Quy định chồng không có quyền ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con với người khác – một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là đạo luật quan trọng, quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình . Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm 09 chương với 133 Điều quy định cụ thể về kết hôn, về quan hệ giữa vợ và chồng, về ly hôn,… Bài viết này, nhóm tác giả tập trung phân tích, đánh giá một số vấn đề về quy định chồng không có quyền ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con với người khác; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và đề xuất, kiến nghị.

1. Quy định về yêu cầu ly hôn của người chồng khi vợ đang có thai, sinh con với người khác

Chế định ly hôn được quy định tại mục 1 Chương IV Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ năm 2014) gồm 14 điều (từ Điều 51 – Điều 64).

Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”.

Như vậy, điều luật quy định cụ thể về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của cả vợ, chồng và của cha, mẹ, người thân thích của vợ, chồng trong một số trường hợp luật định. Đồng thời, khoản 3 Điều luật này cũng ghi nhận giới hạn thực hiện quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Nội dung khoản 3 Điều 51 nêu trên được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dân áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP).

Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP quy định: “4. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.”.

Nội dung điều khoản này xác định cụ thể trường hợp người chồng không được quyền yêu cầu giải quyết ly hôn khi người vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt người vợ có thai, sinh con với người khác mà không phải con của người chồng. Chế định này được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người vợ và con nhỏ vì đây được xem là những chủ thể yếu thế, cần được chăm sóc, bảo vệ, nhất là trong thời kỳ mang thai và sinh con.

Nghiên cứu quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì thấy, quy định hạn chế quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ mang thai, sinh con mà không phân biệt là mang thai, sinh con của ai không phải là quy định mới mà trước đó đã được ghi nhận, tuy nhiên, chưa cụ thể như quy định hiện hành.

Khoản 2 Điều 85 Luật HNGĐ năm 2000 quy định: "Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.".

Để áp dụng thống nhất quy định này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn cáp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tại mục 6 Nghị quyết này quy định như sau:

“6. Quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn (Điều 85)

Theo quy định tại Điều 85 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật chỉ quy định "vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi"; do đó, khi người vợ đang thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng có yêu cầu xin ly hôn, thì giải quyết như sau:

a. Trong trường hợp chưa thụ lý vụ án thì Toà án áp dụng điểm 1 Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn kiện cho người nộp đơn.

b. Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì Toà án cần giải thích cho người nộp đơn biết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn. Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu người nộp đơn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và quyết định bác yêu cầu xin ly hôn của họ.”.

Như vậy, Nghị quyết này cũng xác định rõ, việc hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng khi người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai.

Tuy nhiên, đến khi Luật HNGĐ năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 cũng không ghi nhận nội dung cụ thể này mà chỉ ghi nhận người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà không quy định cụ thể trường hợp vợ mang thai, sinh con với người khác thì người chồng có được quyền yêu cầu ly hôn hay không.

Đây là lý do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP để hướng dẫn cụ thể về trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.

Như vậy, quy định về việc chồng không được quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con bất kể mang thai, sinh con với ai, tiếp tục được áp dụng như trước đây. Nếu muốn ly hôn, người chồng bắt buộc phải chờ hết thời gian theo quy định.

2. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

Quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai là quy định nhằm bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích cho người vợ và con. Giai đoạn đang mang thai, sinh con, cả người mẹ và đứa trẻ đều rất dễ bị tác động tiêu cực từ các yếu tố bên ngoài, trong đó có việc ly hôn. Vì thế, quy định tại luật và hướng dẫn tại Nghị quyết hướng tới hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực có thể xảy ra.

Với quy định này, hiện cũng có nhiều ý kiến không đồng tình khi cho rằng, trường hợp người vợ có thai, sinh con với người khác là đã vi phạm quy định hôn nhân một vợ, một chồng, không thực hiện nghĩa vụ chung thủy trong quan hệ hôn nhân[1],  nhưng vẫn không cho phép người chồng thực hiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn là thiếu công bằng với người chồng[2]. Trường hợp này, quan hệ hôn nhân mặc dù được duy trì nhưng vợ chồng dường như không còn tình cảm, hoặc ít nhất từ phía người chồng, việc duy trì quan hệ hôn nhân mang tính hình thức, bắt buộc chứ không phải là tự nguyện, nên việc bảo đảm mục đích của hôn nhân là không bảo đảm.

