Nâng mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền trong Bộ luật Hình sự - Tính hợp lý, khả thi và yêu cầu bảo đảm thống nhất trong xét xử
Increasing fine levels and monetary thresholds in the Penal Code - Reasonableness, feasibility, and the requirement of consistency in adjudication

(TCTA) - Nâng mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025), nhằm bảo đảm giá trị thực của chế tài và sự phù hợp của chính sách hình sự với những thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tiền và mức định lượng bằng tiền; khảo cứu kinh nghiệm của Vương quốc Anh, xứ Wales và Hoa Kỳ về phương thức xác định mức phạt tiền và điều chỉnh các mức định lượng bằng tiền trong pháp luật hình sự; đồng thời, đánh giá các sửa đổi về nâng mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) trên ba phương diện: tính hợp lý, tính khả thi và yêu cầu bảo đảm tính thống nhất trong xét xử.

 Đặt vấn đề

Bộ luật Hình sự (BLHS) là đạo luật nền tảng, trực tiếp xác định giới hạn của quyền trừng phạt nhà nước và tác động đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật không chỉ phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh mới, mà còn phải bảo đảm tính phù hợp của trách nhiệm hình sự (TNHS), bảo vệ quyền con người và tạo lập môi trường pháp lý an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Quá trình thảo luận dự án BLHS (sửa đổi) cho thấy, yêu cầu này được đặt trong bối cảnh rộng hơn của phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, đồng thời, gắn với định hướng hạn chế hình phạt tù trong những trường hợp không thật sự cần thiết[1]. Trong đó, nâng mức phạt tiền và điều chỉnh các ngưỡng định lượng bằng tiền, là một trong những nội dung nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học và cả xã hội.

Về cơ sở pháp lý, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) - sau đây gọi là BLHS năm 2015, đã thiết lập những căn cứ chung để quyết định hình phạt tiền. Xuất phát từ cơ sở phạt tiền là hình phạt tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người phạm tội, mà không nhất thiết tước bỏ,hoặc hạn chế tự do của họ, đặc điểm này tạo điều kiện để phạt tiền thực hiện đồng thời nhiều chức năng: thể hiện sự lên án của Nhà nước, tạo ra bất lợi kinh tế tương xứng với hành vi phạm tội, hạn chế việc người phạm tội tiếp tục hưởng lợi và góp phần giảm áp dụng hình phạt tù. Mặc dù Luật số 86/2025/QH15 đã nâng mức tiền phạt tại nhiều tội, nhưng chưa giải quyết triệt để vấn đề phương pháp xác định nâng mức phạt trong từng trường hợp cụ thể. Những vấn đề này cho thấy, cần tiếp tục nghiên cứu, nhằm tìm ra hướng quy định hợp lý nhất.

Yêu cầu này được cụ thể hóa rõ hơn trong Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Nghị quyết yêu cầu bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền và lợi ích chính đáng cần đạt được; đồng thời, nhấn mạnh việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá tác động chính sách phải được thực hiện thực chất, khoa học. Như vậy, các chủ trương và quy định nêu trên đặt ra hai yêu cầu cần được giải quyết đồng thời: bảo đảm hình phạt tiền có đủ sức trừng trị, răn đe và phòng ngừa; đồng thời, bảo đảm tính tương xứng, khả năng thi hành và không tạo ra sự bất bình đẳng quá mức do khác biệt về điều kiện kinh tế. Đây cũng là cơ sở để nghiên cứu tiến hành phân tích các quy định của BLHS, đánh giá thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tiền tại Việt Nam, đồng thời, so sánh với cơ chế xác định mức tiền phạt tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và xứ Wales nhằm phân tích phương thức tăng định lượng phạt phù hợp hơn.

1. Khái quát về hình phạt tiền và định lượng bằng tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam theo Bộ luật Hình sự năm 2015

 1.1. Khái quát về hình phạt tiền

Về phương diện lịch sử, hình phạt tiền có nguồn gốc từ các khoản bồi hoàn vật chất được sử dụng trong giai đoạn mà trả đũa và phục thù còn giữ vai trò quan trọng trong việc xử lý hành vi gây thiệt hại. Sau này, khi sự quản lý dần trao về cho Nhà nước, khoản tiền này được gọi là amercement (tạm dịch: sự nộp phạt) với cơ sở quản lý và áp dụng hoàn toàn khác biệt. Khi quyền áp dụng hình phạt được trao cho Nhà nước, căn cứ vào quyền và lợi ích mà người phạm tội bị tước bỏ hoặc hạn chế, hình phạt có thể được phân thành hình phạt tác động đến thân thể, hình phạt tước tự do, hình phạt hạn chế tự do và hình phạt về tài sản[2]. Trong cách phân loại này, phạt tiền thuộc nhóm hình phạt về tài sản (vì hậu quả trực tiếp của nó là làm giảm khối tài sản mà người bị kết án có quyền sử dụng). Theo Black’s Law Dictionary, phạt tiền được hiểu là hình phạt hình sự bằng tiền phải nộp vào ngân khố công[3].

