Vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q

Bài viết đưa ra góc nhìn phản biện đối với quan điểm của tác giả Nguyễn Thanh Vân (Học viện Cảnh sát nhân dân) trong vụ án Nguyễn Thị Q. Thông qua việc phân tích bản chất pháp lý của hành vi “truy cứu trách nhiệm hình sự”, cơ chế gián đoạn thời hiệu do bỏ trốn và nguyên tắc liên tục của hoạt động tố tụng, người viết cho rằng: Vụ án Nguyễn Thị Q vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các cơ quan tiến hành tố tụng cần tiếp tục các bước điều tra, truy tố, xét xử theo quy định pháp luật.

Đặt vấn đề

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) là một chế định quan trọng, thể hiện chính sách nhân đạo và sự nhìn nhận của Nhà nước đối với khả năng tự cải tạo của người phạm tội theo thời gian. Tuy nhiên, việc áp dụng chế định này trong thực tiễn đan xen giữa các thời kỳ lập pháp (BLHS 1985, 1999, 2015) và các tình huống bị can bỏ trốn, dẫn đến việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án thường xuyên gây ra những cách hiểu trái ngược nhau.

Trong bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Vân về vụ án Nguyễn Thị Q, đăng trên Tạp chí Tòa án ngày 16/6/2026, tác giả đã lập luận và ủng hộ quan điểm thứ hai: Đã hết thời hiệu truy cứu TNHS vì tính từ ngày bắt truy nã (14/10/2017) đến nay đã quá 05 năm (thời hiệu đối với tội phạm ít nghiêm trọng theo khoản 1 Điều 174 BLHS 2015) mà chưa có một bản án kết tội có hiệu lực.

Dù lập luận của tác giả có tính mở về mặt lý luận và bảo vệ quyền con người, nhưng dưới góc độ khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm tại Việt Nam, quan điểm này chứa đựng những điểm chưa hoàn chỉnh, nếu áp dụng rộng rãi có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm và phủ nhận hoàn toàn hiệu lực của các quyết định tố tụng đã ban hành. Bài viết này sẽ phân tích các luận điểm nhằm chứng minh vụ án Nguyễn Thị Q vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

1. Quan điểm và lập luận về vấn đề đặt ra trong tình huống pháp lý

1.1. Nhận thức chưa chính xác về thời điểm “Truy cứu trách nhiệm hình sự” bắt đầu

Luận điểm cốt lõi của quan điểm cho rằng “hết thời hiệu” là: Trong thời hạn do BLHS quy định, nếu Tòa án chưa ra được một bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì xem như hết thời hiệu. Đây là một sự nhầm lẫn giữa “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “Thời hạn để kết thúc toàn bộ vụ án bằng một bản án”.

Theo khoản 1 Điều 27 BLHS 2015: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Vậy thế nào là “bị truy cứu TNHS”?

- Về mặt khoa học pháp lý, “truy cứu TNHS” là một quá trình, bắt đầu từ khi Cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) áp dụng biện pháp cưỡng chế pháp lý hình sự chính thức đối với cá nhân người phạm tội. Mốc đánh dấu pháp lý chính thức, làm thay đổi tư cách từ “người bị tố giác/nghi phạm” thành “bị can” chính là Quyết định khởi tố bị can (Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015).

- Khi Quyết định khởi tố bị can được ban hành và có phê chuẩn của Viện kiểm sát, Nhà nước đã chính thức kích hoạt quyền lực tư pháp để truy cứu trách nhiệm đối với người đó.

Trong vụ án này, ngay từ ngày 08/3/1995, Cơ quan CSĐT Công an huyện BS đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Q. Hành vi “truy cứu TNHS” đã thực sự diễn ra và đang được thực hiện. Do đó, không thể lập luận rằng, sau khi bị can bị bắt lại theo lệnh truy nã, cơ quan tố tụng phải “chạy đua” để ra bản án trong vòng 05 năm, nếu không sẽ bị tước bỏ quyền truy cứu. Việc hiểu rằng thời hiệu truy cứu TNHS chỉ dừng lại khi có bản án có hiệu lực là thu hẹp nội hàm của cụm từ “truy cứu”, đồng thời biến thời hiệu thành “thời hạn xét xử” - một khái niệm hoàn toàn khác được quy định riêng trong BLTTHS.

