Kinh nghiệm quốc tế về sử dụng điện thoại, máy tính trong phiên tòa và ý nghĩa đối với Việt Nam
Trên cơ sở đối chiếu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước châu Âu về quyền con người và kinh nghiệm của Đức, Hoa Kỳ, tác giả cho rằng, việc hạn chế thiết bị điện tử không mặc nhiên xâm phạm quyền tố tụng nếu được áp dụng cần thiết, hợp lý, bình đẳng và không làm suy giảm khả năng chuẩn bị, thực hiện việc bào chữa. Từ đó, đề xuất hướng dẫn cụ thể thẩm quyền của chủ tọa, bảo đảm tiếp cận hồ sơ sớm và tăng cường kỹ năng nghề nghiệp cho luật sư, Kiểm sát viên, nhà báo khi tham dự phiên tòa.
Đặt vấn đề
Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp (sau đây gọi là Thông tư số 12), được ban hành ngày 30/5/2026, đã làm phát sinh một số ý kiến trao đổi về nội quy phiên tòa, phiên họp (sau đây gọi là nội quy phiên tòa). Các ý kiến tập trung vào quy định yêu cầu người tham dự phiên tòa “không được mang thiết bị truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số; ví dụ: điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay, đồng hồ thông minh, thiết bị khác có tính năng ghi âm, ghi hình, thu phát tín hiệu điện tử (sau đây gọi là thiết bị điện tử) vào phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp cho phép. Việc sử dụng thiết bị điện tử để tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, xét xử trực tuyến hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp đối với người tham gia tố tụng phải theo sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp”[1]. Một số ý kiến cho rằng, vấn đề này hạn chế quyền hành nghề của luật sư trong hoạt động bào chữa, nhà báo trong hoạt động báo chí… Có ý kiến cho rằng, việc hạn chế này là không phù hợp với một số nguyên tắc hiến định, như “Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai” [2], “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm” [3]… Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến đồng thời tán thành yêu cầu hạn chế hoạt động “ghi âm, ghi hình” có nguy cơ làm ảnh hưởng đến “quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình” [4] đã được hiến định cũng như trật tự và tôn nghiêm của Tòa án.
1. Quyền được xét xử công bằng và quyền bào chữa
Để xem xét việc cấm mang hoặc cấm sử dụng thiết bị điện tử (như điện thoại, máy tính cá nhân) trong phòng xử án có phải là một hạn chế đối với quyền được xét xử công bằng (right to a fair trial) hay không thì trước hết cần xem xét về nội dung của quyền được xét xử công bằng theo các công ước quốc tế. Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), quyền bào chữa là một chuẩn mực trong quyền được xét xử công bằng được quy định tại Điều 14 của ICCPR[5]. Để bảo đảm cho quyền bào chữa được tôn trọng, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự cần phải bảo đảm cho người bị buộc tội các quyền cơ bản sau:
(i) Quyền được có người bào chữa do mình lựa chọn;
(ii) Quyền được có đủ thời gian để chuẩn bị cho phiên tòa, bao gồm tiếp xúc với người bào chữa;
(iii) Quyền được trao đổi riêng với luật sư;
(iv) Quyền bào chữa thông qua trợ giúp pháp lý;
(v) Quyền được tạm hoãn thủ tục tố tụng để được tham vấn luật sư;
(vi) Quyền được tự bào chữa;
(vii) Quyền bào chữa là quyền để bảo vệ lợi ích của người bị buộc tội;
(viii) Quyền không phải tiến hành tố tụng với luật sư bào chữa là người không đủ năng lực hoặc thiếu chuẩn mực trong khi người bị buộc tội đã có luật sư phù hợp;
(ix) Quyền bào chữa trong tất cả các giai đoạn tố tụng đối với hình phạt án tử hình.
