hoặc cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn đã phân tích, có thể lưu ý một số nội dung liên quan trực tiếp đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm như sau.[24]
5.1. Về căn cứ giám đốc thẩm
Điều 387 và Điều 388 Dự thảo ngày 15/10/2026 về cơ bản tiếp tục cách quy định hiện hành về tính chất và căn cứ giám đốc thẩm.[25]
Việc kế thừa là hợp lý, nhưng Dự thảo nên làm rõ hơn tiêu chí “nghiêm trọng”. Đây chính là vấn đề quyết định giới hạn của thủ tục đặc biệt.
Có thể bổ sung nguyên tắc theo hướng: vi phạm hoặc sai lầm chỉ là căn cứ kháng nghị nếu ảnh hưởng thực chất hoặc có khả năng ảnh hưởng thực chất đến kết quả giải quyết vụ án, quyền tố tụng cơ bản hoặc tính có căn cứ, hợp pháp của phán quyết.
5.2. Về thẩm quyền trong mô hình Tòa án 03 cấp
Dự thảo tiếp tục giao Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét lại các bản án, quyết định thuộc thẩm quyền.
Phương án này phù hợp với cơ cấu tổ chức hiện hành. Tuy nhiên, phân cấp phải đi kèm cơ chế bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật. Khi có sự khác biệt giữa các Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh về cùng một vấn đề pháp lý, Tòa án nhân dân tối cao phải kịp thời sử dụng các công cụ như án lệ, nghị quyết hướng dẫn hoặc giải đáp nghiệp vụ để thống nhất nhận thức.
Bản so sánh ngày 22/9/2026 cũng thể hiện phương án của Tòa án nhân dân tối cao về việc xác định trực tiếp địa vị, nhiệm vụ của Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Hướng tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc thẩm quyền phải gắn với trách nhiệm của chủ thể trực tiếp tổ chức hoạt động xét xử.[26]
5.3. Về người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm
Điều 400 Dự thảo quy định người bị kết án, người bào chữa và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập trong những trường hợp luật định.
Theo chúng tôi, không cần thiết biến phiên tòa giám đốc thẩm thành một phiên xét xử lại đầy đủ. Tuy nhiên, khi Hội đồng dự kiến trực tiếp sửa bản án hoặc đưa ra quyết định ảnh hưởng đáng kể tới quyền của người tham gia tố tụng, họ phải có cơ hội để trình bày ý kiến thông qua quyền được nhận quyết định kháng nghị, quyền gửi ý kiến và trong trường hợp cần thiết được tham gia phiên tòa trực tiếp hoặc bằng phương thức điện tử.
5.4. Về phạm vi giám đốc thẩm
Điều 404 Dự thảo tiếp tục quy định Hội đồng phải xem xét toàn bộ vụ án, không chỉ giới hạn trong nội dung kháng nghị.[27]
Đây là quy định nên tiếp tục nghiên cứu. Quyền mở rộng phạm vi xét lại là cần thiết để bảo vệ công lý, nhưng không nên được thiết kế thành nghĩa vụ mặc nhiên phải kiểm tra lại toàn bộ vụ án. Giải pháp phù hợp hơn là lấy nội dung kháng nghị làm giới hạn nguyên tắc, đồng thời cho phép Hội đồng mở rộng trong những trường hợp luật định và phải nêu rõ lý do.
5.5. Về quyền sửa án
Điều 405 và Điều 410 Dự thảo tiếp tục duy trì quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực của Hội đồng giám đốc thẩm.[28]
Chúng tôi đồng tình với việc duy trì quyền này, nhưng đề nghị bổ sung tiêu chí: Hội đồng chỉ được sửa khi không cần đánh giá lại chứng cứ đang có tranh chấp hoặc xác định lại những tình tiết thực tế có ý nghĩa quyết định.
Đây là giới hạn cần thiết để bảo đảm quyền sửa án không biến giám đốc thẩm thành một cấp xét xử nội dung.
5.6. Về tái thẩm
Các điều từ Điều 414 – Điều 420 Dự thảo tiếp tục điều chỉnh thủ tục tái thẩm.[29]
Về cơ bản có thể kế thừa cấu trúc hiện hành, nhưng cần làm rõ hơn tiêu chí “tình tiết mới” và yêu cầu đánh giá khả năng tình tiết đó làm thay đổi cơ bản nội dung phán quyết. Điều quan trọng là không để tái thẩm trở thành con đường đánh giá lại chứng cứ cũ dưới hình thức tài liệu mới.