Tuy nhiên, xét từ khía cạnh nhân văn, bảo vệ người yếu thế là người vợ và con thì quy định này là cần thiết. Hơn nữa, Luật HNGĐ năm 2014 chỉ hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn từ phía người chồng mà không áp dụng việc hạn chế này từ phía người vợ; đồng thời, Luật cũng đặt ra giới hạn thời gian kết thúc giai đoạn người vợ mang thai, sinh con thì người chồng vẫn có quyền thực hiện yêu cầu giải quyết ly hôn của mình. Đây là nội dung cần được nhìn nhận rõ để bảo đảm hiểu chính xác quy định của Điều luật, bảo đảm thống nhất áp dụng trong thực tiễn, hiện thực hóa chủ trương, chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước ta.

Quy định này được xây dựng có sự kế thừa, phát triển như phân tích ở phần trên, bên cạnh những ưu điểm thì quy định này cũng còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, cụ thể:

Thứ nhất, về phạm vi giới hạn quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ đang mang thai, sinh con với người khác.

Khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong các trường hợp: (i) vợ đang có thai, (ii) sinh con hoặc (iii) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP lại quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai trong 02 trường hợp: (i) vợ đang có thai, (ii) sinh con.

Như vậy, có thể hiểu, việc giới hạn phạm vi người chồng không có quyền yêu cầu giải quyết lý hôn không phân biệt người vợ có thai, sinh con với ai chỉ áp dụng trong hai trường hợp là người vợ đang có thai và sinh con, còn trường hợp người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì không bị hạn chế quyền này.

Tuy nhiên, quy định này dường như lại có sự thiếu thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn về xác định trường hợp sinh con tại khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 như sau:

““Sinh con” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi;

b) Vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con;

c) Vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.”.

Theo quy định này thì sinh con bao gồm cả trường hợp người vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con. Chúng tôi xin lấy ví dụ cụ thể cho trường hợp này:

A mang thai con của người khác bị anh B là chồng phát hiện, A thừa nhận điều này. Sau đó, A sinh con và đứa bé bị chết khi được 11 tháng tuổi do bị bệnh. Vậy trường hợp này, thỏa mãn hướng dẫn về xác định “sinh con” trong điều khoản nêu trên.

Vấn đề đặt ra là, nếu áp dụng khoản 4 hay khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP thì việc hạn chế quyền của người chồng không được yêu cầu giải quyết ly hôn trong cả trường hợp người vợ đang nuôi con không phải con của mình mà đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi. Cách hiểu này cũng thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014.

Tuy nhiên, quy định này làm cho thực tiễn áp dụng trở lên lúng túng khi quy định về trường hợp vợ đang có thai, sinh con mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai được tách thành một điều khoản riêng biệt. Điều này tạo ra sự khác nhau khi so sánh với quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014 như phân tích nêu trên. Đồng thời, cũng khiến việc hiểu và áp dụng thiếu thống nhất khi người áp dụng chỉ căn cứ trường hợp áp dụng là người vợ mang thai, sinh con của người khác.

Để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn, chúng tôi kiến nghị, khi sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP cần bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 2 như sau: “Trường hợp vợ đang có thai, sinh con, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.

Thứ hai, về quyền, nghĩa vụ của người chồng đối với con do người vợ mang thai, sinh con với người khác.

Khoản 1 Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014 quy định:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.”.

Như vậy, được xem là con chung của vợ chồng khi:

- Được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.

- Do vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân.

- Do vợ mang thai khi đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng được sinh ra trong vòng 300 ngày sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật.

- Sinh ra trước khi đăng ký kết hôn, được cha mẹ thừa nhận.

Do đó, dù trên thực tế con có thể không phải là con ruột nhưng nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì vẫn được xác định là con chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Khi xác đinh là con chung thì người chồng vẫn phải có các quyền, nghĩa vụ đối với con quy định tại Điều 69 Luật HNGĐ năm 2014. Tuy nhiên, thực tế khi xác định người vợ sinh con không phải là con của mình thì rất ít trường hợp người chồng thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ đối với con như: trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, thương yêu con,… và thực trạng này cũng là điều dễ hiểu và không bị lên án bởi xã hội. Tuy nhiên, đối với quyền đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp con sinh ra không phải của người chồng thì hiện chưa có quy định cụ thể nên việc áp dụng gặp nhiều lúng túng.

Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”. Như vậy, thời hạn phải đăng ký khai sinh cho con là 60 ngày kể từ khi đứa trẻ được sinh ra.

Nội dung đăng ký khai sinh được quy định tại Điều 14 Luật Hộ tịch năm 2014, theo đó, tại điểm b khoản 1 Điều luật này quy định một trong các nội dung đăng ký khai sinh là: “b) Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;”

Nội dung về đăng ký khai sinh tại Điều luật này được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) và Điều 6 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Thông tư số 04/2020/TT-BTP) cũng không ghi nhận trường hợp nội dung đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp con không phải là con của người chồng. Thực tế đặt ra trường hợp, khi con được sinh ra, người vợ thực hiện việc khai sinh cho con theo thời hạn mà Luật Hộ tịch năm 2014 quy định, nhưng người chồng từ chối nội dung khai sinh ghi thông tin của người chồng ở mục thông tin cha của đứa trẻ. Trường hợp này, con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân và được xác định là con chung theo quy định tại Điều 88 Luật HNGĐ năm 2014.  Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP chỉ quy định trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ, theo đó, sẽ để trống phần thông tin cha hoặc mẹ chưa xác định được. Còn đối với trường hợp đứa trẻ sinh ra là con của người khác, quan hệ hôn nhân đang tồn tại, con được xác định là con chung nhưng người chồng từ chối nội dung khai sinh là thông tin của người cha thì có được chấp nhận hay không? Đặt giả thiết là người vợ cũng đồng ý với từ chối này của người cha vì rất có thể, nếu sau khi hai vợ chồng ly hôn thì người vợ hoặc người bố đích thực của đứa trẻ làm lại thủ tục xác nhận cha cho con và có yêu cầu làm lại giấy khai sinh.

Chúng tôi cho rằng, việc từ chối này của người cha là hợp lý, nhưng do chưa có căn cứ pháp lý là quy định cụ thể về trường hợp này nên việc áp dụng còn gặp nhiều lúng túng.

Do đó, để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn, chúng tôi kiến nghị,  khi sửa đổi, bổ sung Thông tư số 04/2020/TT-BTP, cần bổ sung thêm 01 nội dung vào Điều 6 về nội dung đăng ký khai sinh như sau:

“Điều 6. Nội dung khai sinh

1….

2….

3. Trường hợp cha, mẹ thỏa thuận được về việc không ghi thông tin người cha trong giấy khai sinh của con khi đăng ký khai sinh thì cơ quan có thẩm quyền cần xem xét để chấp nhận thỏa thuận này.”.

Nội dung này cũng bảo đảm tôn trọng sự định đoạt của các bên, đồng thời bảo đảm thủ tục hành chính về việc công nhận cha cho con, đăng ký khai sinh cho con không bị thay đổi nhiều trong trường hợp đứa trẻ được sinh ra không phải là con của người chồng.

Kết luận

Thực tiễn hiện nay, cùng với việc phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ xã hội dần trở lên phức tạp. Trong đời sống hôn nhân gia đình, không thiếu cặp vợ chồng lâm vào trường hợp đứa con do người vợ mang thai, sinh con không phải con của người chồng. Vấn đề này đòi hỏi có cơ sở pháp lý phù hợp để giải quyết các vấn đề phát sinh, mục tiêu là nhằm bảo đảm sự ổn định của xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người vợ và đứa trẻ nhưng cũng cần bảo đảm quyền lợi hài hòa của người chồng.

 

[1] Khoản 1 Điều 19 Luật HNGĐ năm 2014.

PHẠM ĐỨC CHÍNH (Thẩm phán bậc 1, Tòa án nhân dân khu vực 12-Hải Phòng), PHẠM HỒNG QUỲNH (Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 12-Hải Phòng)

Ảnh: nguồn Internet

Tài liệu tham khảo

1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

2. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Luật Hộ tịch năm 2014.

4. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn cáp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

 5. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dân áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

6. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

7. Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

8. Xem: https://thanhnien.vn/hieu-ro-hon-ve-viec-chong-khong-duoc-ly-hon-du-vo-dang-mang-thai-voi-ai-185240616110547827.htm, truy cập ngày 20/8/2025.