Một số hạn chế, vướng mắc trong quy định của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 và kiến nghị hoàn thiện

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26/11/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế cho Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đặt vấn đề

Kế thừa quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 xây dựng các quy định liên quan đến nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Nếu như Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 dành riêng 01 Chương (Chương V - Chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù) với 12 điều (từ Điều 49 đến Điều 60) thì đến Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã quy định rất cụ thể với kết cấu gồm IV Chương và 48 Điều. Đây thực sự là nỗ lực rất lớn của các nhà làm luật trong việc luật hóa các quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cũng như phù hợp với nguyên tắc có đi có lại, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

1. Một số điểm mới của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Một là, tại Điều 5 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã quy định: Bộ Công an được xác định là Cơ quan trung ương của Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; lập, gửi và tiếp nhận yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là điểm mới so với quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 khi lần đầu tiên, nhà làm luật đã xác định cụ thể về cơ quan trung ương của Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, có trách nhiệm làm đầu mối và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong quá trình chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Điều này giúp xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong việc thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, tránh chồng chéo, không rõ công việc.

Hai là, Điều 6 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã xác định về điều kiện áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đây là điểm mới, khi lần đầu tiên có văn bản pháp luật quy định cụ thể về điều kiện áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Nếu như Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 chỉ quy định căn cứ chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù thì đến Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã xác định về điều kiện áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Theo đó, việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện như: Tuân thủ nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này; Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu của Việt Nam trong trường hợp tương tự. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu chuyển giao, Bộ Công an có cam kết bằng văn bản về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại; Phù hợp với thực tiễn và nhu cầu hợp tác về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài. Đồng thời, giao thẩm quyền cho Bộ Công an quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Ba là, quy định cụ thể hơn về thủ tục tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, cũng như thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Xác định rõ thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam thuộc về Tòa án nhân dân khu vực nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được đề nghị chuyển giao; Tòa án nhân dân khu vực nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù có thẩm quyền quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Việc Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù quy định cụ thể về thủ tục tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, cũng như thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài đã góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật, giúp việc thực hiện trên thực tế được thuận lợi, tránh xảy ra chồng chéo, vi phạm pháp luật trong nước và quốc tế.

Bốn là, về chi phí thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và kinh phí bảo đảm công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng được quy định cụ thể, chi tiết hơn. Nếu như Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định tại Điều 60 về chi phí chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo hướng: Nước yêu cầu chuyển giao phải chịu mọi chi phí về chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp Việt Nam chịu chi phí chuyển giao thì chi phí đó do ngân sách nhà nước đảm bảo thì đến Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã xác định cụ thể hơn. Theo đó, Điều 10 và Điều 11 đã xác định, tùy từng trường hợp và tùy từng thời điểm, Việt Nam chi trả chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (trường hợp Việt Nam là nước chuyển giao, Việt Nam chi trả các chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phát sinh đến thời điểm bàn giao người đang chấp hành án phạt tù. Trường hợp Việt Nam là nước nhận, Việt Nam chi trả các chi phí trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù phát sinh từ thời điểm tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù). Kinh phí cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do ngân sách nhà nước bảo đảm.

Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã kế thừa, phát triển các quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, khắc phục những thiếu sót, vướng mắc đã được chỉ ra trước đó để xây dựng cụ thể hơn, chi tiết hơn nguyên tắc, trình tự, thủ tục tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, cũng như thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Điều này thực sự là cần thiết, đã đáp ứng được yêu cầu công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong tình hình mới, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cũng như phù hợp với nguyên tắc có đi có lại, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

2. Một số hạn chế, vướng mắc trong quy định của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và kiến nghị hoàn thiện.

Một là, về yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bổ sung thông tin, tài liệu

Điều 22 quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, nếu hồ sơ yêu cầu chuyển giao chưa đầy đủ thông tin, tài liệu hoặc có điểm chưa rõ hoặc có mâu thuẫn thì Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đề nghị Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu. Thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 20 ngày kể từ ngày Bộ Công an có văn bản yêu cầu”.

Quy định này là cần thiết, đảm bảo củng cố, bổ sung đầy đủ thông tin, tài liệu, làm rõ điểm chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong hồ sơ yêu cầu chuyển giao. Việc Tòa án đề nghị Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu là phù hợp, cần thiết. Tuy nhiên, việc áp dụng quy địnhu này có thể phát sinh vướng mắc.  Cụ thể, thời hạn để cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu là rất ngắn (20 ngày); trong khi đó, thời hạn giải quyết của Tòa án là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý. Tòa án khi bàn giao văn bản đề nghị Bộ Công an cũng cần thời gian và Bộ Công an cũng phải có thời gian nhất định mới có thể ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu. Đặt trường hợp, thời gian bàn giao văn bản đề nghị giữa Tòa án và Bộ Công an, cũng như từ Bộ Công an đến cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao bổ sung thông tin, tài liệu dẫn đến trường hợp hết thời hạn 30 ngày, thì Tòa án có thể viện dẫn căn cứ: “Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao không bổ sung thông tin, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này” (điểm d khoản 3 Điều 22) để ra Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và trả hồ sơ cho Bộ Công an hay không?