Tại Việt Nam, mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam không đưa ra một định nghĩa pháp lý riêng về hình phạt tiền; hình phạt tiền thường được hiểu là hình phạt do Tòa án quyết định, buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định vào ngân sách nhà nước và có thể được áp dụng với tư cách hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Một số quan điểm còn xác định, phạt tiền là hình phạt không tước tự do,hoặc là hình phạt nhẹ hơn cải tạo không giam giữ[4]. Tuy nhiên, việc xác định một cách tuyệt đối rằng,phạt tiền luôn “nhẹ hơn” loại hình phạt khác chưa phản ánh đầy đủ bản chất của chế tài. Trong luật Celtic, Slav và Germanic cổ, các khoản tiền có thể được áp dụng ngay cả đối với hành vi xâm phạm tính mạng hoặc thân thể[5]. Từ đó, hình phạt tiền có thể được hiểu là biện pháp cưỡng chế hình sự do Tòa án áp dụng đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại (PNTM) bị kết án, buộc chủ thể đó phải nộp vào ngân sách nhà nước một khoản tiền nằm trong giới hạn do luật quy định, nhằm thực hiện mục đích trừng trị, giáo dục và phòng ngừa tội phạm[6].

Từ khái niệm trên, có thể xác định một số đặc điểm của hình phạt tiền.

Thứ nhất, hình phạt tiền là biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước, chỉ được Tòa án áp dụng đối với chủ thể bị kết án theo trình tự tố tụng hình sự. Khoản tiền phải nộp không đơn thuần là một nghĩa vụ tài chính, mà thể hiện sự lên án chính thức của Nhà nước đối với hành vi phạm tội. Chính tính chất lên án này phân biệt hình phạt tiền với một khoản thu ngân sách, nghĩa vụ dân sự hoặc biện pháp khắc phục hậu quả.

Thứ hai, hình phạt tiền thực hiện chức năng trừng phạt thông qua việc tạo ra bất lợi về kinh tế. Người bị kết án bị giảm khả năng sử dụng tài sản cho các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư hoặc duy trì mức sống. Tuy nhiên, mức độ bất lợi không chỉ phụ thuộc vào con số ghi trong bản án, mà còn phụ thuộc vào thu nhập, tài sản, nghĩa vụ tài chính và hoàn cảnh kinh tế của người bị kết án[7]. Cùng một mức phạt danh nghĩa có thể tạo ra hậu quả rất nhẹ đối với người có khả năng tài chính lớn, nhưng lại trở thành gánh nặng đặc biệt nghiêm trọng đối với người có thu nhập thấp. Vì vậy, sự bình đẳng về con số chưa đương nhiên tạo ra sự tương xứng về mức độ trừng phạt.

Thứ ba, hình phạt tiền được lượng hóa trực tiếp bằng đơn vị tiền tệ. Đặc điểm này tạo điều kiện để nhà làm luật xây dựng nhiều mức độ chế tài và để Tòa án cá thể hóa hình phạt trong giới hạn của từng khung. Tuy nhiên, khả năng lượng hóa cũng làm phát sinh yêu cầu phải xác định được mối quan hệ giữa ba yếu tố: tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm; điều kiện kinh tế của người phạm tội; và giá trị thực tế của đồng tiền tại thời điểm áp dụng. Nếu chỉ chú trọng đến hành vi phạm tội, mà không tính đến khả năng kinh tế, hình phạt có thể tạo ra gánh nặng bất bình đẳng. Ngược lại, nếu quá chú trọng đến khả năng chi trả, mà xem nhẹ mức độ nghiêm trọng của hành vi, hình phạt có thể không thể hiện đầy đủ sự lên án cần thiết.

1.2. Quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 2015

BLHS năm 2015 quy định phạt tiền là một hình phạt có thể được áp dụng đối với cả cá nhân và PNTM. Đối với cá nhân, khoản 3 Điều 35 yêu cầu mức tiền phạt phải được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động của giá cả; mức phạt đối với cá nhân không được thấp hơn 1.000.000 đồng. Đối với PNTM, khoản 2 Điều 77  quy định mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài chính của pháp nhân và sự biến động của giá cả, đồng thời, không được thấp hơn 50.000.000 đồng. 

Dựa trên căn cứ phân loại áp dụng hình phạt, khoản 1 Điều 35 BLHS năm 2015 quy định, phạt tiền được áp dụng với cá nhân là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và đối với một số tội rất nghiêm trọng được BLHS quy định. Ngoài ra, khoản 2 Điều 35 cho phép áp dụng phạt tiền với tư cách hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy và các tội phạm khác khi điều luật cụ thể có quy định. Đối với PNTM phạm tội, khoản 1 Điều 77 BLHS năm 2015 quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, với mức tiền cụ thể phải nằm trong giới hạn của khung hình phạt được quy định tại điều luật tương ứng. Trong cả hai trường hợp áp dụng hình phạt tiền đối với cá nhân và PNTM, quy định của BLHS đều thể hiện đúng yêu cầu mà lý luận đặt ra là kết hợp hai nhóm yếu tố: mức độ nghiêm trọng của tội phạm và điều kiện kinh tế, khả năng thi hành của người phạm tội[8].

