Lịch sử chế định kiểm soát vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong pháp luật hình sự Việt Nam

Vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là một loại “tài sản đặc biệt”, có lịch sử gắn liền với lịch sử phát triển của con người từ xã hội nguyên thủy sơ khai đến xã hội hiện đại ngày nay. Do đặc tính công năng, giá trị sử dụng của loại “tài sản đặc biệt” này mà các nhà nước trong lịch sử luôn đặt ra các quy định về chế độ kiểm soát quản lý, sử dụng một cách nghiêm ngặt. Theo mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, tại Việt Nam, chế định kiểm soát vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự cũng có sự thay đổi, phát triển khác nhau.

Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển các loại vũ khí, khí tài, phương tiện kỹ thuật quân sự gắn liền với lịch sử phát triển của con người từ thuở sơ khai đến thế giới hiện đại ngày nay và sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lại mà con người hiện đại của chúng ta ngày nay cũng khó có thể đoán định; nhất là trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển bùng nổ, dần có mặt trong hầu hết các sản phẩm công nghệ như hiện nay. Nhóm chuyên gia đến từ Bảo tàng Vũ khí Hoàng gia Anh, Viện Smithsonian và các bảo tàng hàng đầu khác đã nghiên cứu và tổng hợp được hơn 1750 loại vũ khí, giáp trụ, xe cộ và công sự của lịch sử quân sự loài người trong cuốn Lịch Sử Quân Sự - Bách khoa thư Các loại vũ khí định hình Thế giới[1]. Do đặc tính công năng, giá trị sử dụng đặc biệt của các loại vũ khí, khí tài, phương tiện chiến đấu này nên việc kiểm soát chặt chẽ trong quản lý, sử dụng sẽ luôn là vấn đề được đặt ra trên cơ sở thực tế khách quan. Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và hoàn thiện chế kiểm soát vũ khí và khí tài quân dụng có ý nghĩa quan trọng cho việc đánh giá, tổng kết và tiếp tục hoàn thiện chế định này trong thời gian tới.

1. Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong giai đoạn trước năm 1985

1.1. Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong giai đoạn trước năm 1945

Pháp luật hình sự Việt Nam trong xã hội phong kiến có sự phát triển và tiến bộ theo mỗi giai đoạn của lịch sử các triều đại nối tiếp nhau đó như Bộ Hình thư (năm 1042) đời Lý, đời Trần, Bộ Quốc Triều hình luật hay còn gọi là luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông (1460-1497), Thời nhà Mạc thế kỷ XVI ban hành Bộ luật Hồng Đức thiện chính thư cơ bản kế thừa luật từ thời Hồng Đức. Thời Lê Trịnh có bộ Quốc triều khám tụng điều lệ, đến đời nhà Nguyễn ban hành Bộ Hoàng Việt luật lệ, thường được gọi là luật Gia Long, Bộ luật này được thực thi trong các đời vua của nhà Nguyễn cho đến năm 1933 thì bị thay thế bởi Bộ Hoàng Việt hình luật do chính quền bảo hộ Pháp tại Việt Nam ban hành, có tên gọi bằng tiếng Pháp là Code Penal l’Annam được in vào năm Bảo Đại thứ 8 (1933) được thi hành trên xứ Trung kỳ, tại xứ Bắc kỳ thi hành theo Bộ Luật hình An Nam (1921) và xứ Nam kỳ thì thi hành theo Bộ hình luật pháp tu chỉnh (2012) hay còn gọi là Canh cải (Bộ luật này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Bộ luật hình sự của Pháp năm 1810)[2], ngoài ra còn có các Chiếu, Lệnh của nhà vua và những Bộ Hội điển mang tính chất tập hợp hóa các Chiếu, Lệnh này.

