Bàn về việc xác định thẩm quyền của Tòa án theo hướng dẫn Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao - một số kiến nghị

Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành hai văn bản hướng dẫn nghiệp vụ có cách tiếp cận khác nhau về thẩm quyền giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế mà di sản là bất động sản. Từ thực tiễn xét xử tại địa phương, tác giả mong muốn được trao đổi về cơ sở pháp lý của từng quan điểm và đề xuất một vài giải pháp kỹ thuật tố tụng, rất mong nhận được ý kiến chia sẻ của các đồng nghiệp và chuyên gia.

1. Đặt vấn đề

Trong thực tiễn xét xử, việc xác định Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ tưởng chừng là thao tác đầu tiên, đơn giản, nhưng lại là khâu rất dễ phát sinh tranh luận khi vụ án có nhiều yếu tố pháp lý đan xen. Một trong những trường hợp như vậy là tranh chấp về thừa kế mà di sản để lại là bất động sản: Tòa án nơi có bất động sản hay Tòa án nơi bị đơn cư trú sẽ có thẩm quyền?

Câu hỏi này không mới, nhưng trở nên băn khoăn hơn khi trong nửa đầu năm 2026, hai cơ quan tư pháp ở cấp cao nhất đã đưa ra hai hướng dẫn khác nhau:

- Văn bản số 1476/VKSNDTC-V9 ngày 23/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) tại Câu số 01 phần giải đáp cho rằng trong vụ án chia thừa kế mà đối tượng tranh chấp là bất động sản, thì chỉ có Toà án nơi có bất động sản (di sản thừa kế) giải quyết, theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.

- Văn bản số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), tại Câu 42 phần giải đáp, lại xác định đây là tranh chấp về thừa kế, nên thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả xin được phân tích cơ sở của mỗi quan điểm và mạnh dạn đề xuất một hướng xử lý ở cấp sơ thẩm, rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của các đồng nghiệp.

2. Về hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Hướng dẫn tại Văn bản số 1476/VKSNDTC-V9 xuất phát từ cách giải thích sát với câu chữ của điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015: “đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”. Khi di sản là quyền sử dụng đất hay nhà ở, các đương sự khởi kiện ra Tòa cũng chính là để định đoạt phần đất, phần nhà cụ thể. Nhìn ở góc độ này, coi bất động sản là đối tượng tranh chấp cũng có cái lý của nó.

Quan trọng hơn, từ góc độ thực tiễn, hướng dẫn của VKSNDTC giải quyết được nhiều vướng mắc mà người làm án vẫn thường gặp:

Thứ nhất, các hoạt động xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo Điều 101, Điều 104 BLTTDS năm 2015 đều phải tiến hành tại nơi có đất. Nếu Tòa án nơi có bất động sản trực tiếp thụ lý, việc đo đạc, kiểm đếm, phối hợp với cán bộ địa chính cơ sở sẽ thuận lợi và tiết kiệm hơn.

 Thứ hai, hồ sơ địa chính, sổ mục kê, bản đồ giải thửa và các tài liệu về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua các thời kỳ được lưu giữ tại địa phương nơi có đất. Tòa án sở tại tiếp cận chứng cứ sẽ chủ động hơn.

Thứ ba, bản án khi đưa ra thi hành cũng do cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án sơ thẩm thực hiện. Tòa án nơi có đất nắm rõ thực địa sẽ giúp phán quyết có tính khả thi cao hơn, giảm thiểu vướng mắc ở khâu thi hành.

Đây đều là những yếu tố rất chính đáng, xuất phát từ thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động tư pháp.

3. Về hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao

Hướng dẫn tại Câu 42 Văn bản số 250/TANDTC-PC tiếp cận vấn đề từ bản chất của quan hệ pháp luật tranh chấp, chứ không từ hình thức tồn tại của tài sản. Theo cách phân loại trong khoa học pháp lý dân sự, cần phân biệt hai nhóm tranh chấp khác nhau:

Một là, tranh chấp trực tiếp về bất động sản. Đây là những tranh chấp mà các bên đối kháng nhau về quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với chính bất động sản đó, như tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp ranh giới bị lấn chiếm, tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề. Trong các vụ án này, bất động sản vừa là nguồn gốc xung đột, vừa là đối tượng phán quyết. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 là hợp lý.

Hai là, tranh chấp về thừa kế tài sản theo khoản 5 Điều 26 BLTTDS năm 2015. Nhiệm vụ của Tòa án trong loại tranh chấp này không phải là phân định ai có quyền sở hữu bất động sản, mà là làm rõ các quan hệ thân nhân và dịch chuyển tài sản phát sinh do có người chết: ai là người thừa kế, hàng thừa kế, di chúc có hợp pháp không, thời hiệu còn hay đã hết, phần di sản của mỗi người là bao nhiêu. Bất động sản chỉ là một dạng tồn tại của di sản, đứng cùng với tiền, vàng, tài khoản ngân hàng, cổ phần... Việc chia di sản bằng hiện vật hay bằng giá trị sẽ được quyết định ở khâu phân chia, sau khi các quan hệ thừa kế đã được làm rõ. Từ đó, TANDTC xác định đây là vụ án về thừa kế chứ không phải vụ án về bất động sản, và áp dụng nguyên tắc chung tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự: ưu tiên Tòa án nơi bị đơn cư trú nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa các bên. Trong nhiều vụ án thừa kế hiện nay, người để lại di sản có một thửa đất ở quê, còn các đồng thừa kế (nguyên đơn và bị đơn) đều đang sinh sống, làm việc tại thành phố. Buộc tất cả phải trở về địa phương nơi có đất để theo đuổi một vụ kiện thường kéo dài sẽ gây tốn kém không nhỏ cho đương sự.

