Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Bài viết tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành. Bên cạnh đó, phân tích, đánh giá những bất cập trong các quy định pháp luật cũng như trong thực tiễn xét xử, quyết định áp dụng biện pháp này tại Tòa án nhân dân. Đồng thời, trên cơ sở tiếp cận quyền con người, đề xuất và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.
Đặt vấn đề
Biện pháp xử lý hành chính (XLHC) là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu1; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc[1]. Trong hệ thống các biện pháp xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là một biện pháp đặc thù, có tính chất hạn chế quyền tự do thân thể của cá nhân, được áp dụng đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi (chưa thành niên) có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng[2].
Trong những năm qua, cùng với việc hoàn thiện pháp luật về XLVPHC, thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được giao cho Tòa án nhân dân (TAND), cụ thể, Điều 105 Luật XLVPHC quy định: “Tòa án nhân dân khu vực[3] có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng”. Tuy nhiên, thực tiễn xem xét và quyết định áp dụng biện pháp này tại Tòa án cho thấy còn tồn tại những vướng mắc pháp lý, xuất phát từ sự chưa rõ ràng, chưa thống nhất của các quy định pháp luật hiện hành cũng như từ cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau giữa các Tòa án. Những vướng mắc này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng biện pháp, mà còn tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, yêu cầu bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân ngày càng được đặt ra ở mức độ cao hơn.
1. Khái quát pháp luật về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Trong hệ thống các biện pháp XLVPHC, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là một biện pháp mang tính đặc thù, được áp dụng đối với người chưa thành niên (NCTN) có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Về phương diện pháp lý, đây là biện pháp XLHC do TAND có thẩm quyền quyết định, nhằm cách ly có thời hạn người vi phạm khỏi môi trường xã hội thông thường nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường[4] để giúp họ sửa chữa hành vi, hình thành ý thức tuân thủ pháp luật. Khác với các biện pháp XLHC thông thường, biện pháp này không hướng tới xử phạt hay trừng trị, mà nhấn mạnh yếu tố giáo dục, cải tạo hành vi trong điều kiện có sự quản lý tập trung của Nhà nước.
Thứ nhất, xét về đặc điểm pháp lý, trước hết, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng không mang tính hình sự, không làm phát sinh án tích hay hậu quả pháp lý của trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, không vì vậy mà có thể xem nhẹ tính chất hạn chế quyền của biện pháp này. Trên thực tế, việc bị đưa vào trường giáo dưỡng đồng nghĩa với việc cá nhân bị hạn chế nghiêm trọng quyền tự do thân thể, quyền tự do cư trú và một số quyền nhân thân khác trong thời gian áp dụng biện pháp. Chính đặc điểm này đặt biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng vào nhóm các biện pháp XLHC có mức độ can thiệp sâu nhất vào quyền con người, đòi hỏi việc áp dụng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc hiến định về hạn chế quyền.
Thứ hai, đối tượng áp dụng[5] của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là người đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi là nhóm chủ thể có vị trí pháp lý đặc biệt trong hệ thống pháp luật. Người tử đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vừa là chủ thể của quyền con người, quyền công dân, vừa là đối tượng cần được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
Thứ ba, về ý nghĩa, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các biện pháp phòng ngừa và xử lý vi phạm pháp luật đối với NCTN. Thông qua việc tổ chức giáo dục, quản lý tập trung, biện pháp này góp phần ngăn chặn nguy cơ tiếp tục vi phạm pháp luật, giúp NCTN nhận thức được hành vi sai trái và hình thành ý thức tôn trọng pháp luật. Đồng thời, nếu được áp dụng đúng đắn, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn có ý nghĩa hỗ trợ tái hòa nhập xã hội, tạo điều kiện để NCTN sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích.