2. Khái quát về mức định lượng bằng tiền và quy định về mức định lượng bằng tiền trong Bộ luật Hình sự năm 2015

2.1. Khái quát về định lượng bằng tiền

Định lượng bằng tiền trong luật hình sự có thể được hiểu là việc xác định ngưỡng hoặc khoảng giá trị bằng đơn vị tiền tệ, để lượng hóa giá trị của đối tượng tác động, lợi ích kinh tế thu được, thiệt hại hoặc thất thoát gây ra, nghĩa vụ tài chính bị vi phạm hoặc lợi ích vật chất liên quan đến hành vi, qua đó,xác định ranh giới phát sinh TNHS hoặc phân hóa mức độ TNHS. Trong luật hình sự, định lượng bằng tiền có các vai trò sau:

Thứ nhất, mức định lượng bằng tiền có tính chất là một tiêu chí pháp lý để xác định ranh giới TNHS. Khi được đặt trong cấu thành cơ bản, mức tiền có chức năng xác định ngưỡng, mà từ đó, hành vi đạt mức độ nguy hiểm cho xã hội cần thiết để bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Ở phương diện này, định lượng bằng tiền góp phần phân định giữa TNHS với các hình thức trách nhiệm pháp lý khác, đặc biệt là xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ hai, mức định lượng bằng tiền đồng thời là công cụ phân hóa TNHS. Giá trị tiền tệ không chỉ được sử dụng ở ngưỡng định tội, mà còn có thể được tiếp tục phân chia thành các khoảng khác nhau để xác định các khung TNHS có mức độ nghiêm trọng khác nhau. Về nguyên tắc, khi giá trị tài sản bị xâm hại, thiệt hại hoặc lợi ích bất chính tăng lên, thì mức độ nguy hiểm của hành vi cũng có thể được nhà làm luật đánh giá cao hơn và tương ứng với khung hình phạt nghiêm khắc hơn. Do đó, định lượng bằng tiền thực hiện đồng thời hai chức năng: xác lập ngưỡng chịu TNHS và phân tầng mức độ TNHS.

Khác với những dấu hiệu mang tính định tính như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “ảnh hưởng xấu” hoặc “thủ đoạn nguy hiểm”, mức định lượng bằng tiền được thể hiện bằng một con số hoặc một khoảng giá trị cụ thể. Điều này làm tăng khả năng nhận diện, dự liệu và kiểm chứng trong quá trình áp dụng pháp luật, qua đó, có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tính thống nhất trong điều tra, truy tố và xét xử.

2.2. Quy định về mức định lượng bằng tiền trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Mặc dù cùng được biểu thị bằng tiền, đối tượng được định lượng không đồng nhất. BLHS sử dụng đơn vị tiền tệ để lượng hóa ít nhất bốn loại đại lượng khác nhau: giá trị của tài sản, hàng hóa hoặc vật phạm pháp; lợi ích kinh tế mà người phạm tội thu được; thiệt hại hoặc thất thoát do hành vi gây ra; và số tiền trực tiếp là đối tượng của nghĩa vụ hoặc giao dịch bị xâm phạm. Cụ thể:

Thứ nhất, ở nhóm các tội xâm phạm sở hữu: Đây là nhóm tội sử dụng định lượng bằng tiền một cách điển hình và trực tiếp nhất, chủ yếu thông qua giá trị tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng hoặc hủy hoại và mức thiệt hại về tài sản. Đối với các tội có hành vi chiếm đoạt tài sản quy định trong BLHS năm 2015 như: tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản (Điều 173) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) đều sử dụng mức 2.000.000 đồng làm ngưỡng thông thường để xác lập cấu thành cơ bản. Điều 175 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sử dụng mức 4.000.000 đồng, trong khi Điều 176 quy định về tội chiếm giữ trái phép tài sản sử dụng mức 10.000.000 đồng. Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177) sử dụng giá trị tài sản từ 100.000.000đồng đến dưới 500.000.000 đồng kết hợp với các điều kiện khác. Điều 178 quy định về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tiếp tục sử dụng giá trị tài sản từ 2.000.000 đồng làm một trong những dấu hiệu định tội. Bên cạnh giá trị của đối tượng bị xâm phạm, nhóm tội này còn sử dụng trực tiếp mức thiệt hại về tài sản. Điều 179 quy định về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Điều 180 quy định tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản,đều lấy mức thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng làm một trong những căn cứ xác lập cấu thành cơ bản.

