Người nam có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay không?
Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, phát sinh trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, sau đó người nam yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng khi người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Vấn đề đặt ra là: Người nam có bị hạn chế quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong trường hợp này tương tự như hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 hay không? Đây là vấn đề còn có nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
1. Quy định pháp luật và vướng mắc
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”[1]. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (gọi chung là Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP) quy định: “Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi”[2]. Đây là quy định mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện chính sách đặc biệt của Nhà nước trong việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em - những chủ thể cần được ưu tiên bảo vệ trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong giai đoạn mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, người phụ nữ thường chịu nhiều ảnh hưởng về sức khỏe, tâm lý, kinh tế cũng như áp lực trong việc chăm sóc con. Nếu cho phép người chồng yêu cầu ly hôn trong thời điểm này sẽ dễ làm cho người phụ nữ rơi vào trạng thái bất ổn tinh thần, ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và sự phát triển toàn diện của trẻ em. Vì vậy, việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng không chỉ nhằm bảo vệ người vợ mà còn hướng đến mục tiêu bảo vệ trẻ em và giữ ổn định môi trường gia đình trong giai đoạn đặc biệt nhạy cảm[3].
Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Khi phát sinh yêu cầu “ly hôn”, Tòa án không giải quyết theo thủ tục chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp mà chỉ “…tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định …nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định…”[4]. Đồng thời, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”.
Từ các quy định trên cho thấy, mặc dù pháp luật không thừa nhận quan hệ vợ chồng do không có đăng ký kết hôn, nhưng vẫn thừa nhận và bảo vệ các quan hệ pháp lý phát sinh giữa cha, mẹ và con. Chính điều này làm phát sinh vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Một mặt, nếu căn cứ vào Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ giữa nam và nữ không phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên việc yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng không phải là yêu cầu ly hôn; vì vậy, về hình thức, không thuộc trường hợp áp dụng khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng. Mặt khác, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lại cho thấy pháp luật vẫn ghi nhận sự tồn tại của quan hệ gia đình trên thực tế thông qua việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con. Do đó, khi người nam yêu cầu chấm dứt quan hệ chung sống trong thời điểm người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì những tác động đến người phụ nữ và trẻ em về tâm lý, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con hầu như không khác với trường hợp ly hôn trong hôn nhân hợp pháp.
Vì vậy, vướng mắc cốt lõi đặt ra là, pháp luật hiện hành không ghi nhận quan hệ vợ chồng đối với nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nhưng đồng thời cũng không có quy định cấm việc hai bên cùng thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung. Trong trường hợp này, có nên chỉ áp dụng quy định của Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 theo hình thức pháp lý để cho phép người nam yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, hay cần vận dụng mục đích lập pháp của khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm bảo đảm chính sách bảo vệ phụ nữ và trẻ em? Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau trong thực tiễn xét xử.
2. Tình huống pháp lý và các quan điểm giải quyết
Tình huống: Anh A và chị B chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2025, không đăng ký kết hôn, có con chung là cháu C (09 tháng tuổi). Giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn và anh A nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Từ đó đặt ra vấn đề: Anh A có bị hạn chế quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng khi chị B đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay không?
Đối với tình huống nêu trên, có các quan điểm khác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc “không công nhận quan hệ vợ chồng” không phải là “ly hôn”, bởi quan hệ hôn nhân hợp pháp chưa từng được xác lập do thiếu điều kiện đăng ký kết hôn. Vì vậy, hạn chế tại khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ áp dụng đối với quan hệ hôn nhân hợp pháp, không áp dụng đối với trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Do đó, trong tình huống nêu trên anh A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp chị B đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Quan điểm thứ hai cho rằng, cần hiểu và áp dụng pháp luật theo hướng không chấp nhận anh A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp chị B đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Bởi lẽ, mặc dù về mặt pháp lý chưa phát sinh quan hệ vợ chồng, nhưng trên thực tế giữa các bên tồn tại quan hệ chung sống như vợ chồng, có con chung và cùng thực hiện chức năng gia đình. Hậu quả xã hội và tác động tâm lý đối với người phụ nữ và trẻ em khi bị người nam yêu cầu chấm dứt quan hệ trong giai đoạn đang nuôi con nhỏ là tương tự trường hợp ly hôn.
