Quy định về án treo trong Bộ luật Hình sự năm 2015 - Một số hạn chế, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Mục đích của hình phạt là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Bộ luật Hình sự quy định các loại hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình.

Bên cạnh chế định về hình phạt, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam còn có chế định về án treo - một trong những chế định thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam. Thông qua việc cho phép người bị kết án tù được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, Nhà nước tạo cơ hội để người phạm tội tự cải tạo tại cộng đồng, hạn chế việc cách ly họ khỏi xã hội trong những trường hợp chưa thật sự cần thiết. Chế định này không chỉ góp phần bảo đảm hiệu quả phòng ngừa tội phạm mà còn giúp giảm áp lực cho hệ thống cơ sở giam giữ và tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng.

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hiện nay, việc áp dụng án treo vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và chưa thống nhất. Một số trường hợp cho hưởng án treo gây nhiều tranh luận trong dư luận xã hội; ngược lại, có trường hợp đáng được áp dụng chính sách khoan hồng nhưng lại không được xem xét hưởng án treo. Điều đó cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu nhằm làm rõ bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng cũng như những hạn chế của chế định này trong thực tiễn.

1. Về khái niệm và bản chất pháp lý của án treo

Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015), án treo được áp dụng đối với người bị xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần buộc họ phải chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Từ quy định trên có thể thấy, án treo không phải là một loại hình phạt độc lập mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Người được hưởng án treo bản chất là người bị kết án phạt tù có thời hạn nhưng do đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định nên được miễn chấp hành hình phạt tù, nếu trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới và chấp hành đúng các quy định về sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Nếu phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách thì có thể bị buộc phải (hoặc có thể phải) chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo trước đó.

Bản chất của án treo thể hiện sự kết hợp giữa tính nghiêm minh và tính nhân đạo của pháp luật hình sự. Một mặt, Nhà nước vẫn tuyên hình phạt tù nhằm khẳng định thái độ lên án đối với hành vi phạm tội; mặt khác, cho phép người phạm tội được cải tạo ngoài xã hội nếu chưa cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng.

2. Về điều kiện áp dụng án treo

Pháp luật hiện hành quy định khá chặt chẽ về điều kiện hưởng án treo nhằm tránh tình trạng áp dụng tùy tiện. Theo quy định của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, người phạm tội chỉ được hưởng án treo khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, bị xử phạt tù không quá 03 năm. Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giới hạn phạm vi áp dụng đối với những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng có mức độ nguy hiểm không lớn.

Thứ hai, có nhân thân tốt. Điều kiện này được hiểu là trước khi phạm tội, người phạm tội chấp hành tốt chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc.

Thứ ba, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất một tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quy định này nhằm bảo đảm người được hưởng án treo thực sự có khả năng tự cải tạo và đáng được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Thứ tư, có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để phục vụ cho việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Thứ năm, xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù. Đây là điều kiện quan trọng nhưng cũng là điều kiện gây nhiều tranh luận nhất bởi tính định tính và phụ thuộc vào nhận định chủ quan của Tòa án.

3. Về những bất cập trong thực tiễn

3.1. Trong thực tiễn xét xử

Trong những năm gần đây, án treo được áp dụng tương đối phổ biến trong xét xử hình sự. Việc áp dụng chế định này đã mang lại nhiều kết quả tích cực, đặc biệt đối với các trường hợp phạm tội lần đầu, phạm tội do vô ý hoặc người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng cho thấy nhiều bất cập đáng chú ý.

Một là, việc áp dụng án treo giữa các địa phương còn thiếu thống nhất. Có những vụ án với tính chất, mức độ tương tự nhưng kết quả xét xử lại khác nhau, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng trong áp dụng pháp luật, ví dụ:

Cùng là vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” bị truy tố, xét xử theo điểm b (trong tình trạng có sử dụng rượu, bia) khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, có hậu quả làm một người chết; các bị cáo đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thương thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu xử lý hình sự; gia đình các bị cáo đều có công với cách mạng. Tuy nhiên, tại Bản án số 04/2024/HS-ST, Tòa án nhân dân thành phố LX, tỉnh AG xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh G 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; còn tại Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 31/7/2024, Tòa án nhân dân huyện VT, thành phố CT, xử phạt bị cáo Bùi Hoàng H01 năm 03 tháng tù.

 Hai là, tiêu chí đánh giá “không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội” chưa được hướng dẫn cụ thể. Trong nhiều trường hợp, việc cho hưởng án treo chủ yếu dựa vào nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử.