4. Đề xuất hướng xử lý ở cấp sơ thẩm.

Trước hai hướng dẫn khác nhau, Thẩm phán cấp sơ thẩm rõ ràng phải có lựa chọn. Theo quan điểm của tác giả, có thể tham khảo cách xử lý sau:

4.1. Về thẩm quyền chung: Trong phạm vi tổ chức của ngành Tòa án, các văn bản giải đáp nghiệp vụ của TANDTC là căn cứ trực tiếp để Thẩm phán vận dụng trong hoạt động tố tụng. Do đó, khi tiếp nhận đơn khởi kiện tranh chấp thừa kế mà di sản là bất động sản, hướng xử lý chuẩn mực hơn cả là xác định thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 – Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc – theo Văn bản số 250/TANDTC-PC.

4.2. Ba giải pháp kỹ thuật để hài hòa với thực tiễn

 Việc tuân thủ hướng dẫn của TANDTC không có nghĩa là bỏ qua những lo ngại thực tiễn rất xác đáng của ngành Kiểm sát. Tác giả mạnh dạn đề xuất ba giải pháp kỹ thuật:

Thứ nhất, giải thích cho đương sự về quyền thỏa thuận chọn Tòa án.

Theo điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015, đương sự có quyền tự thỏa thuận bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết. Tại giai đoạn nhận đơn hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thẩm phán có thể giải thích để các bên cân nhắc lựa chọn Tòa án nào thuận lợi nhất cho mình. Khi đã có thỏa thuận hợp pháp, thẩm quyền được xác lập vững chắc và cả hai ngành đều ghi nhận.

Thứ hai, vận dụng đầy đủ chế định ủy thác tư pháp.

Trường hợp không có thỏa thuận và vụ án phải được giải quyết tại Tòa án nơi bị đơn cư trú trong khi bất động sản nằm ở địa phương khác, Thẩm phán cần chủ động ban hành Quyết định ủy thác cho Tòa án nơi có bất động sản tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá, xác minh hồ sơ địa chính theo Điều 105 BLTTDS năm 2015. Đây cũng là cách hóa giải phần lớn lo ngại của Viện kiểm sát về việc Tòa án ở xa khó nắm được thực trạng đất đai.

Thứ ba, xây dựng phần nhận định của bản án một cách rõ ràng, có viện dẫn đầy đủ.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có thể đưa ra ý kiến theo hướng dẫn của ngành mình. Khi đó, Thẩm phán cần thể hiện trong phần nhận định: (i) phân tích bản chất quan hệ pháp luật tranh chấp là thừa kế (khoản 5 Điều 26 BLTTDS năm 2015), chứ không phải tranh chấp về bất động sản; (ii) viện dẫn Câu 42 Văn bản số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 làm căn cứ ngành. Cách giải trình này giúp Kiểm sát viên có cơ sở báo cáo cấp trên, hạn chế kháng nghị không cần thiết và giữ được sự phối hợp tốt giữa hai cơ quan tại địa phương.

5. Kết luận và kiến nghị.

Sự khác nhau giữa Văn bản số 1476/VKSNDTC-V9 và Văn bản số 250/TANDTC-PC, theo cảm nhận của tác giả, không phải là một mâu thuẫn lớn về nguyên tắc, mà phản ánh hai góc nhìn cùng có cơ sở: một bên thiên về thực tiễn thu thập chứng cứ và thi hành án, một bên thiên về bản chất quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán cấp sơ thẩm hoàn toàn có thể dung hòa hai góc nhìn này bằng cách tuân thủ hướng dẫn của TANDTC về thẩm quyền, đồng thời vận dụng linh hoạt các công cụ tố tụng sẵn có như thỏa thuận chọn Tòa án và ủy thác tư pháp.

Tuy nhiên, để tạo sự thống nhất chung và giảm bớt băn khoăn cho cán bộ tố tụng cơ sở, tác giả xin đề xuất hai kiến nghị:

Một là, đề nghị TANDTC và VKSNDTC sớm phối hợp ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng Điều 39 BLTTDS năm 2015 đối với một số loại tranh chấp đặc thù, trong đó có tranh chấp thừa kế mà di sản là bất động sản.

Hai là, trong lần sửa đổi BLTTDS năm 2015 sắp tới, cơ quan lập pháp có thể cân nhắc bổ sung quy định về thẩm quyền tùy chọn đối với loại vụ án này, cho phép nguyên đơn lựa chọn giữa Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc Tòa án nơi có bất động sản. Đây có lẽ cũng là hướng phù hợp với xu thế đề cao quyền tự định đoạt của đương sự.

Trên đây là một vài nhận định, đánh giá, kiến nghị từ thực tiễn xét xử ở cấp cơ sở. Tác giả rất mong nhận được sự trao đổi, chia sẻ của các đồng nghiệp và chuyên gia để ngày càng nâng cao chất lượng xét xử tốt hơn.

LÊ THIẾT HÙNG (Chánh án TAND Khu vực 5 - Quảng Trị)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2022).

2. Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử.

4. Công văn số 1476/VKSNDTC-V9 ngày 23/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự.

5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB. Tư pháp, 2021.

6. Tòa án nhân dân tối cao, Sổ tay Thẩm phán, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, 2020.

TAND huyện Bảo Lâm (cũ), tỉnh Lâm Đồng tổ chức phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Mua bán trái phép chất ma túy - Ảnh: Viện KSND huyện Bảo Lâm.