Thứ hai, ở nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Đây là nhóm có phạm vi sử dụng định lượng bằng tiền rộng và đa dạng nhất. Không chỉ giá trị hàng hóa hoặc tài sản, BLHS còn sử dụng các đại lượng như số tiền trốn thuế, khoản thu lợi bất chính, thiệt hại kinh tế, số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt hoặc số tiền trốn đóng nghĩa vụ bắt buộc. Trước hết, đối với các hành vi liên quan đến hàng hóa, tiền tệ và tài sản, tội buôn lậu (Điều 188) và tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189) sử dụng giá trị hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý hoặc đá quý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng làm một trong những căn cứ của cấu thành cơ bản. Điều 190 và Điều 191 sử dụng trị giá hàng hóa cấm kết hợp với các tiêu chí khác như khối lượng và khoản thu lợi bất chính. Điều 192 và Điều 195 sử dụng giá trị của lượng hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, công dụng tương ứng với hàng giả, trong đó, mức khởi điểm là 30.000.000 đồng. Tiếp theo, một số tội sử dụng trực tiếp khoản thu lợi bất chính làm căn cứ định tội hoặc định khung như Điều 201 về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự sử dụng mức thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Điều 202 và Điều 203 cũng sử dụng mức khởi điểm 30.000.000 đồng. Trong lĩnh vực chứng khoán, các điều 209, 210, 211 và 212 sử dụng những ngưỡng cao hơn, chẳng hạn, tại Điều 210 quy định tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán đặt ngưỡng thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng, Điều 211 quy định tội thao túng thị trường chứng khoán đặt ngưỡng thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng và Điều 212 đặt ngưỡng thu lợi bất chính từ 1.000.000.000 đồng. Kỹ thuật này còn được sử dụng tại Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh), Điều 217a (tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp), Điều 218 (tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản), Điều 225 và Điều 226quy định về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Điều 227 quy định về tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên và một số điều luật khác. Một bộ phận lớn các tội trong chương này lại sử dụng thiệt hại, hoặc thất thoát kinh tế như các điều 192, 195, 199, 204 đến 206, 209 đến 215, 217, 217a, 218 và 219 đến 224 BLHS năm 2015. Chẳng hạn, Điều 204 lấy thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc cho người khác từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng làm dấu hiệu định tội; Điều 206 sử dụng thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; trong khi Điều 217 sử dụng ngưỡng thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng. Ngoài ra, một số tội xác định định lượng bằng chính số tiền là đối tượng của nghĩa vụ tài chính hoặc giao dịch bị xâm phạm. Điển hình là Điều 200 về tội trốn thuế, trong đó, khoản 1 sử dụng số tiền trốn thuế từ 100.000.000đồng đến dưới 300.000.000 đồng làm ngưỡng thông thường. Các điều 213, 214 và 215 xác định trực tiếp số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt: Điều 213 sử dụng mức từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, còn Điều 214 và Điều 215 sử dụng mức từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, đồng thời, thiết kế ngưỡng thiệt hại thay thế. Điều 216 quy định về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sử dụng số tiền trốn đóng từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, kết hợp với tiêu chí về số người lao động bị trốn đóng.

Thứ ba, ở nhóm các tội phạm về môi trường: Trong nhóm này, định lượng bằng tiền thường không đứng độc lập, mà được kết hợp với các tiêu chí vật chất khác, như khối lượng, số lượng hoặc tính chất của đối tượng bị tác động. Điều 234 quy định về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã sử dụng khoản thu lợi bất chính cùng với các tiêu chí khác để phân hóa trách nhiệm. Điều 237 sử dụng mức thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng; Điều 238 sử dụng mức thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; Điều 241 sử dụng thiệt hại về tài sản từ 100.000.000đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Điều 242 quy định về tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản sử dụng đồng thời thiệt hại đối với nguồn lợi thủy sản và trị giá thủy sản thu được.

Thứ tư, ở nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, đặc biệt là các tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin và mạng viễn thông: Các điều 286, 287, 288 và 291 BLHS năm 2015 sử dụng khoản thu lợi bất chính và/hoặc thiệt hại bằng tiền như những căn cứ để xác định, hoặc phân hóa TNHS. Điển hình, Điều 286 xác định khoản thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000đồng là một trong những căn cứ của cấu thành cơ bản. Định lượng bằng tiền trong nhóm này phản ánh đặc điểm của các hành vi phạm tội trong môi trường số: đối tượng tác động không nhất thiết là một tài sản hữu hình cụ thể, nên mức độ nghiêm trọng thường được lượng hóa thông qua lợi ích kinh tế mà người phạm tội thu được hoặc thiệt hại tài sản gây ra cho chủ thể khác.

Thứ năm, ở nhóm các tội phạm về chức vụ: Định lượng bằng tiền được sử dụng phổ biến để xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt hoặc giá trị của lợi ích vật chất liên quan đến hành vi tham nhũng, hối lộ. Điều 353 quy định về tội tham ô tài sản và Điều 355 quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản về cơ bản sử dụng ngưỡng 2.000.000 đồng đối với giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Các điều 354, 358, 364, 365 và 366 tiếp tục sử dụng giá trị của tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất liên quan đến hành vi nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ hoặc các hành vi trục lợi khác. Chẳng hạn, Điều 364 quy địnhvề tội đưa hối lộ xác định giá trị tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng tại cấu thành cơ bản, đồng thời, thừa nhận lợi ích phi vật chất như một căn cứ độc lập. Điểm đáng chú ý của nhóm tội này là, định lượng bằng tiền không chỉ phản ánh thiệt hại về tài sản, mà chủ yếu phản ánh quy mô của lợi ích vật chất gắn với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trao đổi bất chính.

Thứ sáu, ở nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp: Định lượng bằng tiền xuất hiện trong một số tội liên quan đến nghĩa vụ thi hành án. Điều 379 và Điều 381 sử dụng giá trị tài sản hoặc số tiền thuộc nghĩa vụ thi hành án không được thực hiện, trong đó, mức từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000đồng được sử dụng tại cấu thành cơ bản trong những trường hợp luật định. Khác với các tội xâm phạm sở hữu, số tiền ở đây không phải tài sản bị chiếm đoạt, mà phản ánh quy mô của nghĩa vụ tư pháp không được thi hành hoặc bị cản trở, qua đó, lượng hóa mức độ ảnh hưởng của hành vi đối với hiệu lực của hoạt động tư pháp.