6. Một số đề xuất, kiến nghị
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng việc hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cần tập trung vào sáu vấn đề sau đây:
Thứ nhất, hướng dẫn cụ thể các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, nhất là tiêu chí xác định kết luận không phù hợp với tình tiết khách quan, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật; phân biệt vi phạm phải kháng nghị với sai sót chỉ cần rút kinh nghiệm. Đối với tái thẩm, cần làm rõ tính mới, tính khách quan và mức độ ảnh hưởng của tình tiết mới, đồng thời phân biệt với chứng cứ mới hoặc tài liệu bổ sung.
Thứ hai, rà soát, hoàn thiện quy định về đối tượng, thẩm quyền, phạm vi và thời hạn kháng nghị phù hợp với mô hình Tòa án 03 cấp; hướng dẫn trường hợp bản án chỉ bị kháng cáo, kháng nghị một phần, phúc thẩm đình chỉ và vụ án có nhiều người bị kết án. Đồng thời, quy định rõ điều kiện, trình tự và thời hạn tạm đình chỉ thi hành bản án; nghiên cứu cơ chế xử lý trường hợp phát hiện vi phạm đặc biệt nghiêm trọng khi thời hạn kháng nghị theo hướng bất lợi đã sắp hết hoặc đã hết, bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu sửa sai và sự ổn định của bản án có hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, làm rõ thẩm quyền và giới hạn của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm trong việc sửa án, hủy án, mở rộng phạm vi xem xét, triệu tập người tham gia tố tụng và yêu cầu cung cấp, xác minh, bổ sung tài liệu. Nghiên cứu khả năng cho phép Hội đồng tái thẩm sửa bản án trong trường hợp tình tiết mới rõ ràng, hồ sơ đầy đủ và không ảnh hưởng đến quyền tố tụng của người tham gia. Đồng thời, bổ sung hướng dẫn về tài sản của người thứ ba, chứng cứ điện tử, tài sản số và pháp nhân thương mại.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế sàng lọc đơn. Cần phân biệt đơn lặp lại, đơn không chỉ ra căn cứ pháp lý với những vụ việc có dấu hiệu oan, sai hoặc có vấn đề pháp lý nghiêm trọng để tập trung nguồn lực phù hợp.
Thứ năm, nghiên cứu cơ chế thu, nộp, tạm ứng lệ phí, chi phí giám đốc thẩm, tái thẩm, vừa để tăng cường nguồn lực cho Nhà nước, vừa tăng trách nhiệm của người nộp đơn, hạn chế tình trạng nộp đơn tràn lan, khiếu kiện cầu may.
Thứ sáu, tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong chuyển, mượn, nghiên cứu và hoàn trả hồ sơ; quy định rõ đầu mối, thời hạn và thứ tự ưu tiên khi nhiều cơ quan cùng yêu cầu hồ sơ, nhất là vụ án sắp hết thời hạn kháng nghị. Đẩy mạnh số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và hoàn thiện phần mềm quản lý đơn có chức năng cảnh báo thời hạn, nhận diện đơn trùng lặp, theo dõi luân chuyển hồ sơ và tổng hợp số liệu.
7. Kết luận
Tổ chức hệ thống Tòa án theo mô hình 03 cấp làm thay đổi đáng kể cơ chế giám đốc thẩm, tái thẩm và đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vấn đề cốt lõi không phải là mở rộng khả năng xét lại bản án đã có hiệu lực mà là xác định đúng trường hợp cần xét lại và đúng giới hạn của quyền xét lại.
Một bản án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng. Chỉ những vi phạm, sai lầm thực sự nghiêm trọng hoặc những tình tiết mới có khả năng làm thay đổi căn bản phán quyết mới đủ căn cứ phá vỡ tính ổn định đó. Đồng thời, khi có dấu hiệu oan, sai thực sự, thủ tục đặc biệt phải đủ hiệu quả để kịp thời khôi phục công lý.
Theo hướng đó, hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong mô hình Tòa án 03 cấp phải bảo đảm ba yêu cầu: xác định chặt chẽ căn cứ xét lại; giới hạn hợp lý thẩm quyền của Hội đồng; và phân định rõ trách nhiệm giữa Tòa án nhân dân cấp tỉnh với Tòa án nhân dân tối cao.
Thực hiện đúng các yêu cầu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và phát huy đúng vai trò của Tòa án trong thực hiện quyền tư pháp.
[1] Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Quốc hội, Luật số 81/2025/QH15 ngày 24/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, khoản 1 Điều 1.
[3] Quốc hội, Luật số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.