1.2. Bản chất của việc “tính lại thời hiệu” khi bị can bỏ trốn

Quan điểm cho rằng, do áp dụng nguyên tắc có lợi, Nguyễn Thị Q được áp dụng khoản 1 Điều 174 BLHS 2015 (tội phạm ít nghiêm trọng, thời hiệu 05 năm), và mốc 05 năm này tính lại từ ngày bắt giữ (14/10/2017), nên đến ngày 14/10/2022 là hết thời hiệu. Lập luận này có lỗ hổng lớn về mặt logic pháp lý như sau:

- Quy định tại khoản 3 Điều 27 BLHS 2015 nêu rõ: “Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu trong thời gian trốn không được tính; thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”. Quy định của điều luật này giải quyết cho trường hợp người phạm tội chưa bị xử lý (hoặc đang trong quá trình trốn tránh mà cơ quan điều tra chưa thể hoàn thành hồ sơ).

+ Nếu mốc thời gian 05 năm bắt đầu lại từ ngày 14/10/2017, thì đây là thời hạn tối đa để các cơ quan tố tụng kịp thời phục hồi điều tra và đưa ra các phán quyết tiếp theo, chứ không phải là thời hạn bắt buộc phải kết thúc bằng một bản án.

+ Quan trọng hơn, khi Nguyễn Thị Q bị bắt vào ngày 14/10/2017, Cơ quan CSĐT đã ngay lập tức ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án và phục hồi điều tra bị can. Hành động “phục hồi” này là sự tiếp diễn của dòng thác tố tụng đã bị tạm ngắt trước đó do trở ngại khách quan (bị can trốn). Việc thực hiện hàng loạt hoạt động tố tụng liên tục (Lấy lời khai, Kết luận điều tra số 07, trả hồ sơ, trưng cầu định giá,...) chứng minh Nhà nước không hề từ bỏ hay chậm trễ trong việc truy cứu, mà trái lại, đang thực hiện quyền lực đó một cách quyết liệt.

1.3. Thời gian tạm đình chỉ để chờ kết quả định giá tài sản không được tính vào thời hiệu

Một chi tiết quan trọng trong vụ án này là ngày 21/3/2018, VKSND huyện BS ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và bị can để chờ kết quả thẩm định giá gạo thời điểm năm 1994. Đến ngày 10/10/2022, VKSND mới phục hồi điều tra sau khi nhận được kết quả. Khoảng thời gian này kéo dài 04 năm 06 tháng 19 ngày.

Quan điểm “hết thời hiệu” cho rằng thời gian này vẫn chạy, và vì nó quá dài nên làm hết thời hiệu của bị can. Điều này hoàn toàn đi ngược lại nguyên lý công bằng và sự hợp lý của luật tố tụng:

- Việc tạm đình chỉ để chờ định giá là một trở ngại khách quan và là thủ tục bắt buộc để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được chính xác (xác định giá gạo năm 1994 nhằm định khung hình phạt có lợi cho bị can). Bị can không thể vừa được hưởng lợi từ việc định giá thấp để chuyển sang tội ít nghiêm trọng, lại vừa muốn dùng chính thời gian chờ định giá đó để triệt tiêu trách nhiệm hình sự của mình.

- Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSND tối cao đã giải đáp rất rõ ràng và phù hợp với thực tiễn: Thời gian tạm đình chỉ điều tra do nguyên nhân khách quan (như chờ kết quả giám định, định giá, tương trợ tư pháp) không được tính vào thời gian để xem xét thời hiệu truy cứu TNHS.

Nếu lấy tổng thời gian từ ngày bắt giữ (14/10/2017) đến thời điểm phục hồi năm 2022, trừ đi khoảng thời gian tạm đình chỉ hợp pháp (hơn 4 năm 6 tháng), thì thời gian tố tụng thực tế trôi qua chưa đầy 01 năm, hoàn toàn nằm trong thời hạn 05 năm quy định tại khoản 1 Điều 27 BLHS 2015.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thực tiễn xét xử cho thấy, quy định về thời hiệu trong BLHS 2015 và quy định về tạm đình chỉ trong BLTTHS 2015 chưa có sự gắn kết, đồng bộ rõ ràng bằng văn bản quy phạm pháp luật.