3. Quy định về mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền theo kinh nghiệm các quốc gia khác

3.1. Quy định về mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền tại Vương quốc Anh và xứ Wales

Tại Vương quốc Anh và xứ Wales, các quy định về hình phạt nói chung và phạt tiền nói riêng,được ghi nhận trong nhiều đạo luật khác nhau. Đối với các quy định về phạt tiền, khoản 2 mục 37 của Đạo luật Tư pháp Hình sự năm 1982 đã sử dụng thang mức phạt tiền (standard scale) đối với các tội phạm được xác định theo cấp độ[9]. Cụ thể, mức tối đa tương ứng với từ cấp độ 1 đến cấp độ 4 lần lượt là 200 bảng, 500 bảng, 1.000 bảng và 2.500 bảng[10]. Đối với cấp độ 5, pháp luật Vương quốc Anh và xứ Wales lựa chọn một phương thức xử lý khác. Trước đây, mức tối đa của cấp độ này là 5.000 bảng,sau đó, Điều 85 Đạo luật Hỗ trợ pháp lý, tuyên án và xử phạt người phạm tội năm 2012 đã loại bỏ giới hạn này đối với các tội thuộc thẩm quyền xét xử giản lược được thực hiện từ ngày 12/3/2015. Về bản chất, sự thay đổi này trao cho Tòa án phạm vi rộng hơn để xác định hình phạt phù hợp với tính nghiêm trọng và quy mô kinh tế của hành vi[11].

Đối với mức định lượng bằng tiền, các tội phạm mà pháp luật Vương quốc Anh và xứ Wales sử dụng giá trị bằng tiền như một tiêu chí lượng hình chủ yếu là những tội mà quy mô hậu quả hoặc lợi ích từ hành vi có khả năng được lượng hóa tương đối trực tiếp về mặt kinh tế, điển hình như trộm cắp, gian lận, rửa tiền và gây thiệt hại tài sản[12]. Chẳng hạn, tội tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có (handling stolen goods) chia thiệt hại thành bốn mức, dựa trên giá trị tài sản: trên 100.000 bảng; từ 10.000 đến 100.000 bảng; từ 1.000 đến 10.000 bảng; và đến 1.000 bảng, đồng thời, cho phép điều chỉnh khi tồn tại thiệt hại bổ sung đáng kể đối với nạn nhân. Như vậy, định lượng bằng tiền ở đây đóng vai trò là thước đo mức độ thiệt hại kinh tế để xác định các cấp độ nghiêm trọng khác nhau của hành vi.

3.2. Quy định về mức phạt tiền và mức định lượng bằng tiền tại Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, thẩm quyền hình sự được phân chia giữa Chính phủ Liên bang và các bang, vì vậy,không tồn tại một cơ chế xác định hình phạt tiền thống nhất áp dụng cho toàn bộ quốc gia. Trong phạm vi pháp luật hình sự liên bang, Điều 3571, Tiêu đề 18 Bộ luật Hoa Kỳ thiết lập các mức phạt tiền tối đa chung trong trường hợp điều luật quy định về tội phạm không ấn định một mức phạt cao hơn. Theo đó, đối với trọng tội (felony), mức phạt tối đa về nguyên tắc là 250.000 đô la Mỹ đối với thể nhân và 500.000 đô la Mỹ đối với tổ chức[13]. Tuy nhiên, pháp luật Liên bang Hoa Kỳ không giới hạn việc xác định hình phạt tiền ở các mức tiền cố định. Điều 3571(d), Tiêu đề 18 Bộ luật Hoa Kỳ cho phép Tòa án xác định mức phạt tối đa bằng hai lần tổng lợi ích kinh tế thu được từ hành vi phạm tội, hoặc hai lần tổng thiệt hại kinh tế mà hành vi đó gây ra, với điều kiện việc xác định các giá trị này không làm cho quá trình tuyên án trở nên quá phức tạp. Đối với tổ chức, Điều 8C2.4 Hướng dẫn Tuyên án Liên bang tiếp tục cụ thể hóa cách tiếp cận này, khi xác định mức phạt cơ sở bằng giá trị lớn nhất trong ba giá trị: mức tiền tương ứng với cấp độ tội phạm; lợi ích kinh tế mà tổ chức thu được từ hành vi phạm tội; hoặc thiệt hại kinh tế mà tổ chức cố ý, biết rõ hoặc liều lĩnh gây ra. Nếu mức phạt thấp hơn lợi ích kinh tế mà chủ thể có thể thu được, đặc biệt trong bối cảnh khả năng phát hiện và xử lý hành vi vi phạm không tuyệt đối, hình phạt tiền có thể không đủ sức triệt tiêu động cơ vụ lợi[14].

Đối với định lượng bằng tiền, pháp luật Liên bang Hoa Kỳ còn cung cấp ví dụ trực tiếp về việc sử dụng một khoản tiền như ngưỡng phân hóa TNHS. Theo Điều 641, Tiêu đề 18 Bộ luật Hoa Kỳ về chiếm đoạt, trộm cắp hoặc chuyển đổi trái phép tài sản của Hoa Kỳ, nếu tổng giá trị tài sản trong vụ án không vượt quá 1.000 đô la Mỹ, thì mức phạt tù tối đa là một năm; nếu vượt quá ngưỡng này, mức phạt tù có thể lên tới mười năm. Ở giai đoạn lượng hình, vai trò của định lượng bằng tiền còn rõ ràng hơn. Điều 2B1.1 Hướng dẫn Tuyên án Liên bang sử dụng bảng thiệt hại để tăng cấp độ tội phạm đối với các tội trộm cắp, gian lận và các tội phạm kinh tế khác: thiệt hại không quá 6.500 đô la Mỹ không làm tăng cấp độ; khi vượt các ngưỡng 6.500, 15.000, 40.000, 95.000, 150.000 đô la Mỹ và tiếp tục tăng, số cấp độ hình phạt tương ứng cũng tăng lên. Đối với tổ chức, Điều 8C2.4 tiếp tục quy định mức phạt cơ sở là giá trị lớn nhất trong ba đại lượng: mức tiền tương ứng với cấp độ tội phạm; lợi ích kinh tế mà tổ chức thu được; hoặc thiệt hại kinh tế mà tổ chức cố ý, biết rõ hoặc liều lĩnh gây ra. Vì vậy, pháp luật Liên bang Hoa Kỳ hình thành một cơ chế nhiều tầng, trong đó, mức định lượng bằng tiền vừa có thể là đại lượng lượng hóa thiệt hại trong quá trình tuyên án, vừa là cơ sở trực tiếp xác định mức phạt tiền.