Để khắc phục vướng mắc, bất cập này, tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng quy định tại Điều 22 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tác giả đề xuất nội dung hướng dẫn như sau: Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao không bổ sung thông tin, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà không do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan” thì Tòa án quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Việc chứng minh sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thuộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao và việc đánh giá, chấp nhận hay không chấp nhận thuộc thẩm quyền của Thẩm phán được phân công xem xét yêu cầu.

Hai là, về thành phần phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Theo Điều 23 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên và Luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao. Điều 40 quy định, phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, ngoài thành phần nêu trên còn có người được đề nghị chuyển giao. Như vậy, thành phần dự phiên họp sơ thẩm không có sự tham gia của Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cũng như cơ quan có thẩm quyền của nước nhận.

Việc quy định như vậy có phần chưa phù hợp. Bởi lẽ, việc trình bày nội dung hồ sơ yêu cầu chuyển giao và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc chuyển giao nên để cho Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao, nước nhận chuyển giao trình bày sẽ khách quan và hợp lý hơn là Thẩm phán trình bày. Có thể xét đến yếu tố điều kiện địa lý, cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao cũng như cơ quan có thẩm quyền của nước nhận chuyển giao gặp trở ngại, khó khăn trong việc di chuyển, ảnh hưởng đến thời gian tổ chức phiên họp thì có thể thay đổi về phương thức triển khai, tuy nhiên, tác giả cho rằng, đây là thành phần bắt buộc phải  có.

Để khắc phục vướng mắc này, tác giả đề xuất cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng quy định này. Tác giả đề xuất cần hướng dẫn cụ thể: Phiên họp nên có đại diện của Bộ Công an tham dự để thực hiện việc trình bày nội dung hồ sơ yêu cầu chuyển giao và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc chuyển giao. Điều này là cần thiết và phù hợp với quy định tại Điều 5, khi xác định Bộ Công an là Cơ quan trung ương của Việt Nam về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đây là “đầu mối trao đổi thông tin, tài liệu liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; lập, gửi và tiếp nhận yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xem xét, giải quyết yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù…”.

Ba là, về thẩm quyền hủy quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù

Điều 27 quy định các trường hợp hủy quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù chưa có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực pháp luật, cũng như hủy quyết định thi hành quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù.

Điều 43 quy định các trường hợp hủy quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù chưa có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực pháp luật, cũng như hủy quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Thẩm quyền hủy các quyết định nêu trên thuộc về “Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền”. Câu hỏi đặt ra, vậy Chánh án Tòa án nhân dân nào có thẩm quyền hủy các quyết định này? Là Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã ban hành các Quyết định tiếp nhận, Quyết định chuyển giao, Quyết định thi hành quyết định hay là Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh? Điều 4 có đề cập đến việc áp dụng pháp luật và nguyên tắc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đây là vấn đề  chưa được quy định một cách cụ thể, rõ rang. Do đó, việc áp dụng có thể phát sinh vướng mắc và cần cớm được khắc phục.

Tác giả kiến nghị, cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định này. Theo đó, cần sớm có quy định cụ thể về thẩm quyền hủy các quyết định này để áp dụng thống nhất pháp luật, tránh xung đột pháp luật, sao cho phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự.

Bốn là, việc tống đạt quyết định tiếp nhận hoặc từ chối tiếp nhận, quyết định chuyển giao hoặc từ chối chuyển giao cho người được đề nghị chuyển giao hiện đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài

Các Điều 23 và 40 quy định: Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết định cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Bộ Công an, người được đề nghị chuyển giao, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có). Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trường hợp người được đề nghị chuyển giao đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài thì công tác tống đạt gặp khó khăn, không đảm bảo về thời hạn tống đạt. Để khắc phục vướng mắc này, tác giả đề xuất, cần sớm có văn bản hướng dẫn theo hướng quy định có thể tống đạt cho người được đề nghị chuyển giao thông qua Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao.

Kết luận

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 là văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh các nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; cũng như quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đặc biệt, đặt trong bối cảnh hiện nay, khi mà hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được các quốc gia ngày càng quan tâm, đẩy mạnh thực hiện. Điều này đòi hỏi hệ thống văn bản pháp lý cần sớm được bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy, để việc áp dụng các quy định của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 hiệu lực, hiệu quả, các nhà làm luật và các cơ quan có thẩm quyền sớm nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện và hướng dẫn thi hành. Đây là yêu cầu tất yếu, khách quan, để tránh vướng mắc, trùng lặp, chồng chéo và xung đột pháp luật trong thực tiễn thi hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025.

ThS. VŨ THỊ HÀ ANH (Chánh Văn phòng TAND khu vực 10 - Quảng Ngãi)

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.