1.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh
Thứ nhất, Hiến pháp[6] đã khẳng định nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đồng thời, quy định việc hạn chế quyền chỉ có thể được thực hiện trong trường hợp thật sự cần thiết, theo quy định của luật. Đối với biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, các quy định hiến định về quyền tự do thân thể, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư và quyền được bảo vệ của trẻ em là những chuẩn mực quan trọng để đánh giá tính hợp hiến của các quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng tại TAND.
Thứ hai, Luật XLVPHC năm 2012, được sửa đổi, bổ sung 2025 (Luật XLVPHC), đã xác định rõ vị trí pháp lý của biện pháp này trong hệ thống các biện pháp XLHC, quy định về đối tượng áp dụng, điều kiện, thời hạn cũng như các nguyên tắc cơ bản khi áp dụng biện pháp. Trên cơ sở đó, các nghị định hướng dẫn thi hành Luật XLVPHC đã cụ thể hóa trình tự, thủ tục lập hồ sơ, chuyển hồ sơ và tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[7].
Thứ ba, Luật Trẻ em năm 2016 tạo nên khuôn khổ pháp lý chuyên ngành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó có trẻ em vi phạm pháp luật. Luật này đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, quyền được bảo vệ trước mọi hình thức xâm hại và quyền được tham gia vào các quyết định có liên quan đến trẻ em. Những nguyên tắc này có ý nghĩa chi phối trực tiếp đối với việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, buộc các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là TAND, phải tiếp cận việc áp dụng biện pháp không chỉ từ góc độ quản lý hành chính mà còn từ góc độ bảo đảm quyền trẻ em.
Thứ tư, cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động của TAND trong việc áp dụng biện pháp XLHC còn được cụ thể hóa thông qua Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2023, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 (Pháp lệnh áp dụng biện pháp XLHC tại TAND).
Từ tổng thể các quy định nêu trên có thể thấy, cơ sở pháp lý điều chỉnh biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng mang tính đa tầng, chịu sự chi phối đồng thời của Hiến pháp, pháp luật hành chính, và pháp luật về quyền trẻ em... Chính đặc điểm này vừa tạo điều kiện cho việc bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng biện pháp, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
1.3. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục áp dụng tại Tòa án
1.3.1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân
Theo Pháp lệnh áp dụng biện pháp XLHC tại TAND, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC, TAND có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC[8] mang tính cách ly, trong đó có biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Thẩm quyền này được xác lập trên cơ sở phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước và chức năng xét, quyết định mang tính tư pháp của Tòa án.
1.3.2. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp
Pháp lệnh áp dụng biện pháp XLHC tại TAND đã quy định tương đối chi tiết trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLHC tại TAND. Theo đó, trình tự này bao gồm các bước cơ bản như: tiếp nhận hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp; thụ lý vụ việc; xem xét tính hợp pháp, đầy đủ của hồ sơ; tổ chức phiên họp xem xét, quyết định; và ban hành quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể nhận thấy rằng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp vẫn còn dấu ấn của thủ tục hành chính đặc thù, chưa đạt tới mức độ bảo đảm quyền tương đương với thủ tục tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính.
