Vụ án dư luận quan tâm: Hủy bản án vì hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng vi phạm điều cấm của pháp luật

Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT của TAND Cấp cao tại TP.HCM (nay là Toà Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM) tuyên hợp đồng hứa thưởng giữa Luật sư và khách hàng vô hiệu. Phán quyết thu hút sự quan tâm chia sẻ của dư luận

Hợp đồng hứa thưởng giữa Văn phòng luật sư và khách hàng trị giá 1,44 tỉ đồng bị hủy

Ông Q và bà D ký hợp đồng hứa thưởng với Văn phòng luật sư L thỏa thuận trả 20% giá trị quyền lợi đạt được nếu luật sư giúp họ giải quyết thành công việc bồi thường, hỗ trợ đất đai. Văn phòng luật sư đã thực hiện tư vấn, soạn thảo và gửi đơn khiếu nại, tham gia bảo vệ quyền lợi cho khách hàng. Khi kết quả đạt được, khách hàng không thanh toán theo thỏa thuận. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của luật sư. Tuy nhiên, tại cấp giám đốc thẩm, hợp đồng bị tuyên vô hiệu với lập luận rằng việc ký kết hợp đồng hứa thưởng theo tỉ lệ phần trăm là vi phạm điều cấm của pháp luật, từ đó hủy toàn bộ các bản án trước.

Cụ thể, nội dung vụ án như sau, vợ chồng ông Q, bà D bị UBND huyện X ban hành quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án thành phần thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía đông.

Số tiền mà ông Q, bà D được UBND huyện phê duyệt bồi thường là 4,1 tỉ đồng. Không đồng ý với giá bồi thường này, ông Q, bà D đã ký hợp đồng hứa thưởng với Văn phòng luật sư L. Theo hợp đồng hứa thưởng thì Văn phòng luật sư này sẽ thay mặt và nhân danh cho ông Q, bà D tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp giải quyết việc bồi thường, hỗ trợ.

Sau khi ký hợp đồng, Văn phòng luật sư cử luật sư tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Q, bà D; đã tư vấn về nội dung, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, soạn thảo đơn khiếu nại cho ông Q, bà D; đồng thời, gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền, lợi hợp pháp cho ông Q, bà D.

Sau đó, ông Q, bà D đã được UBND huyện X ra quyết định hỗ trợ số tiền 7,2 tỉ đồng nhưng không thông báo cho VPLS L và cũng không thực hiện thanh toán cho Văn phòng này theo hợp đồng hứa thưởng với số tiền là 1,44 tỉ đồng (20% số tiền bồi thường). Từ đó, Trưởng Văn phòng L đã khởi kiện yêu cầu ông Q, bà D phải thanh toán số tiền này.

Về phía bị đơn, ông Q, bà D xác định hai bên có ký hợp đồng hứa thưởng. Văn phòng L đã tư vấn cho cho ông bà về nội dung, thủ tục về bồi thường, hỗ trợ, đồng thời gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền để khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ.

Sau khi Văn phòng luật sư gửi các đơn khiếu nại thì ông bà được UBND huyện hướng dẫn và cam kết sẽ giải quyết đơn khiếu nại của ông bà theo quy định. Do đó, ông bà đã rút lại tất cả các đơn khiếu nại của Văn phòng L và đề nghị chấm dứt ủy quyền với Văn phòng L.

Ngoài ra, ông Q, bà D nhận thấy Văn phòng L không có năng lực nên đã từng yêu cầu chấm dứt hợp đồng hứa thưởng với Văn phòng L nhưng Văn phòng L không đồng ý. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Hợp đồng hứa thưởng vi phạm điều cấm của pháp luật nên vô hiệu.

Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, Chánh án TAND Cấp cao tại TP.HCM kháng nghị đối bản án dân sự phúc thẩm, đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại TP.HCM xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại.

Uỷ ban thẩm phán, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư về các hành vi bị nghiêm cấm: “Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;”

và tại Quy tắc số 9.2 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam về những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng “Gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản hoặc lợi ích khác cho luật sư hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư.”

 Uỷ ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao nhận định: "Mặc dù, biết rõ các quy định nêu trên nhưng ông T - Trưởng Văn phòng L vẫn thỏa thuận ký hợp đồng hứa thưởng với vợ chồng ông Q, bà D. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định hợp đồng hứa thưởng không vi phạm pháp luật và Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam để từ đó buộc ông Q và bà D trả cho Văn phòng L số tiền 1,44 tỉ đồng là không đúng pháp luật".

Có cơ sở xác định hợp đồng hứa thưởng ngày 14-8-2020 được ký kết giữa ông Q, bà D với Văn phòng L - do ông T làm đại diện đã vi phạm điều cấm của pháp luật. Căn cứ Điều 117 và Điều 123 của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng hứa thưởng trên vô hiệu tại thời điểm ký kết.

Do đó, Uỷ ban thẩm phán TAND Cấp cao tại TP.HCM chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TAND Cấp cao tại TP.HCM, tuyên huỷ toàn bộ cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại.

HẢI HÀ