4. Quy định về phạt tiền và định lượng phạt tiền được quy định trong Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

Thứ nhất, về sửa mức tiền phạt.

Dự thảo[15] đã nâng mức tối thiểu của hình phạt tiền từ 1.000.000 đồng[16] lên 5.000.000đồng[17]. Đây là hướng điều chỉnh phù hợp với ý‎ kiến đề xuất của nhiều nhà nghiên cứu về nội dung này[18]. Sự điều chỉnh này có ý nghĩa khác với việc tăng mức phạt tại từng tội danh khi Điều 38 Dự thảo thiết lập một giới hạn tối thiểu mang tính nguyên tắc cho toàn bộ hệ thống hình phạt tiền đối với cá nhân; còn mức tối thiểu và tối đa có thể tuyên trong từng vụ án, vẫn phải được xác định trước hết trong khung hình phạt của từng điều luật cụ thể. Bên cạnh đó, việc nâng mức sàn này không đi kèm với thay đổi tương ứng về cá thể hóa số tiền phạt khi BLHS hiện hành yêu cầu mức phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động của giá cả[19]. Dự thảo tiếp tục giữ nguyên về cơ bản các tiêu chí đó tại Điều 38 và Điều 53. Đối với PNTM, xu hướng tăng mức phạt trở nên rõ hơn. Nếu như Điều 77 BLHS năm 2015 quy định mức tiền phạt tối thiểu đối với PNTM là 50.000.000 đồng thì Dự thảo đã nâng mức này lên 100.000.000đồng[20]. Tuy nhiên, mức sàn đối với cá nhân được nâng lên 05 lần và mức sàn đối với PNTM chỉ nâng lên 02 lần, cũng cho thấy hiện tại, Dự thảo chưa sử dụng một tỷ lệ tăng thống nhất giữa các nhóm chủ thể.

Thứ hai, về sửa mức định lượng bằng tiền.

Đối với các tội xâm phạm sở hữu, tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, các tội phạm về chức vụ và các tội xâm phạm hoạt động tư pháp: việc nâng mức định lượng được thực hiện tương đối đồng bộ và dễ nhận diện nhất, chủ yếu tăng gấp 02 lần. Dự thảo vẫn duy trì việc lấy giá trị tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng hoặc làm hư hỏng, làm căn cứ định tội, nhưng có sự điều chỉnh về định lượng định khung bằng tài sản của tội phạm. Chẳng hạn, đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngưỡng thông thường từ 2.000.000 đồng được nâng lên 5.000.000 đồng, tương đương 2,5 lần; đồng thời, nâng mức tối đa của tài sản bị chiếm đoạt của khoản 1 từ 50.000.000 đồngthành 100.000.000 đồng.

Đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Đây là nhóm được điều chỉnh rộng nhất và cũng có mức độ phân hóa lớn nhất với 32 tội có thay đổi định lượng về tài sản. Phần lớn các ngưỡng thiệt hại, thu lợi bất chính hoặc nghĩa vụ tài chính được nâng khoảng hai lần. Ví dụ, đối với tội trốn thuế, số tiền trốn thuế ở khoản 1 tăng từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (khoản 1 Điều 200 BLHS năm 2015) lên thành 200.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng (khoản 1 Điều 183 Dự thảo). Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng cũng tăng thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (khoản 1 Điều 222 BLHS năm 2015) lên thành 200.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng (khoản 1 Điều 207 Dự thảo ). Tuy nhiên, trong nhóm tội này, có nhiều tội tăng định lượng về tài sản hơn 02 lần. Chẳng hạn, ở tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng, ngưỡng thiệt hại tại khoản 1 từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (khoản 1 Điều 206 BLHS năm 2015) được nâng thành từ 400.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 1 Điều 189 Dự thảo); tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, mức trốn đóng từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (khoản 1 Điều 216 BLHS năm 2015) được chuyển thành từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000đồng (khoản 1 Điều 200 Dự thảo). 

Đối với nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng: mô hình phổ biến là tăng gấp đôi định lượng tài sản là dấu hiệu định tội, nhưng tăng mạnh định lượng thiệt hại tối đa của cấu thành tội phạm cơ bản. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là ví dụ điển hình. Nếu như Điều 260 BLHS hiện hành quy định thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000đồng ở khoản 1, thì Điều 247 Dự thảo nâng thành từ 200.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng. Mô hình tương tự được sử dụng trong nhiều tội về giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và các hành vi liên quan đến an toàn công trình.