[4] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 hợp nhất Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 370 và Điều 371.
[5] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, Điều 397.
[6] Mai Thanh Hiếu, Tính chất của giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam và Pháp, Tạp chí Luật học, số 2/2021.
[7] Cour de cassation (France), Présentation de la Cour de cassation; Federal Ministry of Justice, Federal Republic of Germany, German Code of Criminal Procedure (Strafprozessordnung - StPO), §§ 337-338.
[8] European Court of Human Rights, Brumărescu v. Romania [GC], no. 28342/95, ECHR 1999-VII; Ryabykh v. Russia, no. 52854/99, ECHR 2003-IX.
[9] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, Điều 382.
[10] Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo số 113/BC-TA về công tác của các Tòa án năm 2025 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
[11] Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao, Tài liệu Hội nghị sơ kết 01 năm thực hiện mô hình Tòa án 03 cấp gắn với vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, ngày 03/6/2026.
[12] Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo công tác các Tòa án năm 2025, số liệu về giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
[13] Supreme Court of the United States, Rule 10, đăng tại Cornell Law School Legal Information Institute, https://www.law.cornell.edu/rules/supct/rule_10
[14] Supreme Court of the United States, Office of the Clerk, "Guide for Prospective Indigent Petitioners for Writs of Certiorari", tháng 3/2026, https://www.supremecourt.gov/casehand/IFPGuide2026.pdf
[15] Criminal Appeal Act 1995 (UK), Part II, s. 13, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1995/35/part/II
[16] R (Lyons) v Criminal Cases Review Commission [2019] EWHC 183 (Admin), trích R v CCRC, ex parte Pearson [1999] 3 All ER 498, https://caselaw.nationalarchives.gov.uk/ewhc/admin/2019/183
[17] Ayokunle Fayanju và Annabelle James, "The Criminal Cases Review Commission – A Quarter of a Century On", SAGE Journals, 2025, DOI 10.1177/00220183251336101, https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/00220183251336101
[18] dejure.org, Mục lục các điều luật StPO (§§ 359–373a), https://dejure.org/gesetze/StPO/368.html
[19] Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc, Tòa phúc thẩm lưu động số 4, 《刑事案件申诉指南》, https://www.court.gov.cn/xunhui4/xiangqing/43362.html
[20] Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Điều 253 (《刑事诉讼法》第二百五十三条), bản trích dẫn tại https://www.163.com/dy/article/K7T82VB605564P61.html
[21] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, Điều 371.
[22] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, Điều 387.
[23] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, Điều 388 và Điều 393.
[24] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 15/10/2026; Bản so sánh những nội dung có nhiều phương án - Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 22/9/2026.
[25] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 15/10/2026, Điều 376 và Điều 377.
[26] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bản so sánh những nội dung có nhiều phương án - Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 22/9/2026, phần quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó Chánh án; Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao.
[27] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 15/10/2026, Điều 404.
[28] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 15/10/2026, Điều 405 và Điều 410.
[29] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 15/10/2026, Điều 414-420.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Quốc hội, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15.
3. Quốc hội, Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.
4. Quốc hội, Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự.
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15.
6. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP.
7. Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 hợp nhất Bộ luật Tố tụng hình sự.
8. Tòa án nhân dân tối cao (2025), Báo cáo số 113/BC-TA về công tác của các Tòa án năm 2025 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
9. Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao, Tài liệu Hội nghị sơ kết 01 năm thực hiện mô hình Tòa án 03 cấp gắn với vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, ngày 03/6/2026.
10. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 15/10/2026.
11. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bản so sánh những nội dung có nhiều phương án - Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 22/9/2026.
12. Mai Thanh Hiếu, Tính chất của giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam và Pháp, Tạp chí Luật học, số 2/2021.
13. Mai Thanh Hiếu, Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và Pháp, Tạp chí Luật học, số 5/2022.
14. Phan Thị Thanh Mai, Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
15. Cour de cassation (France), Présentation de la Cour de cassation.
16. Federal Ministry of Justice, Federal Republic of Germany, German Code of Criminal Procedure (Strafprozessordnung - StPO).
17. European Court of Human Rights, Brumărescu v. Romania [GC], no. 28342/95; Ryabykh v. Russia, no. 52854/99.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án nhân dân tối cao triển khai Kế hoạch hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031
-
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
-
Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu
-
LÁ CHẮN TRƯỚC CÁC XUẤT BẢN PHẨM MANG “ĐỘC TỐ”
Bài 2: Xuất bản phẩm điện tử thực trạng đáng báo động -
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng tiếp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
Bình luận