Những nội dung nêu trên được diễn giải thông qua các văn kiện giải thích hoặc án lệ quốc tế cũng như quan điểm tiếp thu những nội dung này tại pháp luật của mỗi quốc gia hoặc các văn kiện quốc tế ở cấp châu lục. Để xem xét việc sử dụng thiết bị điện tử (như điện thoại, máy tính cá nhân) tại phiên tòa có ảnh hưởng như thế nào tới quyền bào chữa nói riêng hay quyền được xét xử công bằng nói chung thì cần nghiên cứu thêm kinh nghiệm của một số quốc gia, châu lục đối với vấn đề này.
2. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý thiết bị điện tử tại phiên tòa
2.1. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu và Đức
Kinh nghiệm tại một số quốc gia cho thấy, việc cấm mang hoặc cấm sử dụng điện thoại, máy tính trong phòng xử án không phải là một hạn chế đối với quyền được xét xử công bằng (right to a fair trial). Ngược lại, trong nhiều trường hợp, các Tòa án của một số quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (ví dụ như Tòa án Đức) và cả Tòa án Nhân quyền châu Âu (European Court of Human Rights - ECtHR) coi đây là một biện pháp quản lý tố tụng hợp pháp nhằm bảo vệ quyền được xét xử công bằng và tính toàn vẹn của hoạt động tư pháp.
Theo Công ước châu Âu về Quyền con người (European Convention on Human Rights - ECHR), quyền xét xử công bằng (Điều 6) quy định về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi Tòa án độc lập, vô tư, người bị buộc tội được bảo đảm quyền bào chữa; quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị việc bào chữa; quyền được thông báo kịp thời, chi tiết và bằng ngôn ngữ mà họ hiểu được về bản chất và lý do của cáo buộc chống lại họ; quyền được hỗ trợ phiên dịch miễn phí; quyền đối chất, triệu tập nhân chứng. ECHR không quy định cụ thể những người tham gia tố tụng có quyền sử dụng điện thoại, máy tính tại phiên tòa. Nói cách khác, nếu việc hạn chế thiết bị điện tử không làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các quyền tố tụng, không cấu thành vi phạm quyền được xét xử công bằng. Hơn nữa, ECHR cũng quy định “Bản án phải được tuyên công khai, nhưng báo chí và công chúng có thể bị hạn chế tham dự một phần hoặc toàn bộ phiên tòa vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vì lợi ích của người chưa thành niên hay việc bảo vệ đời tư của các bên đương sự đòi hỏi điều đó, hoặc trong phạm vi thực sự cần thiết theo nhận định của Tòa án đối với những trường hợp đặc biệt mà việc công khai có thể gây tổn hại đến lợi ích của công lý” [6].
Theo Tòa án Nhân quyền châu Âu (European Court of Human Rights - ECtHR), việc đánh giá quyền xét xử công bằng được xem xét dựa trên tính công bằng của tòan bộ quá trình tố tụng mà không chỉ xem xét một biện pháp tố tụng đơn lẻ (án lệ Svetina v. Slovenia)[7].
