
Xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thương mại
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) lần đầu tiên quy định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là pháp nhân thương mại mà không chỉ có chủ thể là cá nhân như pháp luật hình sự trước đây. Đồng thời, quy định cụ thể về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự, phạm vi tội phạm mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự,… và quy định cụ thể việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân trong trường hợp này cần được luận bàn, làm rõ để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
1. Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội
Khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”.
Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015, thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 33 tội phạm thuộc 03 nhóm sau đây:
Thứ nhất, nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Điều 188 (Tội buôn lậu); Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (Tội đầu cơ); Điều 200 (Tội trốn thuế); Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (Tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã);
Thứ hai, nhóm các tội phạm về môi trường: Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (Tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (Tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại);
Thứ ba, nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng: Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố); Điều 324 (Tội rửa tiền).
Khi quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể là pháp nhân thương mại, nhà làm luật căn cứ vào đặc trưng cơ bản của chủ thể này, theo đó, pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên[1].
Về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, khoản 1 Điều 76 BLHS năm 2015 quy định:
“Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.”.
Như vậy, Điều luật quy định 04 điều kiện để xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và quy định rõ chỉ khi xác định được đủ 04 điều kiện nêu trên thì mới có thể buộc pháp nhân thương mại đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng.
2. Một số hạn chế, vướng mắc
Khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ 04 điều kiện nêu trên. Hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại được thực hiện thông qua cá nhân cụ thể và để xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại thì cần đánh giá, xác định cá nhân thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của pháp nhân. Khi xác định đầy đủ, chính xác những điều kiện này, kèm theo điều kiện về thời hiệu quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015 thì mới có đủ căn cứ để buộc pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tại khoản 2 Điều 75 BLHS 2015 quy định việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Điều này có nghĩa là, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, việc pháp nhân thương mại phải chịu một trong các hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án không đồng nghĩa với việc bỏ qua trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có liên quan. Chúng tôi cho rằng, BLHS năm 2015 đặt ra quy định này là hoàn toàn cần thiết và phù hợp. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân trong trường hợp xác định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện như thế nào? Hành vi mà cá nhân đó thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của pháp nhân thì xác định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân đó khi nào là vấn đề còn chưa có quy định cụ thể, rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng trong thực tế gặp nhiều lúng túng, vướng mắc.
Có thể thấy, như phân tích nêu trên, pháp nhân thương mại sẽ phải chịu hình phạt khi thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 75 BLHS 2015. Còn đối với cá nhân, theo quy định thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS năm 2015.
Nhóm tác giả xin đưa ra một ví dụ cụ thể để minh họa như sau:
A là giám đốc của Công ty cổ phần B, A thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của pháp nhân. Để chứng minh, làm rõ nội dung này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh hành vi phạm tội, lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy, người đại diện pháp nhân đã thực hiện hoặc các điều kiện khác về vai trò lãnh đạo, chỉ huy, nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân để phạm tội. Như vậy, các điều kiện để các định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, bao gồm cả điều kiện về thời hiệu đều có đủ. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm hình sự đối với A trong trường hợp này như thế nào?
Có quan điểm cho rằng, về nguyên tắc người lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân thực hiện một tội phạm vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân, theo sự chỉ đạo hoặc đồng tình của pháp nhân, thì cả pháp nhân và người trực tiếp thực hiện đó phải chịu trách nhiệm hình sự về cùng một tội. Như vậy, theo quan điểm này thì việc xác định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân dựa trên kết quả xác định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.
Quan điểm khác lại cho rằng, chỉ khi chứng minh được cá nhân thực hiện hành vi phạm tội nhưng không nhân danh, không vì lợi ích của cá nhân đó thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tức là, ngoài việc thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo hoặc chấp thuận của pháp nhân thì còn chứng minh được việc cá nhân thực hiện hành vi phạm tội độc lập khác trong chuỗi hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thì lúc đó cá nhân mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, thực tiễn xét xử hiện nay cho thấy, việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 75 BLHS năm 2015 về xác định việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Điều này xuất phát từ việc chưa có văn bản cụ thể của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn về nội dung này, để bảo đảm việc hiểu và áp dụng thống nhất pháp luật.
