Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về tội “Đánh bạc”
(TCTA) - Trong những năm gần đây, tội phạm đánh bạc ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều hình thức tinh vi, đặc biệt là sự xuất hiện của đánh bạc qua mạng Internet và các phương tiện điện tử. Mặc dù Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định tương đối cụ thể về tội Đánh bạc tại Điều 321 BLHS, song thực tiễn áp dụng vẫn còn phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn gây ra sự thiếu thống nhất trong xét xử.
Bài viết phân tích một số vướng mắc điển hình trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tội đánh bạc, đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.
1. Quy định của pháp luật về tội đánh bạc
Theo Điều 321 BLHS, tội đánh bạc được hiểu là hành vi “đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật”. Người phạm tội có thể bị xử lý hình sự khi: Số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên; hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi này mà chưa được xóa án tích.
Ngoài ra, các hành vi có liên quan như tổ chức đánh bạc, gá bạc được quy định tại Điều 322 BLHS, với khung hình phạt nghiêm khắc hơn.
2. Cấu thành tội Đánh bạc theo pháp luật Hình sự
2.1. Khách thể của tội phạm
Tội đánh bạc xâm phạm đến trật tự công cộng, cụ thể là nếp sống văn minh, lành mạnh trong xã hội; trật tự an toàn xã hội; các quy định của Nhà nước về quản lý hoạt động vui chơi có thưởng. Hành vi đánh bạc, đặc biệt khi diễn ra phổ biến, có thể kéo theo nhiều hệ lụy như trộm cắp, cho vay nặng lãi, gây mất ổn định xã hội.
2.2. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội đánh bạc thể hiện qua các dấu hiệu sau:
- Là hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật.
Các hình thức phổ biến: Đánh bài (tiến lên, phỏm, xóc đĩa…); cá độ bóng đá; lô đề; đánh bạc qua mạng Internet.
- Tính trái phép là hành vi không được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Đây là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt với các hoạt động hợp pháp như casino được cấp phép.
- Hậu quả (dấu hiệu định lượng): Người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi: Số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên; hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc mà chưa được xóa án tích.
- Mối quan hệ nhân quả: Hành vi đánh bạc trái phép phải gắn liền với việc phát sinh được thua bằng tiền hoặc hiện vật.
2.3. Chủ thể của tội phạm: là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Không yêu cầu chủ thể đặc biệt bất kỳ cá nhân nào thỏa mãn điều kiện đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm.
2.4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội đánh bạc được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi là trái pháp luật; nhận thức được việc được thua bằng tiền hoặc hiện vật; mong muốn thực hiện hành vi đó. Mục đích chủ yếu là vụ lợi (thu lợi vật chất), tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng là đặc trưng phổ biến.
3. Dấu hiệu pháp lý đặc trưng cần lưu ý: Khi xác định tội đánh bạc, cần đặc biệt chú ý: Dấu hiệu “được thua bằng tiền hoặc hiện vật” là bắt buộc; phải xác định rõ số tiền dùng để đánh bạc; phân biệt với: tội tổ chức đánh bạc (Điều 322 BLHS), hành vi giải trí không mang tính đánh bạc.
Cấu thành tội đánh bạc theo Điều 321 BLHS là cấu thành vật chất có dấu hiệu định lượng rõ ràng, đòi hỏi phải xác định đầy đủ các yếu tố: hành vi đánh bạc trái phép, yếu tố được thua bằng tiền hoặc hiện vật, giá trị tài sản liên quan.
4. Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
4.1. Vướng mắc trong xác định số tiền dùng để đánh bạc
Khoảng 21 giờ ngày 15/3/2023, Công an bắt quả tang 5 đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức “xóc đĩa” tại nhà của Nguyễn Văn A. Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm: 20.000.000 ng tiền mặt trên chiếu bạc;
Trong người các đối tượng có thêm: A: 10.000.000 đồng (khai dùng để đánh bạc); B: 5.000.000 đồng (chưa kịp sử dụng); C: 3.000.000 đồng (khai mang theo để tiêu dùng cá nhân); D, E: không có tiền thêm.