Bộ Hoàng Việt hình luật (1933) gồm có 29 chương, 424 điều, có nghị định của Toàn quyền Đông Dương và chỉ dụ của vua Bảo Đại về việc thi hành bộ luật này. Tại Chương XII Nói về tội đại hình và tội trừng trị làm rối sự trật tự của công cộng (được đặt ngay sau Chương XI Những tội xâm phạm đến đức Hoàng đế, Hoàng thân, và cuộc trị yên của nhà nước), Mục thứ II Khí giới và dược đạn – Chế tạo và lưu trữ những cơ khí dùng để sát thiêu và các chất nổ gồm có 5 điều, từ Điều 120 đến Điều 124 quy định về các tội liên quan đến vũ khí và chất nổ

Tại Mục thứ I Những việc bạo hành, âm mưu làm rối trật tự công chúng - việc dấy loạn của Chương XII này còn có các Điều 112, Điều 114, Điều 115[3] quy định các hành vi nếu có dùng khí giới trong khi làm phiến động, phiến loạn hoặc chiếm, cướp lấy khí giới, đạn dược đều là những tình tiết tăng nặng, có thể bị xử phạt đến tử hình, riêng tại Điều 113 giải thích khái niệm về khí giới như sau: “Gọi là khí giới chẳng phải là súng ống và các khí giới sắc nhọn mà thôi mà những gậy to và những vật gì có thể làm cho người bị thương, thời cũng gọi là khí giới nữa. Những con dao con và các đồ bỏ túi, các gậy thường dùng và gậy chống để đi thời chỉ khi nào đem ra làm cho người ta bị thương thời mới gọi là khí giới.”

Tìm hiểu tư liệu trên báo chí thời điểm đó có thể cho chúng ta có cái nhìn khá rõ về vấn đề kiểm soát vũ khí, đạn dược. Bài viết “Dùng súng không có giấy phép” đăng trên tờ Hà Thành ngọ báo số 628 ngày 07/9/1929 có nội dung “SƠN TÂY, 7 SEPTEMBRE. – Chú An - độ Harman-Singh, coi đồn-điền Phú-mẫu (Sơn Tây)” dùng một khẩu súng một nòng kiểu Gras không có giấy phép nên bị bắt. Harman-Singh khai súng ấy của ông chủ là Ô. Augé đưa cho coi đồn điền. Hiện khẩu súng này đã phải đem ra tòa-án trừng-trị để quan trên xét xử”[4]. Việc đăng ký giấy phép sử dụng súng cũng được quy định khá chặt chẽ, “buộc mỗi năm phải trình giấy súng cho quan trên thị nhận…và định hạn cho phép dùng là năm năm…Thuế về sự phát giấy súng đó là 5p.00. Thuế về sự thay lại giấy súng đó là 5p.00. Thuế về sự thị nhận mỗi năm là 0p.50”[5].

Qua những tư liệu trên cho thấy việc xử lý tội phạm liên quan đến sở hữu súng đạn, khí giới trái phép của thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn ở giai đoạn này là rất nghiêm khắc, không những chỉ có hình phạt tù, tịch biên vật phạm pháp mà còn có cả hình thức phạt tiền đối với cá nhân cũng như tổ chức có liên quan (như pháp nhân thương mại ngày nay); cấu thành tội phạm đã có sự phân hóa tội phạm khá cao, quy định thành một mục riêng gồm nhiều điều luật quy định cụ thể đối với các hành vi tội phạm khác nhau liên quan đến binh khí và cơ giới khí.

1.2. Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1985

Ngay từ những ngày đầu giành được chính quyền về tay Nhân dân, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành một loạt các Sắc lệnh và Thông tư quan trọng, trong đó có Thông tư về việc cho phép các tư gia mua súng ngày 10/9/1945, thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký ban hành Thông tư này.[6] Thông tư này thể hiện Nhà nước cho phép người dân được phép sở hữu súng để giữ nhà, không cho phép người dân không có nhiệm vụ thừa hành công vụ được mang súng ra ngoài khỏi nhà. Những người được phép mang súng đi đường thì phải là thừa hành công vụ và có giấy phép riêng. Việc cấp phép mua súng phải trải qua quá trình điều tra về nhân thân một cách chặt chẽ.