2. Một số bất cập trong pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
2.1. Bất cập trong quy định pháp luật
Thứ nhất, sự chưa rõ ràng trong quy định về căn cứ và điều kiện áp dụng biện pháp là một trong những bất cập cơ bản. Luật XLVPHC quy định các điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng theo hướng liệt kê hành vi vi phạm và tình trạng của NCTN, nhưng chưa làm rõ tiêu chí đánh giá mức độ cần thiết của việc áp dụng biện pháp trong từng trường hợp cụ thể[9]. Pháp lệnh áp dụng biện pháp XLHC tại TAND chủ yếu tập trung điều chỉnh trình tự, thủ tục, mà chưa bổ sung các quy định cụ thể về việc tham khảo ý kiến chuyên gia quy định tại khoản 2 Điều 13 của Pháp lệnh, cụ thể: “Trường hợp cần làm rõ tình trạng sức khỏe, tâm lý, điều kiện sống, học tập, làm việc của người bị đề nghị, Thẩm phán có thể tham vấn ý kiến của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị đề nghị làm việc, đại diện nhà trường nơi người bị đề nghị học tập, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người bị đề nghị cư trú và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác”. Trong trường hợp chuyên gia đưa ra ý kiến cho rằng với sức khoẻ, tâm lý, điều kiện sống, học tập thì để “tốt nhất cho người chưa thành niên”, không cần thiết áp dụng biện pháp XLHC, thì Thẩm phán được quyền không áp dụng biện pháp XLHC đưa vào trường giáo dưỡng, không để Thẩm phán có cơ sở kiểm soát thực chất về quyền tự do thân thể phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Khoảng trống này dẫn đến nguy cơ áp dụng biện pháp dựa nhiều vào đánh giá định tính, thiếu chuẩn mực thống nhất, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tính cần thiết và tính tương xứng trong hạn chế quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Thứ hai, sự chưa tương thích giữa Luật XLVPHC và Pháp lệnh áp dụng biện pháp XLHC tại TAND về mức độ bảo đảm quyền tham gia của người bị đề nghị áp dụng biện pháp cũng là vấn đề đáng chú ý. Theo Luật XLVPHC, người bị đề nghị được ghi nhận các quyền quan trọng như trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp[10]. Tuy nhiên, khi chuyển sang giai đoạn xem xét tại Tòa án, khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh[11] lại cho phép Tòa án vẫn tiến hành phiên họp khi người bị đề nghị vắng mặt, đồng thời chưa quy định đầy đủ và rõ ràng về quyền có người bảo vệ quyền lợi hay cơ chế tranh tụng. Mặc dù Pháp lệnh đã có những bước tiến trong việc tăng cường tính tố tụng, song các quyền như quyền được trợ giúp pháp lý, quyền được tiếp cận đầy đủ hồ sơ, tài liệu và quyền được tranh luận bình đẳng tại phiên họp vẫn chưa được quy định một cách đầy đủ, rõ ràng và mang tính bắt buộc. Điều này dẫn đến thực tế là mức độ bảo đảm quyền của người bị đề nghị áp dụng biện pháp, đặc biệt là NCTN, còn phụ thuộc nhiều vào nhận thức và thực hành của từng Thẩm phán, chưa được bảo đảm thống nhất bằng quy phạm pháp luật.
Thứ ba, việc đảm bảo quyền tham gia tố tụng của NCTN còn có những hạn chế. Theo quy định của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC tại TAND, người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng có quyền tham gia phiên họp, trình bày ý kiến, được trợ giúp pháp lý trong các trường hợp luật định. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện các quyền này còn có những hạn chế, chưa thực sự phát huy vai trò bảo vệ quyền lợi của NCTN. Không ít trường hợp, NCTN tham gia phiên họp nhưng chưa được giải thích đầy đủ, dễ hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình; việc trình bày ý kiến diễn ra trong điều kiện tâm lý e ngại, thiếu sự hỗ trợ hiệu quả từ người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, làm giảm ý nghĩa của các bảo đảm tố tụng được thiết kế trong pháp luật.
Thứ tư, mối quan hệ giữa Luật XLVPHC và pháp luật về quyền trẻ em chưa được thể hiện một cách rõ nét trong thiết kế quy phạm. Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 sửa đổi, bổ sung năm 2025 đề cao nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ em và ưu tiên các biện pháp thay thế mang tính giáo dục, hỗ trợ tại cộng đồng. Tuy nhiên, các nguyên tắc này mới chỉ được viện dẫn gián tiếp, chưa được “nội luật hóa” đầy đủ trong các quy định cụ thể về điều kiện, trình tự áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Sự thiếu vắng các quy định mang tính định hướng này khiến cho việc áp dụng biện pháp trong thực tiễn dễ nghiêng về giải pháp cách ly, thay vì tìm kiếm các biện pháp ít hạn chế quyền hơn.