Việc xác định số tiền dùng để đánh bạc là yếu tố then chốt để định tội và định khung hình phạt. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay chưa thống nhất ở các điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: Xác định số tiền dùng để đánh bạc là 20.000.000 đồng (chỉ tính tiền trên chiếu bạc). Vì đây là số tiền đã trực tiếp được sử dụng trong hành vi đánh bạc.
Quan điểm thứ hai: Xác định số tiền là 35.000.000 đồng (bao gồm tiền trên chiếu bạc + tiền A và B khai dùng để đánh bạc). Cần tính cả số tiền “sẽ dùng để đánh bạc”.
Quan điểm thứ ba: Xác định số tiền là 38.000.000 đồng (bao gồm toàn bộ tiền thu giữ, kể cả của C). Toàn bộ tiền mang theo tại hiện trường đều có khả năng sử dụng vào việc đánh bạc.
4.2. Vướng mắc trong phân biệt tội đánh bạc với tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
Khoảng 22 giờ ngày 10/6/2023, Công an bắt quả tang một nhóm 7 người đang đánh bạc dưới hình thức “phỏm” tại nhà của Trần Văn A. Kết quả điều tra xác định: A là chủ nhà, chuẩn bị địa điểm, chiếu bạc, A không trực tiếp tham gia chơi nhưng thu mỗi người 100.000 đồng gọi là “tiền hồ”; tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 18.000.000 đồng; các đối tượng khác trực tiếp tham gia đánh bạc.
Quan điểm thứ nhất: Xử lý A về tội Đánh bạc theo Điều 321 BLHS với vai trò đồng phạm. Vì A có mặt tại hiện trường; có hành vi liên quan đến việc đánh bạc; mức độ nguy hiểm chưa lớn.
Quan điểm thứ hai: Xử lý A về tội tổ chức Đánh bạc theo Điều 322 BLHS. Do A đã chuẩn bị địa điểm, phương tiện; Có hành vi thu tiền hồ thể hiện mục đích trục lợi; không cần trực tiếp tham gia đánh bạc vẫn cấu thành tội.
Quan điểm thứ ba: Xử lý A về tội gá bạc theo Điều 322 BLHS. A chỉ cho mượn địa điểm để người khác đánh bạc; hành vi thu tiền có thể coi là “thu lợi từ việc cho sử dụng địa điểm”.
4.3. Vướng mắc trong xử lý hành vi ghi số đề
Trong các ngày từ 01/7/2023 đến 05/7/2023, Nguyễn Thị A thực hiện việc ghi số đề cho nhiều người tại địa phương thông qua tin nhắn điện thoại. Kết quả điều tra xác định A nhận ghi số đề cho khoảng 15 người chơi; tổng số tiền ghi đề mỗi ngày dao động từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng; A chuyển toàn bộ bảng đề cho B (đầu mối cấp trên) và được hưởng hoa hồng 5% trên tổng số tiền; A không trực tiếp tham gia chơi số đề.
Quan điểm thứ nhất: Xử lý A về tội đánh bạc theo Điều 321 BLHS. Hành vi ghi đề được xem là một hình thức tham gia đánh bạc; A không phải là người tổ chức chính.
Quan điểm thứ hai: Xử lý A về tội tổ chức đánh bạc theo Điều 322 BLHS vì A đóng vai trò trung gian, điều hành một phần hoạt động đánh bạc; có hưởng lợi (hoa hồng); hành vi mang tính tổ chức, không chỉ đơn thuần là người chơi.
Quan điểm thứ ba: Xác định A là đồng phạm giúp sức trong tội tổ chức đánh bạc. A không phải chủ mưu, không điều hành toàn bộ hệ thống; chỉ thực hiện một phần công việc (ghi số, chuyển bảng đề); hưởng lợi nhưng không quyết định kết quả hoặc quy mô.