Ba là, một số vụ án cho hưởng án treo gây phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, đặc biệt đối với các tội danh liên quan đến tham nhũng, chức vụ hoặc xâm phạm trật tự công cộng. Điều này đặt ra yêu cầu phải cân bằng giữa chính sách khoan hồng và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

Bốn là, công tác giám sát, giáo dục người được hưởng án treo tại địa phương ở nhiều nơi còn mang tính hình thức. Việc phối hợp giữa chính quyền địa phương, cơ quan thi hành án và gia đình người phạm tội chưa thực sự hiệu quả.

3.2. Trong thi hành hình phạt án treo

Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn áp dụng án treo hiện nay vẫn phát sinh nhiều khó khăn, đặc biệt là việc thi hành án treo đối với trường hợp người đang được hưởng án treo bị phát hiện trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội khác.

Ví dụ: A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào tháng 01/2023. Tháng 6/2023, A tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Tháng 10/2023, A bị xét xử về tội đánh bạc và được hưởng án treo. Sau đó, hành vi trộm cắp tài sản trước đó bị phát hiện và A bị xét xử, tuyên phạt tù giam.

Trong trường hợp này, việc thi hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách hoặc phạm tội khác trước khi được hưởng án treo thì:

“2. Trường hợp người đang được hưởng án treo mà lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không tổng hợp hình phạt với bản án cho hưởng án treo. Trong trường hợp này, người phạm tội phải đồng thời chấp hành 02 bản án và việc thi hành án do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.”

Như vậy, quy định này đã đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, không coi hành vi phạm tội trước bị kết  án sau là “phạm tội mới” để buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của hai bản án. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn phát sinh những điểm chưa thật sự hợp lý trong thực tiễn thi hành án, bởi:

Thời gian thử thách là khoảng thời gian mà người được hưởng án treo phải tuân thủ pháp luật, phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và cơ quan có thẩm quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự.  Trong thời gian này, bản án tù chưa bị thi hành ngay, nhưng chưa bị xóa bỏ. Đây là “giai đoạn kiểm nghiệm” việc người phạm tội có thể tự cải tạo mà không cần cách ly khỏi xã hội hay không. Do đó, người phạm tội đang chấp hành hình phạt tù thì ý nghĩa của thời gian thử thách, mục đích cải tạo ngoài xã hội áp dụng đối với người bị kết án không còn đạt được như ý nghĩa vốn có của chế định án treo.

Mặt khác, cơ chế “đồng thời chấp hành hai bản án” còn khó thực hiện, gây lúng túng cho cơ quan thi hành án.

Tác giả cho rằng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02 nêu trên là phù hợp về mặt nguyên tắc pháp lý do hành vi phạm tội được thực hiện trước thời điểm cho hưởng án treo nên không thể xem là ‘phạm tội mới’. Tuy nhiên, việc buộc người phạm tội vừa chấp hành hình phạt tù vừa thực hiện thời gian thử thách của án treo phần nào làm giảm ý nghĩa của chế định án treo với tư cách là biện pháp cải tạo ngoài xã hội.

4. Một số đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả áp dụng án treo trong thời gian tới, tác giả nêu một số đề xuất, kiến nghị sau:

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về án treo theo hướng cụ thể hóa các điều kiện áp dụng, đặc biệt là tiêu chí đánh giá “không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù”, như có thể bổ sung cơ chế đánh giá bằng tiêu chí định lượng bằng cách xây dựng một số tiêu chí bắt buộc và xây dựng “thang điểm” của các tiêu chí bắt buộc như:

* Số lượng tình tiết giảm nhẹ (đây là một điều kiện để hưởng án treo nhưng cũng là tiêu chí để đánh giá khả năng tự cải tạo của bị cáo), ví dụ:

+ Có 02 tình tiết giảm nhẹ (trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự) thì được một số điểm nhất định (giả sử là 10 điểm)

+ Có 02 tình tiết giảm nhẹ và cả 02 tình tiết đều thuộc khoản 1 Điều 51 thì được nhiều điểm hơn (giả sử là 12 điểm)

+ Có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 thì cộng thêm điểm (ví dụ cộng thêm 02 điểm)

+ Có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 thì được cộng thêm điểm (ví dụ cộng thêm 0,5 điểm)

Tương tự như vậy, xây dựng thang điểm cho các tiêu chí khác, như:

* Đánh giá về nhân thân, như:

 + Nhân thân không có tiền án, tiền sự, chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật thì đạt số điểm cao nhất;

+ Nhân thân “đã bị kết án” nhưng đã được xóa án tích thì được hưởng số điểm thấp hơn;

+ Nhân thân “đã bị kết án” được sử dụng làm tình tiết định tội thì được hưởng số điểm thấp hơn nữa.