Quan điểm của tác giả, thống nhất với quan điểm thứ hai. Bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, nếu chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ hình thức pháp lý thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế. Dù không đăng ký kết hôn, nhưng việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng thường đã hình thành một quan hệ gia đình thực tế, có sự gắn bó về tình cảm, kinh tế, có con chung và cùng thực hiện chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Trong trường hợp người phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, việc người nam yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng thực chất cũng dẫn đến hậu quả chấm dứt quan hệ chung sống, làm thay đổi môi trường sống và ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý, điều kiện chăm sóc của người mẹ và trẻ em. Về mặt thực tiễn, hậu quả xã hội của việc này không khác biệt đáng kể so với trường hợp người chồng yêu cầu ly hôn trong quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Thứ hai, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”. Quy định này cho thấy nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ “yêu cầu ly hôn” đối với trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Điều này phản ánh bản chất của yêu cầu không đơn thuần chỉ là xác định tình trạng pháp lý của quan hệ nam nữ mà còn là việc chấm dứt một quan hệ gia đình thực tế đang tồn tại. Do đó, mặc dù pháp luật không quy định trực tiếp việc hạn chế quyền yêu cầu của người nam trong trường hợp này, nhưng xét về mục đích lập pháp và tinh thần bảo vệ phụ nữ, trẻ em thì cần có cách hiểu và áp dụng pháp luật theo hướng tương tự khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Thứ ba, nếu cho phép anh A yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong khi người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì sẽ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong chính sách bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Trên thực tế, người phụ nữ không đăng ký kết hôn có thể còn ở vị trí dễ bị tổn thương hơn do không được pháp luật công nhận đầy đủ quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Vì vậy, nếu họ không được hưởng cơ chế bảo vệ tối thiểu tương tự như trường hợp hôn nhân hợp pháp thì sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong áp dụng pháp luật và chưa bảo đảm được tính nhân đạo của Luật Hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, mặc dù pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể hạn chế anh A yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nhưng xét về mục đích của nhà làm luật, nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em cũng như bản chất thực tế của quan hệ chung sống như vợ chồng, cần áp dụng pháp luật theo hướng không chấp nhận yêu cầu này của anh A. Việc áp dụng theo hướng này vừa phù hợp với mục đích nhân văn của Luật Hôn nhân và gia đình, vừa bảo đảm nguyên tắc bảo vệ phụ nữ, trẻ em và bảo đảm công bằng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
3. Kiến nghi, đề xuất
Thứ nhất, hoàn thiện quy định của Luật Hôn nhân và gia đình theo hướng bổ sung cơ chế hạn chế quyền yêu cầu của người nam trong trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi người nữ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Theo đó, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình theo hướng quy định rõ: người nam không có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người nữ có yêu cầu hoặc cả hai bên cùng yêu cầu. Cụ thể, bổ sung vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 3 Điều 51 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”. Việc bổ sung quy định này sẽ bảo đảm sự thống nhất trong chính sách pháp luật về bảo vệ phụ nữ và trẻ em, khắc phục khoảng trống pháp lý hiện nay, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để các Tòa án áp dụng thống nhất, hạn chế tình trạng cùng một vụ việc nhưng có cách giải quyết khác nhau.
Thứ hai, nghiên cứu lựa chọn vụ việc điển hình để phát triển thành án lệ nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trong thời gian chưa sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình.
Trong bối cảnh Luật Hôn nhân và gia đình chưa được sửa đổi, việc lựa chọn một bản án có lập luận chặt chẽ về vấn đề này để phát triển thành án lệ là giải pháp phù hợp và có tính khả thi. Án lệ có thể xác định nguyên tắc: trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, có con chung và người nữ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người nam không có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở vận dụng mục đích lập pháp của khoản 3 Điều 51, kết hợp với các quy định tại Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhằm bảo đảm nguyên tắc bảo vệ phụ nữ, trẻ em và bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
3. Lại Sơn Tùng (2024), Bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí dân chủ & pháp luật, https://danchuphapluat.vn/bao-ve-va-thuc-day-quyen-tre-em-thuc-trang-va-giai-phap-3299.html.
[1] Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP.
[3] “Sự hình thành và phát triển của quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng phản ánh các mong ước cũng như nguyện vọng của con người trong từng thời kỳ. Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là nguồn lực quý giá cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi trẻ em được hưởng đầy đủ các quyền, trẻ em sẽ có cơ hội phát triển toàn diện, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Do vậy, việc bảo vệ và phát triển trẻ em thể hiện đòi hỏi cấp thiết trong xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững” (Lại Sơn Tùng (2024), Bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí dân chủ & pháp luật, https://danchuphapluat.vn/bao-ve-va-thuc-day-quyen-tre-em-thuc-trang-va-giai-phap-3299.html, truy cập ngày 26/5/2026).
[4] Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Quảng Ngãi xét xử vụ án hôn nhân gia đình - Nguồn: VKSND tỉnh Quảng Ngãi.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Lần đầu tiên có thẩm phán tại Tòa án Luật Biển Quốc tế (ITLOS) là người Việt Nam
-
Người nam có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay không?
-
Bộ Tư pháp hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
-
Xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự
-
Quy định về môi giới bất động sản- Thực trạng và một số kiến nghị
Bình luận