5. Đánh giá tính hợp lý, tính khả thi và yêu cầu bảo đảm thống nhất trong xét xử

Thứ nhất, về tính hợp lý và khả thi: Việc nâng mức tiền phạt và nâng mức định lượng bằng tiền trong Dự thảo trước hết có cơ sở từ sự thay đổi đáng kể của điều kiện kinh tế - xã hội so với thời điểm BLHS năm 2015 được ban hành. Theo quy định tại Điều 53 Dự thảo, khi quyết định hình phạt tiền, ngoài tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, Tòa án còn phải xem xét những yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế của người bị kết án. Dự thảo đã đáp ứng tương đối tiêu chí này, khi dựa vào số liệu của Cục Thống kê, năm 2015, mức lương tối thiểu vùng dao động từ 2.150.000 đồng đến 3.100.000 đồng/tháng; đến ngày 01/01/2026, mức này đã tăng lên từ 3.700.000 đồng đến 5.310.000 đồng/tháng, tương đương mức tăng khoảng 71-72% tùy từng vùng. Thu nhập bình quân đầu người cũng tiếp tục được cải thiện, với kết quả sơ bộ năm 2025 đạt khoảng 5.900.000 đồng/người/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024[21]. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục duy trì các mức phạt được xác lập từ khoảng một thập niên trước có thể làm giảm giá trị thực của hình phạt, qua đó, làm suy giảm mức độ tác động mà nhà làm luật dự kiến khi thiết lập chế tài[22]. Cơ sở này có ý nghĩa đặc biệt đối với hình phạt tiền, bởi hiệu quả của hình phạt phụ thuộc trực tiếp vào mức độ bất lợi về tài sản mà khoản tiền phải nộp tạo ra đối với người bị kết án. Khác với hình phạt tù tác động trực tiếp đến quyền tự do, hình phạt tiền thực hiện chức năng trừng phạt thông qua việc làm giảm lợi ích kinh tế của người phạm tội. Vì vậy, khi mức thu nhập, giá cả và giá trị tài sản trong xã hội thay đổi, một mức tiền không được điều chỉnh trong thời gian dài, có thể tạo ra mức độ trừng phạt ngày càng thấp hơn về giá trị thực.  

Bên cạnh đó, việc tiếp tục duy trì cơ chế quy định các khung tiền phạt cụ thể trong BLHS Việt Nam vẫn có cơ sở hợp lý, thay vì chuyển ngay sang mô hình xác định hình phạt tiền hoàn toàn theo một đơn vị quy đổi khác, như ngày thu nhập, tỷ lệ thu nhập hoặc doanh thu. Trước hết, khung tiền phạt cố định bảo đảm tính xác định và khả năng dự liệu của hình phạt, đồng thời, duy trì sự thống nhất giữa quy định của Phần những quy định chung, các khung hình phạt tại Phần các tội phạm và các văn bản hướng dẫn áp dụng. Cách thức này cũng phù hợp với cấu trúc hiện hành của hệ thống hình phạt và không đòi hỏi phải đồng thời thay đổi một phạm vi lớn các quy định liên quan đến tố tụng, thi hành án, kế toán, xác minh tài sản và quản lý dữ liệu tài chính. Trong bối cảnh bộ máy nhà nước đang được tổ chức theo hướng tinh gọn và yêu cầu giảm chi phí hành chính ngày càng được chú trọng, việc chuyển ngay sang một cơ chế đòi hỏi xác minh thu nhập, tài sản hoặc doanh thu trong mọi vụ án có thể làm gia tăng đáng kể khối lượng công việc, thời gian giải quyết và chi phí thực hiện. Thách thức này càng rõ hơn, khi cơ sở dữ liệu tài chính và phương pháp xác minh hiện nay chưa bảo đảm mức độ đồng bộ cần thiết để áp dụng ngay một cơ chế quy đổi thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Tương tự như cơ sở để nâng mức tiền phạt, sự phát triển kinh tế và thay đổi về mức thu nhập của người dân cũng cho thấy, cần điều chỉnh định lượng bằng tiền trong BLHS. Sự điều chỉnh này là sự thay đổi chính sách hình sự theo hướng hạn chế xử lý hình sự những trường hợp có thể xử lý bằng các biện pháp khác và bảo đảm xử lý ở mức tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, điều chỉnh định lượng bằng tiền phù hợp với sự biến động kinh tế là hướng sửa đổi cần thiết đối với BLHS. Tuy nhiên, cần tiếp tục kiểm nghiệm để đánh giá mức độ phù hợp của các tỷ lệ nâng mức định lượng khác nhau tại các điều luật cụ thể hiện nay.

Thứ hai, về bảo đảm tính thống nhất trong xét xử: Việc nâng mức tiền phạt trong Dự thảo về cơ bản có thể tạo ra một mặt bằng pháp lý mới phù hợp hơn với sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, nhưng sự điều chỉnh này chỉ phát huy hiệu quả, nếu đồng thời bảo đảm quyết định hình phạt tiền phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động của giá cả. Từ đó, việc xét xử mới bảo đảm các trường hợp có mức độ nguy hiểm và điều kiện kinh tế tương đương phải chịu mức độ tác động tương đương; ngược lại, sự khác biệt về mức phạt phải dựa trên những căn cứ có thể nhận diện, kiểm chứng và giải thích được. Vì vậy, cùng với việc nâng mức tiền phạt, cần hoàn thiện cơ chế xác minh thu nhập, tài sản, khả năng thi hành và các căn cứ xác định mức phạt cụ thể. Tương tự như vậy, việc nâng định lượng bằng tiền trong BLHS cần được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với mức hình phạt (trong đó có hình phạt tiền) để bảo đảm phát huy tối đa hiệu quả của các quy định của luật hình sự.