Để giải quyết triệt để những vướng mắc này, người viết đưa ra một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hiện nay, hướng dẫn tại Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 chỉ mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ nội bộ trong ngành Kiểm sát, không có giá trị bắt buộc áp dụng đối với Cơ quan Điều tra và Tòa án. Do đó, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần ban hành một Nghị quyết hướng dẫn chi tiết về chế định thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại Điều 27 BLHS 2015. Tác giả đề xuất nội dung hướng dẫn cụ thể như sau:

“Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dừng lại kể từ thời điểm Cơ quan tiến hành tố tụng ra Quyết định khởi tố bị can. Các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sau đó được kiểm soát bằng thời hạn tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, không chịu sự khống chế của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự”.

Thứ hai, tác giả kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 27 BLHS 2015 về trường hợp tạm đình chỉ. Cụ thể:

Cần luật hóa nội dung loại trừ thời gian tạm đình chỉ vào BLHS. Cụ thể, đề xuất bổ sung vào cuối khoản 3 Điều 27 BLHS 2015 nội dung sau:

“...Thời gian vụ án, bị can bị tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án do chờ kết quả giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp hoặc do nguyên nhân khách quan khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Việc bổ sung này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc, giúp các cơ quan THTT yên tâm thực hiện các thủ tục trưng cầu giám định, định giá (vốn thường mất nhiều thời gian do thủ tục hành chính) mà không lo sợ vụ án bị hết thời hiệu.

Thứ ba, cần có giải pháp phù hợp nâng cao trách nhiệm và đẩy nhanh tiến độ định giá tài sản trong tố tụng

Trong vụ án trên, Hội đồng định giá tài sản huyện BS mất tới hơn 4 năm để trả lời một câu hỏi không quá phức tạp là “đơn giá gạo năm 1994”. Sự chậm trễ này chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc tranh chấp thời hiệu. Do đó, cần cơ cấu lại thời hạn làm việc của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, quy định chế tài xử lý trách nhiệm cụ thể đối với tổ chức, cá nhân chậm trễ trả lời kết quả, tránh làm ảnh hưởng đến dòng chảy của vụ án hình sự.

Kết luận

Việc xác định thời hiệu truy cứu TNHS đối với Nguyễn Thị Q không thể chỉ nhìn nhận một cách máy móc của những con số (lịch) thuần túy, mà phải đặt trong chỉnh thể bản chất của luật hình sự: trừng trị đúng tội và không bỏ lọt tội phạm. Nguyễn Thị Q đã thực hiện hành vi gian dối, chiếm đoạt tài sản, bỏ trốn nhiều năm, khi bị bắt lại đã được áp dụng các nguyên tắc có lợi nhất để giảm nhẹ khung hình phạt từ tội nghiêm trọng xuống tội ít nghiêm trọng.

Việc cơ quan tố tụng tiến hành các bước điều tra bổ sung và tạm đình chỉ chờ định giá là đúng quy định, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chính bị can. Vì vậy, thời gian này không thể tính vào thời hiệu để giải thoát trách nhiệm cho bị can. Vụ án Nguyễn Thị Q vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, và việc Viện kiểm sát nhân dân huyện BS tiếp tục phục hồi điều tra, truy tố là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh của tư pháp hình sự nước nhà.

Trên đây là quan điểm của người viết, rất mong có thêm nhiều ý kiến của các đồng nghiệp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

PHẠM HỒNG PHƯƠNG THẢO (TAND khu vực 1 - Khánh Hòa)

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

3. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999, tư liệu tra cứu lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam.

5. Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 14/9/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự.

6. Công văn số 5442/VKSNDTC-V14 ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 và thi hành án hình sự.

7. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

8. Nguyễn Thanh Vân (2026), Xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Q như thế nào?, Chuyên mục Trao đổi ý kiến - Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử.

Hội đồng xét xử TAND khu vực 3 - Cần Thơ - Nguồn: Trang TTĐT TAND TP. Cần Thơ.