Sau khi kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành nhiều văn bản để xiết chặt việc quản lý vũ khí. Ngày 17/9/1954 Thủ tướng Chính phủ ban hành Bản Điều lệ tạm thời số 392-TTg về việc quản lý các loại vũ khí. Đến ngày 11/4/1956, Thủ trướng Chính phủ ban hành Quyết định số 736-TTg Bổ khuyết Bản Điều lệ tạm thời số 392-TTg về việc quản lý các loại vũ khí. Việc tiếp tục quản lý chặt các loại vũ khí, đặc biệt là vũ khí quân dụng được Hội đồng Chính phủ ban hành bằng Nghị định số 175/CP ngày 11/12/1964, đây là văn bản đầu tiên có khái niệm vũ khí quân dụng. Có thể nói Nghị định này là văn bản tiền thân của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ hiện nay. Tại Điều 2 quy định rõ vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng là tài sản của Nhà nước và do Nhà nước phân phối, trang bị cho các lực lượng vũ trang, các đội bắn súng thể thao quốc phòng và các cơ quan Nhà nước để chiến đấu bảo vệ trị an, luyện tập và thi đấu. Cá nhân không được quyền có vũ khí riêng. Bất cứ ai có vũ khí riêng, không kể do nguồn gốc nào mà có, đều phải kê khai và nộp cho cơ quan Công an hoặc cơ quan quân sự địa phương từ cấp huyện trở lên.

Đến năm 1984, trước thời điểm Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1985 ra đời, Hội đồng bộ trưởng (Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 94-HĐBT ngày 02/7/1984 quy định bổ sung các Nghị định số 175-CP ngày 11/12/1964 và số 33-CP ngày 24 tháng 2 năm 1973 về quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng, tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ để tăng cường công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ, bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, phục vụ công tác, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Về vấn đề xử lý hình sự và hình phạt đối với các tội liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự ở thời điểm trước năm 1985 tại Việt Nam cơ bản được thực hiện thông qua các Sắc lệnh khác nhau, không có một tội danh độc lập, rõ ràng với khung hình phạt riêng. Thường được ghép với các tội danh như chống phá Nhà nước hoặc gây rối trật tự công cộng nghiêm trọng hoặc xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa[7] .v.v. Mức hình phạt rất nghiêm khắc, có thể bị xử lý theo tội phạm an ninh quốc gia với mức phạt từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân, hoặc tử hình.

2. Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong các Bộ luật Hình sự trước năm 2015

2.1. Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong Bộ luật Hình sự năm 1985

Đây là lần đầu tiên chế định xử lý tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được pháp điển hoá tại Điều 95 thuộc Chương 1 Các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự năm 1985. Để áp dụng đúng đắn và thống nhất các quy định của Điều 95 Bộ luật hình sự về tội "chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự" và Điều 96 Bộ luật hình sự về tội "chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ", Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 hướng dẫn áp dụng Điều 95 và Điều 96 BLHS năm 1985. Theo Thông tư này thì vũ khí quân dụng bao gồm các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh các cỡ, các loại súng lớn, các loại vũ khí tự động, các loại đạn dùng cho các loại vũ khí trên và các thứ bom, mìn, lựu đạn, kíp mìn, thuốc nổ được quy định tại điểm a Điều 1 Nghị định số 175/CP ngày 11-12-1964. Phương tiện kỹ thuật quân sự là các loại xe, khí tài, phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Như vậy, tại thời điểm này vũ khí quân dung, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định rất rõ ràng phải là những trang bị được dùng cho nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng, an ninh của lực lượng vũ trang, những vật phẩm như kíp mìn, thuốc nổ, dây nổ dùng trong sản xuất kinh tế thì được coi là chất nổ - đối tượng của tội phạm quy định tại Điều 96 Bộ luật hình sự.

2.2.  Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong Bộ luật Hình sự năm 1999

Điều 230 của BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự so với Điều 95 của BLHS năm 1985 có số khoản tăng từ 3 lên 5 khoản, trong đó có bổ sung khoản 5 là các hình phạt bổ sung như có thể bị phạt tiền, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. Đã tội phạm hoá hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Hình phạt tử hình đã được bỏ và có thêm tình tiết tăng nặng “vận chuyển, mua bán qua biên giới” và số lượng vật phạm pháp có thêm tình tiết số lượng “rất lớn”, “đặc biệt lớn”, về hậu quả có thêm tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng” và “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Điều 230 bổ sung các tình tiết tăng nặng này giúp việc phân hóa mức độ nghiêm trọng của hành vi được rõ ràng hơn, thu hẹp khoảng cách giữa mức hình phạt tối đa và tối thiểu trong khung hình phạt. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn khá chung chung, định tính.