Hành vi ghi số đề là một dạng phổ biến của tội phạm đánh bạc. Tuy nhiên, việc xác định tội danh đối với người ghi số đề còn nhiều quan điểm khác nhau:
Trường hợp ghi số đề với vai trò trung gian, không hưởng lợi đáng kể: có thể bị coi là người đánh bạc;
Trường hợp tổ chức mạng lưới, hưởng lợi từ hoạt động ghi đề: có thể bị xử lý về tội tổ chức đánh bạc.
Sự thiếu rõ ràng trong tiêu chí phân định dẫn đến tình trạng cùng một hành vi nhưng có thể bị xử lý theo các tội danh khác nhau.
4.4. Vướng mắc trong xử lý hành vi đánh bạc qua mạng Internet
Từ tháng 01/2024 đến tháng 3/2024, Nguyễn Văn A sử dụng điện thoại di động để tham gia cá độ bóng đá trên một website nước ngoài. Quá trình điều tra xác định A tạo tài khoản cá cược thông qua một đại lý trung gian tại Việt Nam; việc nạp, rút tiền được thực hiện qua ví điện tử và tài khoản ngân hàng; tổng số tiền A đã nạp vào tài khoản cá cược là 200.000.000 đồng; số tiền thực tế dùng để đặt cược (tính theo các lần cược) là 150.000.000 đồng; có thời điểm A thắng cược, số dư tài khoản lên đến 250.000.000 đồng.
Quan điểm thứ nhất: Xác định số tiền dùng để đánh bạc là 200.000.000 đồng (tổng số tiền nạp vào tài khoản). Toàn bộ số tiền này được đưa vào hệ thống đánh bạc; người chơi có khả năng sử dụng toàn bộ để cá cược.
Quan điểm thứ hai: Xác định số tiền là 150.000.000 đồng (tổng số tiền thực tế đã đặt cược). Chỉ số tiền đã dùng để đặt cược mới phản ánh hành vi đánh bạc; phù hợp với bản chất “được thua bằng tiền”.
Quan điểm thứ ba: Xác định số tiền là 250.000.000 đồng (bao gồm cả tiền thắng cược trong tài khoản). Số tiền trong tài khoản tại từng thời điểm phản ánh quy mô đánh bạc; tiền thắng có thể tiếp tục được sử dụng để đánh bạc.
Quan điểm của tác giả: Theo Điều 321 BLHS, dấu hiệu quan trọng là “tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc”. Tuy nhiên, đối với đánh bạc qua mạng. Tiền không tồn tại trực tiếp tại “chiếu bạc” mà nằm trong hệ thống điện tử; việc xác định tiền nạp, tiền đã cược, tiền thắng thua là rất phức tạp. Cần xác định số tiền thực tế đã sử dụng để đánh bạc và số tiền có căn cứ chứng minh sẽ dùng để đánh bạc. Do đó 150 triệu (đã cược) chắc chắn tính phần tiền chưa sử dụng trong 200 triệu cần chứng minh ý định; tiền thắng cược không phải lúc nào cũng được tính, trừ khi tiếp tục dùng để đánh bạc.
Vướng mắc đặt ra khó xác định dòng tiền trong môi trường điện tử; thiếu hướng dẫn cụ thể về tiền nạp, tiền cược, tiền thắng. Khó thu thập chứng cứ từ máy chủ nước ngoài, dữ liệu tài khoản; khó xác định thời điểm hoàn thành tội phạm. Cùng một hành vi nhưng có thể xác định số tiền khác nhau dẫn đến áp dụng khung hình phạt khác nhau; tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý chưa tương xứng.
Vướng mắc trong xử lý hành vi đánh bạc qua mạng Internet cho thấy quy định của Điều 321 BLHS chưa theo kịp thực tiễn phát triển của công nghệ. Do đó, cần bổ sung quy định riêng về đánh bạc trực tuyến; hướng dẫn cụ thể cách xác định số tiền; nâng cao năng lực thu thập chứng cứ điện tử của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm xuất hiện nhiều hình thức đánh bạc trực tuyến với quy mô lớn, xuyên quốc gia. Thực tiễn xử lý loại tội phạm này gặp nhiều khó khăn xác định danh tính người tham gia; khó thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử; khó xác định giá trị tiền đánh bạc khi sử dụng tiền ảo hoặc các đơn vị trung gian. Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể, đầy đủ về vấn đề này, dẫn đến khoảng trống pháp lý trong xử lý.