Việc hạn chế các bên tham gia phiên tòa sử dụng điện thoại, máy tính xách tay tại phiên tòa cũng được ghi nhận tại án lệ của Đức. Trong một vụ việc, Tòa án địa phương đã ban hành lệnh duy trì trật tự phiên tòa không đồng ý cho một nhà báo yêu cầu được sử dụng máy tính cá nhân trong phòng xử án hình sự vào năm 2008 (vụ án 1 BvQ 47/08, còn gọi là vụ án “Holzklotz”). Nhà báo đã khiếu kiện lệnh này vì cho rằng ảnh hưởng tới quyền tự do báo chí đã được hiến định. Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức bác yêu cầu này với các lập luận chính là lệnh cấm sử dụng máy tính cá nhân không cản trở đáng kể quyền tự do báo chí vì nhà báo vẫn được tham dự phiên tòa và ghi chép bằng phương tiện khác; nguy cơ máy tính cá nhân có camera, microphone hoặc khả năng truyền dữ liệu khiến việc thực thi quy định về cấm ghi âm, ghi hình theo Luật Tổ chức Tòa án của Cộng hòa Liên bang Đức (Điều 169) trở nên khó kiểm soát. Do đó, việc Tòa án không cho phép sử dụng máy tính tại phiên tòa là một biện pháp hợp lý để bảo đảm trật tự và việc thực thi pháp luật trong phòng xử án[8]. Ngoài vụ án trên, một số án lệ khác tại Đức cũng đã trao quyền cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quản lý phòng xử án, gồm quyền sử dụng thiết bị điện tử, ghi âm, ghi hình. Đối với việc ghi âm, ghi hình trước và sau phiên tòa nhằm mục đích đưa tin công khai, Thẩm phán chủ tọa phải cân nhắc việc cho phép. Việc xem xét cho phép ghi âm, ghi hình cần dựa trên sự cân bằng giữa nhu cầu giám sát của công chúng đối với phiên tòa và quyền được bảo vệ bí mật nhân thân của những người tham gia phiên tòa, quyền được xét xử công bằng[9]. Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án của Đức (Gerichtsverfassungsgesetz-GVG), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người có thẩm quyền quyết định về trật tự phiên tòa[10].
Mặc dù có án lệ về thẩm quyền của Tòa án như vậy, nhưng Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức đã có hướng dẫn dành cho việc tham gia phiên tòa (tương tự như nội quy phiên tòa của Việt Nam). Hướng dẫn này không hạn chế việc báo chí và chủ thể khác mang điện thoại, máy tính vào phiên tòa nhưng người mang vào phải bảo đảm không được sử dụng để gọi điện, không được gửi tin nhắn hoặc đăng mạng xã hội, không được truy cập Internet, máy tính cá nhân chỉ được sử dụng ở chế độ ngoại tuyến (offline) nếu được phép và bảo đảm không ghi âm, ghi hình hoặc truyền dữ liệu. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền quyết định việc mang vào và sử dụng thiết bị[11]. Thẩm quyền này phù hợp với Luật Tổ chức Tòa án của Đức. Để bảo đảm cho quyền xét xử công bằng, quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị việc bào chữa là những vấn đề mà Tòa án Đức chú trọng bảo đảm để thực thi nghiêm túc quy định Điều 6 của ECHR và Bộ luật Tố tụng hình sự của Đức[12]. Do đó, Tòa án Đức tạo điều kiện để luật sư được tiếp cận đầy đủ hồ sơ vụ án trước phiên xử, được sao chụp hoặc nhận bản điện tử, có thời gian nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên tòa.
Một vấn đề đáng quan tâm khác là quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Tòa án của Đức không có sự phân biệt áp dụng quy định giữa luật sư, công tố và những người tham gia phiên tòa khác. Như vậy, việc hạn chế sử dụng điện thoại, máy tính xách tay tại phiên tòa được áp dụng chung cho các bên tham gia phiên tòa.
2.2. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Khác với Đức, việc sử dụng điện thoại, máy tính tại phiên tòa ở Hoa Kỳ tùy theo nội quy của từng Tòa án và sự cho phép của Thẩm phán mà không có sự thống nhất trên tòan quốc[13]. Ví dụ, Tòa Phúc thẩm thuộc Tòa án tối cao bang New York cho phép việc mang thiết bị điện tử vào phòng xét xử nhưng không để phát ra âm thanh, không gây xao lãng hay làm gián đoạn hoạt động xét xử. Luật sư hoặc đương sự có thể sử dụng thiết bị điện tử cá nhân trong phòng xử án trong quá trình tranh tụng vụ việc của mình để tham khảo ghi chú, bản tóm tắt vụ việc hoặc hồ sơ vụ án, cũng như để ghi chép trong quá trình tranh tụng. Tuyệt đối không được sử dụng thiết bị điện tử cầm tay để thực hiện hoặc nhận cuộc gọi điện thoại trong phòng xử án. Không ai được phép sử dụng bất kỳ thiết bị ghi hình hoặc ghi âm nào để chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, truyền tải hoặc phát sóng trực tiếp trong khuôn viên Tòa án nếu chưa có sự đồng ý của Chánh án, Thẩm phán đang điều hành phiên tòa hoặc Thư ký Tòa án[14].