Kết luận

Nhìn chung, việc điều chỉnh tăng mức phạt tiền và các mức định lượng bằng tiền trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) là cần thiết và đã có cơ sở tương đối rõ từ sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để những quy định này thực sự hợp lý, khả thi và thống nhất trong thực tiễn xét xử, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế để xác minh tài sản và làm rõ các tiêu chí thể hiện định lượng tài sản trong các vụ án cụ thể, cũng như không ngừng nâng cao khả năng áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. 

PGS. TS. CAO THỊ OANH (Trường Đại học Luật Hà Nội), TRƯƠNG NGỌC MAI (Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội)

[1] Văn phòng Quốc hội, Báo cáo tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ và Hội trường về Dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), ngày 29/8/2026, tr.1-3

[2] Nora V. Demleitner, Types of Punishment, The Oxford Handbook of Criminal Law, Markus D. Dubber & Tatjana Hörnle (eds.), Oxford University Press, Oxford, 2014, tr.943-957.

[3] Bryan A. Garner (ed.), Black’s Law Dictionary, 12th ed., 2024, Thomson Reuters, St. Paul, mục từ “fine”.

[4] Nguyễn Việt Xô, Hình phạt tiền theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019, tr.7-8.

[5] Patricia Faraldo-Cabana, Who Dares Fine a Murderer? The Changing Meaning of Money and Fines in Western European Criminal Systems, Social & Legal Studies, Vol. 25, No. 4, 2016, tr.494-495.

[6] Tomer Einat, History of Fines, Encyclopedia of Criminology and Criminal Justice, Gerben Bruinsma & David Weisburd (eds.), Springer, New York, 2014, tr.2149-2153.

[7] Phùng Thị Hải Ngọc, Hình phạt tiền trong quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012, tr.5.

[8] Patricia Faraldo-Cabana, tlđd (5), tr.493-494.

[9] Nicole Bögelein, ‘Money Rules’: Exploring Offenders’ Perceptions of the Fine as Punishment, The British Journal of Criminology, Vol. 58, No. 4, 2018, tr.807.

[10] UK Parliament, Sentencing Act 2020, s. 122(1).

[11] Ministry of Justice (2015), Unlimited fines for serious offences, https://www.gov.uk/government/news/unlimited-fines-for-serious-offences, truy cập ngày 17/9/2026.

[12] Fraud Act 2006; Theft Act 1968; VAT Act 1994; Taxes Management Act 1970; Customs and Excise Management Act 1979.

[13] Nguyễn Anh Hùng, Quy định về tội phạm hình sự và chế tài hình phạt ở Mỹ, https://kiemsat.vn/quy-dinh-ve-toi-pham-hinh-su-va-che-tai-hinh-phat-o-my-51335.html, truy cập ngày 18/9/2026.

[14] Charles H. Miller, The Fine: Price Tag or Rehabilitative Force?, NPPA Journal, Vol. 2, No. 4, 1956, tr.379-380.

[15] Dự thảo BLHS (sửa đổi) ngày 09/10/2026 (sau đây gọi tắt là Dự thảo).

[16] Khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015.

[17] Khoản 3 Điều 38 Dự thảo BLHS (sửa đổi).

[18] Mai Thị Thủy, Đào Thị Nguyệt, Về hình phạt tiền áp dụng đối với người phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2016, tr.29; Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thị Yến, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2022, tr.15-16.

[19] Điều 50 BLHS năm 2015.

[20] Điều 80 Dự thảo BLHS (sửa đổi).

[21] Cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/, truy cập ngày 19/9/2026.

[22] Lê Minh Tùng, Nguyễn Ngọc Kim Cương, Những bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tiền và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2020, tr.29.

Tài liệu tham khảo

1. Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) ngày 09/10/2026.

2. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

3. Nguyễn Thị Hoài, Hình phạt tiền - nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự một số quốc gia và đề xuất đối với Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2025.

4. Nguyễn Việt Xô, Hình phạt tiền theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019.

5. Trần Thị Bích Phương, Hình phạt tiền theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tại tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2023.

6. Phùng Thị Hải Ngọc, Hình phạt tiền trong quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012.

7. Trần Phi Long, Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Việt Nam - so sánh quy định và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, kỳ 1 (452), tháng 5/2026.

8. Nguyễn Thị Tiệp, Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.

9. Lê Minh Tùng, Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022.

10. Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thị Yến, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2022.

11. Nguyễn Hoàng Lâm, Hoàn thiện quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2012.

12. Lê Minh Tùng, Nguyễn Ngọc Kim Cương, Những bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tiền và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2020.

13. Mai Thị Thủy, Đào Thị Nguyệt, Về hình phạt tiền áp dụng đối với người phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2016.

14. Nora V. Demleitner, Types of Punishment, The Oxford Handbook of Criminal Law, Markus D. Dubber & Tatjana Hörnle (eds.), Oxford University Press, Oxford, 2014.

15. Patricia Faraldo-Cabana, Who Dares Fine a Murderer? The Changing Meaning of Money and Fines in Western European Criminal Systems, Social & Legal Studies, Vol. 25, No. 4, 2016.

16. Charles H. Miller, The Fine: Price Tag or Rehabilitative Force?, NPPA Journal, Vol. 2, No. 4, 1956.