3. Chế định tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 304 thuộc Chương XXI Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.

Theo đó, đối tượng tác động của tội phạm được quy định tại Điều 304 BLHS năm 2015 là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Luật Quản lý vũ khí năm 2024. Điều 304 quy định 6 nhóm hành vi, và cũng là 6 tội danh độc lập, gồm: (1) Tội chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; (2) Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; (3) Tội vận chuyền trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; (4) Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; (5) Tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; (6) Tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi nhất định và tội phạm này có lỗi cố ý.

4. Một số vấn đề chưa hợp lý trong khái niệm vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện nay và kiến nghị, đề xuất

4.1. Những điểm chưa hợp lý trong khái niệm vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

Quá trình nghiên cứu lịch sử hình thành các chế định quản lý, xử lý vi phạm, tội phạm liên quan đến vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, nghiên cứu các bản án liên quan đến chế định này theo quy định của pháp luật hình sự đã được công bố trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và thực tiễn công tác tại cơ quan giám định kỹ thuật hình sự của Bộ Quốc phòng, tác giả nhận thấy việc cơ quan lập pháp liên tục có sự sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật về quản lý vũ khí trong thời gian qua nhưng vẫn chưa giải quyết được đúng tận gốc của vấn đề đang diễn ra trên thực tiễn.

Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 (Luật số 42/2024/QH15) mở rộng khái niệm vũ khí quân dụng cơ bản nhằm mục đích có thể xử lý được các hành vi phạm pháp luật có liên quan mà không thể xử lý được theo Điều 306 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điều này dẫn tới khái niệm này đang rời xa nội hàm của cụm từ “vũ khí quân dụng” như tác giả đã tìm hiểu trong lịch sử của khái niệm này. Mặt khác, thực tiễn các kết luận giám định về nội dung vũ khí quân dụng hiện nay đang có sự không thống nhất trong các tổ chức giám định kỹ thuật hình sự. Ví dụ, đối với các trường hợp để kết luận là vũ khí quân dụng thuộc điểm d, khoản 2 Điều 2 của Luật số 42/2024/QH15 thì cần điều kiện về mục đích sử dụng công cụ để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật. Yếu tố chứng minh về mục đích sử dụng thuộc về cơ quan trưng cầu giám định, trong khi cơ quan giám định, giám định viên chỉ nghiên cứu, kết luận về đối tượng được gửi giám định. Vậy, việc kết luận đối tượng được gửi giám định có phải là vũ khí quân dụng hay không sẽ thuộc về cơ quan nào, cơ quan trưng cầu giám định hay cơ quan được trưng cầu giám định.

Mặt khác, các đối tượng quản lý như súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao,… theo điểm d, khoản 2 Điều 2 của Luật số 42/2024/QH15 là đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 306 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta hoàn toàn có thể sửa lại cấu thành cơ bản của Điều 306 để có thể xử lý được các tội phạm liên quan đến các loại vũ khí này một cách hợp lý mà không cần phải điều chỉnh về xử lý theo Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như hiện nay.

Đối với khái niệm phương tiện kỹ thuật quân sự hiện nay chưa có văn bản pháp lý nào quy định rõ về vấn đề này, trong khi đây là đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông tư số 18/2021/TT-BQP ngày 29/01/2021 của Bộ Quốc phòng quy định Danh mục nhóm trang bị kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam[8], đây là văn bản mật, có giới hạn chủ thể được tiếp cận, điều này dẫn tới việc để kết luận đối tượng giám định có phải là phương tiện kỹ thuật quân sự hay không cũng là vấn đề lớn đang đặt ra hiện nay.

4.2. Một số kiến nghị, đề xuất

Trên cơ sở các phân tích liên quan đến lịch sử chế định kiểm soát vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong pháp luật hình sự Việt Nam và những điểm hạn chế, chưa hợp lý trong khái niệm vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự như trên, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần dựa trên nguyên tắc vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là các loại trang bị thực tế cho lực lượng vũ trang và các lực lượng thực thi pháp luật thuộc danh mục ban hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng  để quy định như một số quy định trước đây liên quan đến tội phạm này.Cụ thể, cần sửa lại khái niệm vũ khí quân dụng tại Luật quản lý vũ khí năm 2024 theo hướng những vũ khí được quy định trong định nghĩa này hoàn toàn là những vũ khí thuộc danh mục ban hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các loại vũ khí chiến đấu khác tuy không có trong trang bị của Việt Nam nhưng có nguyên lý hoạt động, giá trị sử dụng trong tác chiến, chiến đấu, gây sát thương, phá hủy kết cấu vật chất như các loại “vũ khí” tác chiến điện tử, tác chiến không gian mạng, không gian vũ trụ…vũ khí hủy diệt hàng loạt để bảo đảm tính bao quát trong quản lý toàn bộ các nguồn vũ khí nguy hiểm này.