Ngược lại, nội quy của Tòa án tối cao Illinois cho phép việc mang thiết bị điện tử vào trong khuôn viên của Tòa án nhưng không được phép sử dụng trong phòng xét xử. Các thiết bị điện tử phải tắt hoặc chế độ im lặng trừ những người được Tòa án cho phép. Người vi phạm có thể bị tịch thu thiết bị điện tử[15]. Tương tự như vậy, các Tòa án tại Quận Tây Louisiana[16], Tòa phúc thẩm Khu vực Đặc khu Columbia (D.C.). Các[17] nội quy này cũng đều quy định về thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho phép việc sử dụng các thiết bị điện tử khi cần thiết. Riêng đối với Tòa phá sản tại Tòa phúc thẩm Khu vực Đặc khu Columbia (D.C.) thì luật sư và các bên có thể sử dụng thiết bị điện tử để nhận dữ liệu (như email, tin nhắn) và tra cứu trên Internet[18].
Tòa án Phúc thẩm cấp liên bang Khu vực 9 (Ninth Circuit) được đánh giá là Tòa án có tư tưởng tiến bộ, đã cho phép người tham dự phiên tòa có thể mang các thiết bị điện tử vào trong phòng xử nhưng không được gọi điện, chụp ảnh, ghi âm, quay phim hoặc truyền tải âm thanh, hình ảnh bên trong phòng xử. Những hành vi này chỉ có thể thực hiện trong khuôn viên Tòa án mà không được thực hiện bên trong phòng xét xử. Người vi phạm có thể bị xử lý vì lỗi coi thường Tòa án hoặc vi phạm quyền riêng tư[19]…
Như vậy, việc sử dụng thiết bị điện tử ở Tòa án tại Hoa Kỳ rất đa dạng; tuy nhiên, nhìn chung, việc sử dụng thiết bị trong phiên tòa phải được sự cho phép của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nhưng không được gọi điện, chụp ảnh, ghi âm, quay phim hoặc truyền tải âm thanh, hình ảnh bên trong phòng xử. Tương tự như ở Đức, các nội quy của Tòa án được tham khảo tại Hoa Kỳ không có sự phân biệt giữa luật sư, công tố và những người tham gia phiên tòa khác. Việc hạn chế sử dụng điện thoại, máy tính xách tay tại phiên tòa được áp dụng chung cho các bên tham gia phiên tòa mà không có quy định riêng nào cho công tố viên.
3. Một số đề xuất đối với Việt Nam
Qua những kinh nghiệm nêu trên, có thể thấy, quy định của Thông tư số 12 về hạn chế sử dụng thiết bị điện tử có khả năng truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số; ví dụ: điện thoại, máy tính bảng, máy tính xách tay, đồng hồ thông minh, thiết bị khác có tính năng ghi âm, ghi hình, thu phát tín hiệu điện tử (như điện thoại, máy tính cá nhân) cũng có nhiều điểm tương đồng với quy định và thông lệ tại Liên minh châu Âu, Đức và Hoa Kỳ. Điểm khác biệt đáng kể giữa Thông tư số 12 và quy định của các quốc gia này là “việc sử dụng thiết bị điện tử để tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, xét xử trực tuyến hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp đối với người tham gia tố tụng phải theo sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp” mà không quy định đối với “người tiến hành tố tụng khác” (ví dụ như Kiểm sát viên).