Thứ năm, Điều 10 Pháp lệnh yêu cầu Thẩm phán được phân công xem xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm giải quyết các vụ việc liên quan đến NCTN hoặc có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với NCTN. Tuy nhiên, trên thực tế, các Thẩm phán chưa thực sự được đào tạo một cách chuyên nghiệp về tâm lý học và giáo dục đối với NCTN.
2.2. Bất cập trong thực tiễn áp dụng tại Tòa án
Thứ nhất, cách tiếp cận thiên về “xử lý” hơn là bảo đảm quyền trẻ em.
Trong thực tiễn, việc xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND ở không ít trường hợp vẫn mang nặng tư duy quản lý, xử lý vi phạm, coi đây là một công cụ nhằm phòng ngừa chung, bảo đảm trật tự xã hội, hơn là một biện pháp giáo dục đặc biệt đối với NCTN. Cách tiếp cận này dẫn đến xu hướng ưu tiên đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, tiền sử vi phạm, thay vì đặt trọng tâm vào việc phân tích đầy đủ hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống, môi trường giáo dục và khả năng áp dụng các biện pháp thay thế ít xâm phạm quyền hơn. Theo quy định của Luật XLVPHC, các trường hợp đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu là một trong những trường hợp xem xét áp dụng biện pháp này. Trong khi đó, Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Việt Nam phê chuẩn vào 20/02/1990) nhấn mạnh “Trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù cho các cơ quan phúc lợi xã hội công công hay tư nhân, tòa án, các nhà chức trách hành chính hay các cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ phải là mối quan tâm hàng đầu”. Theo điều này, khi bị áp dụng biện pháp XLHC, sự ưu tiên đặt ra là đảm bảo được các lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong hoàn cảnh đặc thù khi đang chịu sự điều chỉnh pháp luật[12]. Ngoài ra, Luật Trẻ em năm 2016 khẳng định nguyên tắc “bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em”[13], đặt ra yêu cầu các biện pháp xử lý đối với trẻ em vi phạm pháp luật phải ưu tiên giáo dục, hỗ trợ, hạn chế tối đa việc cách ly trẻ em khỏi môi trường gia đình và cộng đồng. Thực tiễn áp dụng tại Tòa án cho thấy quy định của Công ước và nguyên tắc trong Luật Trẻ em chưa thực sự được “nội luật hóa” đầy đủ trong lập luận và quyết định của Thẩm phán, khiến biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đôi khi được áp dụng như một giải pháp “cuối cùng nhưng dễ lựa chọn”, chỉ cần thuộc vào những trường hợp đã được liệt kê trong Luật XLVPHC, thay vì là biện pháp “cuối cùng và bắt buộc phải chứng minh tính cần thiết”. Để đảm bảo cho sự tương thích giữa cam kết quốc tế và luật quốc gia trong quyết định của Thẩm phán, nếu có căn cứ cho thấy thật sự không đạt đến mức cần thiết phải cách ly NCTN khỏi môi trường gia đình thì không nên áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng mà phải có biện pháp thay thế khác đạt được hiệu quả giáo dục tương đương. Vì vậy, vấn đề đặt ra là Pháp lệnh 08/2025 (sửa đổi, bổ sung cho Pháp lệnh 03/2022) có nên bổ sung quy định cho phép không áp dụng biện pháp này khi có đủ chứng cứ chứng minh là không cần thiết hay không.
Thứ hai, chất lượng hồ sơ đề nghị và việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ còn hạn chế. Qua công tác kiểm tra, đánh giá hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng trong thực tiễn, một số bất cập nổi bật là chất lượng hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng do cơ quan có thẩm quyền lập chuyển sang Tòa án chưa đồng đều, thậm chí còn mang tính hình thức. Hồ sơ trong nhiều trường hợp tập trung vào việc liệt kê hành vi vi phạm mà thiếu các tài liệu chứng minh đã áp dụng nhưng không hiệu quả các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc các biện pháp hỗ trợ khác theo quy định của Luật XLVPHC.