3. Một số lưu ý và đề xuất, kiến nghị
Về mặt lý luận, cơ sở để xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân được căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 2 BLHS 2015, theo đó chỉ người nào phạm một trong các tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo quy định của BLHS thì để xác định trách nhiệm hình sự đối với một cá nhân thì cá nhân phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể, lỗi, không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại phần chung của Bộ luật Hình sự.
Người phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tất cả tội phạm được quy định tại phần các tội phạm (Điều 8 BLHS 2015).
Thực tế cho thấy, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là những hành vi phạm tội do một người hoặc một số người của pháp nhân đó thực hiện (như người có chức danh lãnh đạo, quản lý điều hành hoặc được pháp nhân ủy quyền, phân công, giao nhiệm vụ…) họ đã nhân danh pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội đó.
Trường hợp người lãnh đạo, người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân nhưng chứng minh được họ vượt quá thẩm quyền hoặc lợi dụng danh nghĩa hay vật chất của pháp nhân thương mại để thực hiện tội phạm vì lợi ích của cá nhân thì trường hợp này, ngoài xác định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại thì cần xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân và pháp nhân thương mại sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của cá nhân.
Mọi hoạt động của pháp nhân thương mại phải được thông qua các hành vi của cá nhân và các hành vi đó tạo ra quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân thương mại. Để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân pháp nhân thương mại, phải căn cứ vào hành vi của cá nhân là người lãnh đạo, chỉ huy, người đại diện hoặc người được pháp nhân phân công thực hiện.
Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là phải làm rõ có hay không có hành vi phạm tội vượt quá của một người, hay một nhóm người nhân danh pháp nhân thương mại phạm tội. Nếu có thì phải phân định rõ hành vi phạm tội vượt quá, để xác định trách nhiệm hình sự của từng đối tượng. Làm rõ có hay không hành vi lợi dụng danh nghĩa pháp nhân thương mại để phạm tội vì lợi ích riêng, hành vi phạm tội thuộc điều, khoản nào quy định trong BLHS năm 2015.
Tuy nhiên, để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn, chúng tôi kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn việc xác định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội gắn với trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Chúng tôi đề xuất, nội dung hướng dẫn cần có các tiêu chí cụ thể như: mục đích thực hiện hành vi phạm tội là nhằm mang lại lợi ích cho pháp nhân thương mại phạm tội hay cho cả cá nhân thực hiện hành vi; có hay không việc vượt quá sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; …
Đồng thời, cần lưu ý rằng, quy định tại Khoản 2 Điều 75 BLHS 2015 đặt ra việc xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội để bảo đảm tính công bằng, tính răn đe, không bỏ lọt tội phạm nhưng không đồng nhất việc trong mọi trường hợp khi xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội, thì cá nhân nhân danh pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể nhất định theo nguyên tắc: Pháp nhân thương mại sẽ phải chịu hình phạt khi thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 75 BLHS 2015, còn đối với cá nhân sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm quy định trong BLHS 2015.
Kết luận
Việc xác định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại là vấn đề còn khá mới mẻ do lần đầu được ghi nhận trong BLHS năm 2015. BLHS năm 2015 quy định khi một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thương mại, cả cá nhân và pháp nhân đều có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này nhằm ngăn chặn việc lợi dụng pháp nhân để trốn tránh trách nhiệm hình sự, đảm bảo sự công bằng và minh bạch của pháp luật. Tuy nhiên, khi xác định trách nhiệm hình sự của cá nhân trong trường hợp này cần bảo đảm sự thận trọng để tránh làm oan người vô tội nhưng cũng cần bảo đảm không bỏ lọt tội phạm. Do vậy, để bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử thì nội dung này cần được nghiên cứu, đánh giá, tổng kết thi hành và sớm ban hành văn bản hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng./.
[1] Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ảnh: nguồn Internet
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
2. Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Thẩm quyền trong tố tụng hình sự của điều tra viên là trưởng hoặc phó trưởng Công an cấp xã
-
Quy định về chiếm hữu và bảo vệ việc chiếm hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 – một số vấn đề cần lưu ý và đề xuất, kiến nghị
-
Trao đổi bài viết “Chiếc ghe máy đánh bắt cá có được xác định là tài sản mà Phạm Hữu V đã trộm cắp của ông Nguyễn Văn C không?”
-
Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên trao quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Thái Khắc Thành "vụ Gà lôi"
-
Soobin Hoàng Sơn, Hòa Minzy và dàn sao khủng “đổ bộ” Concert “Việt Nam trong tôi”
Bình luận