Để triển khai có hiệu quả quy định tại Thông tư số 12, tác giả xin nêu một số giải pháp sau:
- Thứ nhất, Thông tư số 12 đã trao quyền cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp trong việc quyết định việc sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp tương tự như kinh nghiệm tại Đức và Hoa Kỳ. Kinh nghiệm ở hai quốc gia này cũng cho thấy hệ thống Tòa án của mỗi quốc gia đều có những hướng dẫn, giải thích rất cụ thể đối với việc áp dụng quy định về hạn chế sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp để vừa bảo đảm quyền được xét xử công bằng và quyền được bảo vệ bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được hiến định tại từng quốc gia. Việc hướng dẫn cụ thể sẽ giúp cho Thẩm phán giảm bớt áp lực phải xác định việc không cho phép hoặc cho phép sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa, phiên họp cũng như không bị “máy móc” áp dụng nội quy mà có thể ảnh hưởng đến chất lượng của công tác xét xử, đối với các loại vụ án, vụ việc khác nhau (hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, phá sản). Kinh nghiệm của Hoa Kỳ cho thấy, trong các phiên họp trong thủ tục phá sản (bao gồm cả giai đoạn phục hồi), những người tham gia thủ tục này, gồm luật sư, quản tài viên, chủ nợ, bên mắc nợ (doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán) cần phải làm việc với những hồ sơ, tài liệu đã được dữ liệu hoá trên môi trường điện tử hoặc phải tính toán bằng thiết bị điện tử. Việc hạn chế mang thiết bị điện tử tại các phiên họp này cũng có thể làm hạn chế khả năng giải quyết vụ việc của Tòa án và các bên liên quan. Do đó, việc hướng dẫn cụ thể và tập huấn chi tiết, thấu đáo nội dung của Thông tư số 12 trong các tình huống là rất cần thiết.
- Thứ hai, để tạo điều kiện cho người bào chữa có thể thực hiện tốt vai trò bào chữa khi mà nội quy phiên tòa hạn chế việc sử dụng thiết bị điện tử, Tòa án cần tạo điều kiện để người bào chữa có thể tiếp cận được hồ sơ, chứng cứ sớm để họ có đủ thời gian để thực hiện tốt vai trò của mình, đúng với tinh thần tại ICCPR. Các luật sư cũng cần được trang bị các kỹ năng thực hành công việc bào chữa khi không có thiết bị điện tử kèm theo để thực hiện công việc tra cứu hồ sơ từ máy tính cũng như tra cứu trên Internet.
- Thứ ba, để Thẩm phán có thể: “bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác” (khoản 1 Điều 257 Bộ luật Tố tụng hình sự); “bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự” (khoản 2 Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự); “mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính trước Tòa án” (khoản 2 Điều 17 Luật Tố tụng hành chính); “bảo đảm cho việc giải quyết, xét xử được tiến hành bình đẳng, dân chủ” trong việc tổ chức phiên tòa, phiên họp theo nguyên tắc tổ chức phiên tòa, phiên họp (khoản 3 Điều 3 Thông tư số 12), Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể hơn để các Thẩm phán để thực hiện thống nhất các nguyên tắc khi xem xét việc sử dụng thiết bị điện tử để tra cứu hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, xét xử trực tuyến hoặc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp. Thực tiễn cho thấy, Kiểm sát viên được tạo điều kiện thuận lợi hơn người bào chữa về thời gian trong việc tiếp cận hồ sơ, chứng cứ, tài liệu của vụ án do vai trò, chức năng của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng được luật định. Do đó, Kiểm sát viên cũng cần được chuẩn bị các kỹ năng thực hành quyền công tố khi không có thiết bị điện tử kèm theo như người bào chữa.
- Thứ tư, các nhà báo cũng cần được tập huấn về đưa tin diễn biến tại phiên tòa, phiên họp sao cho không ảnh hưởng tới quyền được bảo vệ bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được hiến định cũng như các kỹ năng báo chí khi không có thiết bị điện tử được sử dụng tại phiên tòa, phiên họp.