2.3. Những vấn đề đặt ra từ góc độ bảo đảm quyền con người
Việc áp dụng biện pháp XLHC đưa vào trường giáo dưỡng, xét về bản chất, là sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là quyền tự do thân thể và các quyền gắn liền với nhân thân của NCTN.
Thứ nhất, nguy cơ xâm phạm quyền tự do thân thể và quyền được bảo vệ đời sống riêng tư là vấn đề mang tính cốt lõi. Hiến pháp năm 2013 khẳng định quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của mọi người, trong đó bao gồm cả NCTN. Trong khi đó, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cho phép cách ly NCTN khỏi môi trường gia đình, xã hội trong một thời gian nhất định, kèm theo sự quản lý chặt chẽ về sinh hoạt, học tập và giao tiếp. Nếu không được áp dụng trên cơ sở các tiêu chí chặt chẽ về tính cần thiết, tính tương xứng và tính không thể thay thế, biện pháp này có thể dẫn đến việc hạn chế quyền vượt quá mức cần thiết, làm suy giảm ý nghĩa bảo đảm quyền con người của cơ chế tư pháp.
Thứ hai, mối quan hệ giữa yêu cầu quản lý nhà nước và nghĩa vụ bảo vệ quyền trẻ em đặt ra những thách thức không nhỏ trong quá trình áp dụng biện pháp. Về một mặt, Nhà nước có trách nhiệm duy trì trật tự, kỷ cương xã hội và phòng ngừa vi phạm pháp luật; về mặt khác, theo Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em được bảo đảm quyền sống trong môi trường gia đình, được giáo dục, chăm sóc và bảo vệ phù hợp với lợi ích tốt nhất của mình[14]. Việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng nếu thiên về mục tiêu quản lý, kiểm soát hành vi mà thiếu sự cân nhắc đầy đủ đến yếu tố phát triển tâm sinh lý và nhu cầu đặc thù của NCTN, sẽ dẫn đến sự lệch chuẩn trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền trẻ em. Do đó, bài toán đặt ra là phải thiết kế và vận hành cơ chế áp dụng biện pháp theo hướng cân bằng hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước và nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Thứ ba, khi so sánh với các chuẩn mực quốc tế về tư pháp NCTN, có thể nhận thấy một số điểm mà pháp luật và thực tiễn Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, cũng như các văn kiện như Quy tắc Bắc Kinh và Quy tắc Havana, đều nhấn mạnh nguyên tắc hạn chế tối đa việc tước tự do đối với NCTN và coi đây là biện pháp cuối cùng, được áp dụng trong thời gian ngắn nhất có thể. Trong mọi hoạt động liên quan tới trẻ em, dù được thực hiện bởi các cơ quan phúc lợi xã hội của nhà nước hay tư nhân, bởi tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan pháp luật, thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu[15]. Đồng thời, các chuẩn mực này đề cao vai trò của các biện pháp thay thế, dựa vào cộng đồng và chú trọng hỗ trợ tái hòa nhập xã hội. So với các chuẩn mực đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng ở Việt Nam vẫn còn thiên về giải pháp cách ly, trong khi các cơ chế thay thế và đánh giá hiệu quả sau áp dụng chưa được quan tâm đúng mức.
Việc nhận diện đầy đủ các vấn đề này là tiền đề cần thiết cho việc đề xuất các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật ở phần tiếp theo của bài viết.
3. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
Một là, cần sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện, căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng theo hướng cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá tính cần thiết và tính không thể thay thế của biện pháp. Pháp luật cần quy định rõ nghĩa vụ chứng minh của cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp về việc đã áp dụng các biện pháp giáo dục khác nhưng không hiệu quả, đồng thời yêu cầu Tòa án phải xem xét, đánh giá đầy đủ các yếu tố về nhân thân, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống của NCTN trước khi ra quyết định.
