Từ ngày 01/3/2026, 09 thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân chính thức được áp dụng

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chính thức thông qua Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân, Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 03 năm 2026.

Nghị quyết gồm 05 Chương với 32 Điều hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án (sau đây gọi là thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp) trên môi trường số để giải quyết vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, bao gồm 09 thủ tục sau đây:

- Nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, đơn kháng cáo, đơn đề nghị, kiến nghị, đơn khiếu nại, tố cáo (sau đây gọi là đơn khởi kiện, yêu cầu);

- Cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ;

- Cấp, tống đạt, thông báo văn bản;

- Nộp tạm ứng án phí, lệ phí, chi phí tố tụng; án phí, lệ phí, chi phí tố tụng;

- Phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án, vụ việc;

- Cấp trích lục, bản sao bản án, quyết định của Tòa án;

- Giao, nhận hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng giữa các Tòa án;

- Số hóa, lưu trữ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng;

- Thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

Tuy nhiên, trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quy định khác thì không áp dụng quy định về thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số theo Nghị quyết này.

Đồng thời, việc thực hiện thủ tục giao, nhận hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng giữa Tòa án với Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan khác trên môi trường số được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan, trường hợp pháp luật có liên quan không quy định thì áp dụng Nghị quyết này.

Về đối tượng áp dụng, Nghị quyết này áp dụng đối với các Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Nghị quyết giải thích một số từ ngữ được hiểu như sau:

- Thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp tại Tòa án trên môi trường số là việc Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành, thực hiện toàn bộ hoặc một số thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp bằng phương tiện điện tử thông qua Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc hệ thống khác theo quy định của pháp luật.

- Hệ thống dịch vụ công Tòa án là nền tảng thống nhất có chức năng tiếp nhận, giải quyết, theo dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết, kết quả giải quyết thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống khác theo quy định của pháp luật để cung cấp và thực hiện các dịch vụ công trực tuyến.

- Tài liệu điện tử là tài liệu được khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu.

- Chứng cứ điện tử là chứng cứ được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu được cơ quan, tổ chức, cá nhân thu thập, bảo quản và giao nộp, xuất trình cho Tòa án theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án, vụ việc.

- Hồ sơ điện tử là tập hợp các thành phần hồ sơ vụ án, vụ việc được lưu trữ dưới dạng thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý như hồ sơ bằng văn bản giấy.

- Tài khoản giao dịch điện tử là danh tính điện tử của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được xác thực điện tử để đăng nhập vào Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống khác theo quy định của pháp luật khi thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

- Bản sao điện tử là bản chụp dưới dạng điện tử từ bản chính dạng văn bản giấy hoặc tập tin có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc, bản chính dạng văn bản giấy.

- Cấp bản sao điện tử từ sổ gốc là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao điện tử. Bản sao điện tử từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.

- Chứng thực bản sao điện tử từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính dạng văn bản giấy để chứng thực bản sao bằng hình thức điện tử là đúng với bản chính.

- Số hóa kết quả, hồ sơ giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp là việc chuyển đổi thông tin, dữ liệu, tài liệu giải quyết thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp từ dạng vật lý hoặc tương tự sang dạng dữ liệu số.

- Kho quản lý dữ liệu điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân là không gian điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Hệ thống dịch vụ công Tòa án, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc hệ thống khác để hỗ trợ quản lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu điện tử liên quan đến giao dịch điện tử với Tòa án của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

Về điều kiện tham gia thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số, Nghị quyết quy định cụ thể:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu, lựa chọn thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

- Có cam kết tuân thủ các quy trình về thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số do Tòa án nhân dân tối cao ban hành và hướng dẫn của Nghị quyết này.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có sử dụng chữ ký điện tử hoặc sử dụng hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử theo phân loại, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ xác thực tương ứng với loại giao dịch để thực hiện giao dịch điện tử theo quy định của pháp luật và Quy chế thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Quy chế) do Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

Việc sử dụng chữ ký điện tử trong thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số cũng được quy định một cách chi tiết, cụ thể, theo đó:

- Tòa án khi thực hiện giao dịch điện tử với cơ quan, tổ chức, cá nhân phải sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước khi thực hiện giao dịch điện tử với Tòa án phải sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện giao dịch điện tử với Tòa án có thể sử dụng chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số để thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số. Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.

- Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý, sử dụng chữ ký điện tử theo quy định của Luật Giao dịch điện tử, Nghị quyết này và pháp luật có liên quan.

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng ghi nhận việc sử dụng hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử trong thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp trên môi trường số. Điều này bảo đảm tính khả thi cho các chủ thể khác không sử dụng chữ ký số điện tử. Cụ thể như sau:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể sử dụng một hoặc một số hình thức xác nhận bằng phương tiện điện tử dưới đây để thực hiện thủ tục tố tụng, hành chính tư pháp:

+ Xác thực bằng mã khóa bí mật sử dụng một lần thông qua tin nhắn điện thoại hoặc ứng dụng trên thiết bị di động hoặc ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);

+ Xác thực thông qua thông tin sinh trắc học;

+ Xác thực bằng thiết bị lưu khóa bí mật đạt mức độ an toàn cao;

+ Hình thức khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

Việc sử dụng hình thức xác nhận quy định tại Điều này được thực hiện theo Quy chế.

Về giá trị pháp lý của bản sao điện tử, Nghị quyết quy định cụ thể như sau:

- Bản sao điện tử được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính dạng văn bản giấy có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án cấp bản sao điện tử trong các trường hợp sau đây:

+ Yêu cầu cấp bản sao điện tử từ sổ gốc;

+ Yêu cầu chứng thực bản sao điện tử từ bản chính giấy tờ, tài liệu.

Bên cạnh đó, Nghị quyết còn ghi nhận đầy đủ các quy định bảo đảm áp dụng hiệu quả 09 thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.

Có thể khẳng định, Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ra đời thay thế cho Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử với nhiều sửa đổi, bổ sung mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sự ra đời của Nghị quyết này khẳng định quyết tâm chính trị trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57 – NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc. Việc ban hành Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP về hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án trên môi trường số để giải quyết vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án chính là việc cụ thể hóa các mục tiêu nêu tại Nghị quyết số 57 – NQ/TW nhằm mang lại giá trị lợi ích tốt nhất cho người dân, góp phấn xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, phát triển.

 

HOÀI NGÂN

Ảnh minh họa: nguồn Internet