Kết luận
Kinh nghiệm của Đức và Hoa Kỳ cho thấy kiểm soát thiết bị điện tử trong phòng xử án là một biện pháp quản lý tố tụng phổ biến, minh bạch và bình đẳng. Vì vậy, việc thi hành Thông tư số 12 phải đồng thời bảo vệ trật tự, sự tôn nghiêm của phiên tòa, quyền riêng tư và các điều kiện thực chất để thực hiện quyền bào chữa; qua đó đòi hỏi hướng dẫn áp dụng thống nhất, tiếp cận hồ sơ kịp thời và chuẩn bị nghiệp vụ đầy đủ.
[1] Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp.
[2] Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013.
[3] Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013.
[4] Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp 2013.
[5] Nguyễn Hưng Quang, Báo cáo quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, Chương trình phát triển Liên hợp quốc, 2010, tr.10-11.
[6] European Convention on Human Rights, Article 6.
[7] European Court of Human Rights, Svetina v. Slovenia (no. 38059/13), https://laweuro.com/?p=7663.
[8] Bundesverfassungsgericht, Laptop-Benutzung kann in Hauptverhandlung versagt werden, 2008, https://www.bundesverfassungsgericht.de/SharedDocs/Pressemitteilungen/DE/2008/bvg08-104.html.
[9] Bundesverfassungsgericht, Filming in the courtroom before and after a criminal trial hearing for the purposes of TV reporting must in principle be allowed if the public has a weighty interest in obtaining information about the trial, 2008, https://www.bundesverfassungsgericht.de/SharedDocs/Pressemitteilungen/DE/2008/bvg08-104.html.
[10] German Court Constitution Act, Section 176. Bản dịch tiếng Anh tại https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gvg/englisch_gvg.html.
[11] Bundesverfassungsgericht, Accreditation conditions and information for journalists and visitors concerning the oral hearing in the “ESM/ECB” principal proceedings,
https://www.bundesverfassungsgericht.de/SharedDocs/Pressemitteilungen/EN/2013/bvg13-036.html.
[12] German Code of Criminal Procedure Code, Section 147. Bản dịch tiếng Anh tại https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_stpo/englisch_stpo.html.
[13] Robyn Hagan Cain, Five Things to Know About Ninth Circuit Rules for Phones, 2019, Findlaw, https://www.findlaw.com/legalblogs/ninth-circuit/five-things-to-know-about-ninth-circuit-rules-for-phones/.
[14] Supreme Court of the State of New York, Appellate Division: Fourth Judicial Department, Portable Electronic Device Use at the Courthouse, 2018, https://www.nycourts.gov/courts/ad4/clerk/Notice-PR/2018-04-04-portable-electronic-device-policy.shtm.
[15] In the Circuit Court of the Sixth Judicial Circuit Champaign County, Illinois, County Administrative Order 2022-1-Amended, Policy on Portable Electronic Device, 2022, https://www.champaigncountyil.gov/CircuitCourt/PDFS/2022-01_Portable_Electronic_Devices.pdf.
[16] United States District Court Western District of Louisiana, https://www.lawd.uscourts.gov/possession-and-use-electronic-devices-courthouse.
[17] United States Court of Appeals for the District of Columbia Circuit, https://www.cadc.uscourts.gov/electronic-device-policy-us-courts-dc-circuit.
[18] United States Court of Appeals for the District of Columbia Circuit, https://www.cadc.uscourts.gov/electronic-device-policy-us-courts-dc-circuit.
[19] Robyn Hagan Cain, Five Things to Know About Ninth Circuit Rules for Phones, 2019, Findlaw, https://www.findlaw.com/legalblogs/ninth-circuit/five-things-to-know-about-ninth-circuit-rules-for-phones/.
TAND khu vực 1 (Thái Nguyên) xét xử vụ án "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - Nguồn: Báo Thái Nguyên.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Có căn cứ xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bị vô hiệu
-
TAND tối cao lưu ý hai sai sót cần tránh khi giải quyết án hình sự
-
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: Nửa thế kỷ phụng sự công lý, vững bước trong kỷ nguyên mới
-
Kiểm soát việc mang, sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa - Nhìn từ khoản 3 Điều 4 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC
-
Không tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu khi đương sự không có yêu cầu
Bình luận