Hai là, cần hoàn thiện trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp theo hướng tăng cường vai trò bảo vệ quyền của Tòa án. Trình tự, thủ tục tố tụng phải bảo đảm tính tranh tụng, trong đó người bị đề nghị áp dụng biện pháp và người đại diện hợp pháp được tạo điều kiện thực chất để trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Quyết định của Tòa án cần được lập luận đầy đủ, thể hiện rõ việc cân nhắc các yếu tố về quyền con người, quyền trẻ em và tính tương xứng của biện pháp được áp dụng.
Ba là, cần mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với NCTN cho đội ngũ Thẩm phán theo quy định của pháp luật. Việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về tư pháp NCTN và các chuẩn mực quốc tế về quyền trẻ em là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng xét quyết định áp dụng biện pháp.
Bốn là, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa Tòa án, cơ quan quản lý nhà nước và gia đình trong quá trình áp dụng và theo dõi việc chấp hành biện pháp. Sự phối hợp này có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả giáo dục, hỗ trợ tái hòa nhập xã hội của NCTN, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực do việc cách ly khỏi môi trường gia đình gây ra đối với người bị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào trường giáo dưỡng.
Kết luận
Biện pháp đưa NCTN vào trường giáo dưỡng là một công cụ quản lý xã hội mang tính đặc thù, kết hợp giữa chức năng phòng ngừa, giáo dục và hỗ trợ tái hòa nhập, qua đó góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, do có khả năng hạn chế đáng kể quyền tự do thân thể, việc áp dụng biện pháp này cần được đặt trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc hiến định về quyền con người, đặc biệt là tính cần thiết và tính tương xứng. Vì vậy, yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này là tất yếu và cấp thiết, không chỉ ở việc sửa đổi quy phạm mà còn ở đổi mới tư duy lập pháp và áp dụng pháp luật theo hướng lấy lợi ích tốt nhất của NCTN làm trung tâm. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của Tòa án như một thiết chế bảo vệ quyền, bảo đảm sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong thời gian tới, việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiệu quả thực tiễn, so sánh kinh nghiệm quốc tế và phát triển các biện pháp thay thế ít hạn chế quyền hơn sẽ có ý nghĩa quan trọng, góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong xử lý vi phạm của NCTN.
1 Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[1] Xem thêm: Khoản 3 Điều 2 Luật XLVPHC 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Xem thêm: Điều 91 Luật XLVPHC 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[3] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Điều 91 Luật XLVPHC, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[5] Xem thêm: Điều 92 Luật XLVPHC 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[6] Xem thêm: Điều 14 Hiến pháp 2013.
[7] Xem thêm: Nghị định số 140/2021/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.
[8] Xem thêm: Điều 3 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC tại TAND số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2023, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[9] Xem thêm: Điều 92 Luật XLVPHC.
[10] Xem thêm: Điều 99, Điều 100 Luật XLVPHC.
[11] Xem thêm: Điều 20 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp XLHC tại TAND số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2023, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[12] Xem thêm: Điều 3.1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em, https://www.unicef.org/vietnam/vi/media/2191/file/C%C3%B4ng%20%C6%B0%E1%BB%9Bc%20LHQ%20v%E1%BB%81%20Quy%E1%BB%81n%20Tr%E1%BA%BB%20em.pdf.
[13] Xem thêm: Điều 4 Luật trẻ em, Điều 5 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
[14] Xem thêm: Điều 12 Luật Trẻ em.
[15] Điều 3 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em,
TAND thành phố Đà nẵng tổ chức phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng - Ảnh: KT.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ đối với đối tượng tranh chấp là bất động sản
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian
-
Thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam: Pháp luật và thực tiễn
Bình luận