Thứ hai, tội phạm xảy ra đối với đối tượng là phương tiện kỹ thuật quân sự tuy không phổ biến nhưng cần thiết phải có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết về các trang bị này như đối với vũ khí quân dụng để tránh sự tùy nghi trong xác định đối tượng, mức độ quan trọng, giá trị sử dụng của đối tượng trong hoạt động nghiệp vụ cũng nhữ số lượng, trị giá tài sản của đối tượng bị xâm phạm trong việc xem xét định khung hình phạt hoặc ngăn chặn việc hình sự hóa quá mức cần thiết đối với vụ việc đã xảy ra.

Thứ ba, cần sửa đổi lại Điều 304 và Điều 306 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để đảm bảo sự linh hoạt trong xử lý hình sự đối với các loại tội phạm liên quan đến các loại đối tượng tác động này, việc sửa đổi cần đáp ứng được sự phân hóa tội phạm theo đúng chính sách hình sự của Việt Nam, vừa đảm bảo sự nghiêm khắc, có tính răn đe, nhưng đồng thời cũng đảm bảo tính nhân văn, khoan hồng, giáo dục cải tạo đối với các đối tượng phạm tội.

Thứ tư, trong khi các quy định đang có hiệu lực thi hành chưa được sửa đổi, đề nghị các cơ quan chức năng có liên quan đến hoạt động trưng cầu và hoạt động giám định kết luận về vũ khí quân dụng cần có sự phối hợp, tham mưu đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành hướng dẫn thống nhất về cách thức trả lời kết luận giám định đối với các trường hợp liên quan đến vũ khí quân dụng theo điểm d, khoản 2 Điều 2 của Luật số 42/2024/QH15 để sớm giải quyết sự không thống nhất trong các kết luận giám định của các tổ chức giám định tư pháp về kỹ thuật hình sự hiện nay.

 

ĐỖ VĂN HOÀN (Thượng tá, Trưởng phòng Giám định KTHS - Bộ Quốc phòng)

[1] Xem: Lịch Sử Quân Sự - Bách khoa thư Các loại vũ khí định hình Thế giới (2019), Nxb. Dân Trí, tr.12.

[2] Xem: Đinh Khắc Thuân (2021), Hoàng Việt hình luật, Nxb. Nhã Nam, Hồng Đức, Hà Nội, tr13, 14.

[3] Xem: Điều thứ 115. Trong khi phiến động hễ người nào hoặc là do dự hành hung hay dọa nạt, hoặc bởi sự cướp phá phố xá đồn sở, kho tàng, trại lính và các công sở, tư sở khác, mà chiếm lấy khí giới đạn dược hay là cướp lấy khí giới đạn dược của quan quân hay là các người tuần trấp thời bất cứ là chánh phạm hay là tòng phạm đều sẽ bị tội khổ sai từ 10 năm đến 20 năm.

[6] Xem: http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=JwvzO19450929.1.12&srpos=4&e

=-------vi-20--1--img-txIN-%22mua+s%c3%bang%22-----, truy cập ngày 30/11/2025.

[7] Xem: Pháp lệnh số 149-LCT ngày 21 tháng 10 năm 1970 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đinh việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.

[8] Xem: Thông tư số 18/2021/TT-BQP ngày 29/01/2021 của Bộ Quốc phòng thuộc danh mục tài liệu mật.

Cán bộ quản lý kho vũ khí của Ban CHQS TX Quảng Yên (Quảng Ninh) báo cáo tình trạng bảo quản, thông số kỹ thuật của vũ khí, trang bị kỹ thuật cho chỉ huy đơn vị - Ảnh: Lương Giang.