4.5. Vướng mắc trong xác định tính “trái phép” của hành vi đánh bạc
Khoảng 20 giờ ngày 12/8/2023, tại nhà của Phạm Văn A, một nhóm 6 người tụ tập chơi bài “tiến lên miền Nam”. Quá trình kiểm tra, cơ quan công an xác định mỗi ván, người thua phải trả cho người thắng từ 10.000 đến 20.000 đồng; Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 1.200.000 đồng các đối tượng khai mục đích chơi là “giải trí”, số tiền nhỏ, không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc.
Quan điểm thứ nhất: Không xử lý hình sự, chỉ xử phạt hành chính. Số tiền nhỏ, mang tính giải trí, chưa đủ mức định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 321 BLHS.
Quan điểm thứ hai: Xử lý hành chính vì vẫn là hành vi đánh bạc trái phép. Có yếu tố “được thua bằng tiền”, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép dù số tiền nhỏ vẫn vi phạm pháp luật.
Quan điểm thứ ba: Không xử lý vì không coi là “đánh bạc trái phép”. Mục đích chủ yếu là giải trí, số tiền mang tính tượng trưng; không gây ảnh hưởng đáng kể đến trật tự xã hội.
Một số trường hợp như chơi bài, chơi game có thưởng với giá trị nhỏ gây tranh cãi trong việc xác định có phải là hành vi đánh bạc trái phép hay không. Hiện nay, pháp luật chủ yếu dựa vào yếu tố “được thua bằng tiền hoặc hiện vật” mà chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
5.6. Vướng mắc trong hoạt động chứng minh tội phạm
Theo quy định của BLHS, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, trên thực tế tang vật có thể bị che giấu hoặc tẩu tán, lời khai của các bị cáo thường không thống nhất, việc thu thập chứng cứ điện tử còn hạn chế. Những khó khăn này ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, truy tố và xét xử.
6. Kiến nghị hoàn thiện
Để khắc phục các vướng mắc nêu trên, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng: Làm rõ cách xác định số tiền dùng để đánh bạc; Bổ sung tiêu chí phân biệt giữa tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc; Quy định cụ thể về xử lý hành vi đánh bạc qua mạng.
Thứ hai, cần ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.
Thứ ba, nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, nhất là chứng cứ điện tử.
Thứ tư, tăng cường công tác phòng ngừa, kiểm soát các hoạt động liên quan đến cá cược, đánh bạc trái phép trong môi trường số.
Tội đánh bạc là loại tội phạm phổ biến, có tính chất phức tạp và ngày càng biến tướng đa dạng. Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam đã có quy định tương đối đầy đủ, song thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định số tiền đánh bạc, phân biệt tội danh và xử lý các hành vi mới phát sinh.
Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng thống nhất là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh hiện nay.
Ảnh minh họa - nguồn Internet.
Bài liên quan
-
Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về xử lý hình sự đối với tội phạm liên quan đến tài sản mã hóa và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
-
Lý luận về phòng chống tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
-
Tuyên án 117 bị cáo trong đường dây tội phạm xuyên quốc gia lừa đảo tại Tam giác vàng
-
Tăng mức tiền thưởng cho cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phòng, chống tội phạm từ 16/3/2026
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Truy cứu trách nhiệm hình sự theo một hay nhiều tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Một số ý kiến về việc giải quyết các vụ án tranh chấp có đối tượng là bất động sản theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
-
Thể lệ, Quy trình phản biện, Hội đồng Biên tập và Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Toà án nhân dân
-
Hòa giải tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2024 và một số kiến nghị thực thi
Bình luận