Tương tự như trên để xác định số điểm của các trường hợp nhân thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật làm tình tiết định tội và trường hợp tính đến ngày phạm tội này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

* Mức độ hợp tác với cơ quan điều tra, như xây dựng thang điểm đối với:

+ Thái độ thành khẩn khai báo: Mặc dù đây là một trong các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nhưng mức độ thành khẩn khai báo thì khác nhau trong mỗi vụ án nên có thể đánh giá mức độ thành khẩn khai báo dựa trên thái độ: khai báo đầy đủ, trung thực diễn biến hành vi phạm tội; không quanh co, chối tội; không đổ lỗi cho người khác; thừa nhận trách nhiệm ngay từ giai đoạn đầu điều tra thì sẽ đạt điểm cao nhất. Các trường hộp bị cáo nhận tội nhưng còn quanh co, không thừa nhận trách nhiệm ngay từ đầu mà phải trải qua quá trình đấu tranh mới khai nhận hành vi nhận tội thì sẽ đánh giá số điểm thấp hơn

+ Việc tự nguyện giao nộp tài liệu, chứng cứ: nếu người phạm tội chủ động giao nộp công cụ, phương tiện phạm tội; chủ động cung cấp tài liệu, dữ liệu liên quan; chủ động hỗ trợ xác minh hành vi phạm tội; chủ động chỉ ra nơi cất giấu tài sản, tang vật thể hiện thái độ tích cực hỗ trợ hoạt động điều tra thì được cộng điểm.

+ Thái độ Chấp hành yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng như: có mặt đúng giấy triệu tập; không bỏ trốn; không tiêu hủy chứng cứ; không mua chuộc, đe dọa người làm chứng; hông cản trở hoạt động điều tra… Đây là căn cứ quan trọng để đánh giá khả năng cải tạo ngoài xã hội.

* Mức độ khắc phục hậu quả (% thiệt hại đã bồi thường): tương tự như tình tiết thành khẩn khai báo thì việc khắc phục hậu quả cũng có nhiều mức độ, như: tự nguyện bồi thường thiệt hại (khắc phục 100%, 70%, 50%...); hành động xin lỗi người bị hại, khôi phục tài sản bị chiếm đoạt … thì được cộng điểm tương ứng.

* Mức độ lỗi: Nếu vụ án có lỗi hỗn hợp (tức người bị hại có một phần lỗi) thì cộng thêm điểm cho bị cáo.

Sau khi xây dựng thang điểm cho các tiêu chí thì cần cân nhắc mức điểm để cân nhắc cho hưởng án treo và mức điểm được hưởng án treo. Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng sẽ giúp tăng tính khách quan trong quyết định cho hưởng án treo. Tuy nhiên, việc xây dựng thang điểm cho các tiêu chí này phải được nghiên cứu cụ thể, cân nhắc thận trọng, hài hòa, phù hợp giữa các tình tiết với nhau. Do dó, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ có thể nêu ra ý tưởng để các bạn đọc cùng tham khảo và trao đổi.

Đồng thời với việc cụ thể hóa tiêu chí đánh giá “không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù” thì cần quy định tăng cường trách nhiệm giải trình của Tòa án bằng cách yêu cầu Bản án phải phân tích cụ thể lý do vì sao: người phạm tội không cần phải cách ly khỏi xã hội (hoặc phải cách ly khỏi xã hội đối với những trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện cho hưởng án treo nhưng Hội đồng xét xử không cho bị cáo hưởng án treo). Điều này giúp nâng cao tính minh bạch và tạo cơ sở cho kiểm tra, giám đốc thẩm.

Hai là, cần hướng dẫn rõ cơ chế thi hành đồng thời hai bản án; quy định rõ thời gian thử thách có tạm dừng khi chấp hành hình phạt tù hay không và hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự. Tác giả cho rằng, để đảm bảo ý nghĩa của án treo thì nên quy định thi hành từng bản án riêng biệt mà không thi hành đồng thời hai bản án, như thi hành xong bản án tù giam mới tiếp tục thực hiện bản án cho hưởng án treo hoặc ngược lại.

Ngoài ra, cần tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật thông qua các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hoặc thông qua phát triển án lệ; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán nhằm hạn chế tình trạng áp dụng án treo thiếu thống nhất và nâng cao chất lượng công tác giám sát, giáo dục người được hưởng án treo tại địa phương; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

ThS. PHẠM THANH PHƯƠNG (Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh)

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.