Các đối tượng tham gia rượt đuổi bị hại nhưng bị mất dấu là đồng phạm với các bị can về tội cố ý gây thương tích

Qua nghiên cứu bài viết: “Các đối tượng tham gia rượt đuổi bị hại nhưng bị mất dấu có đồng phạm với các bị can về tội cố ý gây thương tích không?” của tác giả Kiều Thị Mai, đăng ngày 28/5/2026. Qua hai quan điểm tác giả nêu trong bài viết, tôi xin đưa ra quan điểm cá nhân và trao đổi thêm về việc định tội danh đối với hành vi trên.

Tác giả bài viết cho rằng, chưa đủ căn cứ xác định nhóm đối tượng đi trên 03 xe phía sau là đồng phạm với nhóm 02 xe trực tiếp truy đuổi bị hại về tội “Cố ý gây thương tích”. Tôi đồng tình với quan điểm cần cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong vụ án đồng phạm. Tuy nhiên, đối với vụ án cụ thể này, theo tôi vẫn có đủ căn cứ để xác định các đối tượng đi trên 03 xe phía sau là đồng phạm với nhóm trực tiếp truy đuổi về tội “Cố ý gây thương tích”. Bởi các lý do sau:

Một là, về ý thức chủ quan của các đối tượng tham gia truy đuổi. Theo nội dung vụ án thì cả nhóm gồm 09 đối tượng đã chuẩn bị hung khí nguy hiểm từ trước; thống nhất mục đích đi tìm nhóm thanh niên xã XL để đánh nhau; có sự phân công người điều khiển xe, người ngồi sau cầm kiếm và khi phát hiện bị hại thì đồng loạt quay đầu truy đuổi. Đặc biệt, trong quá trình truy đuổi, Quang Đ và Xuân K đã dùng kiếm chém về phía bị hại dù không trúng. Điều này cho thấy ý thức chủ quan của cả nhóm không đơn thuần là dằn mặt hay thị uy mà hướng tới việc sử dụng vũ lực gây thương tích cho người bị truy đuổi. Khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”, trong vụ án này các đối tượng đều nhận thức rõ việc truy đuổi bằng xe mô tô với tốc độ cao, sử dụng hung khí nguy hiểm có thể gây thương tích cho bị hại; mặc dù bị tụt lại phía sau nhưng vẫn tiếp tục điều khiển xe theo tuyến đường độc đạo nhằm tiếp tục truy tìm bị hại. Như vậy, không có căn cứ xác định các đối tượng này đã từ bỏ ý chí phạm tội hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Hai là, việc “mất dấu” không làm chấm dứt quan hệ đồng phạm. Tác giả bài viết cho rằng khi xảy ra tai nạn thì nhóm 03 xe phía sau không còn nhìn thấy bị hại, không hỗ trợ tinh thần hoặc vật chất cho nhóm phía trước nên không phải chịu trách nhiệm đồng phạm. Theo tôi, nhận định này chưa thật sự phù hợp với bản chất của chế định đồng phạm. Trong vụ án đồng phạm, sự hỗ trợ giữa các đối tượng không nhất thiết phải tồn tại liên tục, trực tiếp ở mọi thời điểm thực hiện hành vi phạm tội. Điều quan trọng là có sự thống nhất ý chí phạm tội từ trước và mỗi người đều tham gia vào quá trình thực hiện tội phạm theo vai trò nhất định. Ở vụ án này, nhóm 03 xe phía sau không tự ý dừng lại, không quay về, không phản đối hành vi truy đuổi, trái lại vẫn tiếp tục chạy theo hướng nhóm phía trước. Do đó, việc bị xe ô tô cản đường dẫn đến tụt lại phía sau chỉ là nguyên nhân khách quan, không làm chấm dứt quan hệ đồng phạm đã được hình thành trước đó.

Nếu chỉ vì “mất dấu” trong thời gian ngắn mà loại trừ trách nhiệm đồng phạm thì sẽ khó phản ánh đúng bản chất liên kết phạm tội của các đối tượng trong các vụ án truy đuổi mang tính băng nhóm hiện nay.

Ba là, hậu quả thương tích là kết quả của toàn bộ hành vi truy đuổi. Theo diễn biến vụ án, bị hại phải điều khiển xe bỏ chạy trong trạng thái bị nhiều xe mô tô mang hung khí truy đuổi phía sau; việc hoảng loạn, tăng tốc bỏ chạy là phản ứng tâm lý liên tục trước toàn bộ đoàn truy đuổi chứ không chỉ riêng 02 xe áp sát cuối cùng. Thực tế cho thấy, trong các vụ truy đuổi tập thể thì áp lực tâm lý đối với bị hại xuất phát từ số đông đối tượng tham gia và việc đoàn xe đông người mang theo hung khí truy đuổi liên tục mới là nguyên nhân làm bị hại mất khả năng xử lý tình huống bình thường. Do đó, không thể tách rời hành vi của nhóm 03 xe phía sau ra khỏi toàn bộ chuỗi hành vi phạm tội đang diễn ra.

Bốn là, không nên đồng nhất “quan hệ nhân quả trực tiếp” với “đồng phạm”. Tác giả bài viết cho rằng: Nhóm phía sau không trực tiếp áp sát; không trực tiếp tạo tình huống khiến bị hại ngã xe. Tuy nhiên, trong đồng phạm, không phải mọi người tham gia đều phải trực tiếp gây ra hậu quả. Nhiều trường hợp: Người cảnh giới, người chuẩn bị công cụ, người hỗ trợ tinh thần vẫn phải chịu trách nhiệm đồng phạm dù không trực tiếp tác động đến bị hại. Điều cốt lõi là hành vi của họ có góp phần thực hiện tội phạm hay không. Trong vụ án này, việc cùng tham gia truy đuổi của cả nhóm đã tạo nên sức ép liên tục đối với bị hại và hành vi của nhóm phía sau góp phần duy trì trạng thái truy sát tập thể. Do đó, vẫn có cơ sở xác định các đối tượng này là đồng phạm.

Đối với hành vi truy đuổi trong vụ án này có điểm khác so với Án lệ số 59/2023/AL là ở hậu quả của hành vi. Đối với Án lệ số 59/2023/AL hậu quả là bị hại tử vong, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người”; còn trong vụ án này, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát truy tố các đối tượng về tội “Cố ý gây thương tích” là có cơ sở, bởi lẽ: Các đối tượng mang hung khí nguy hiểm, mục đích ban đầu là đi đánh nhau, đã thực hiện hành vi dùng kiếm chém về phía bị hại, hậu quả thương tích xảy ra trong quá trình bị hại bỏ chạy để tránh sự tấn công. Mặc dù không có va chạm trực tiếp nhưng hậu quả thương tích vẫn có mối liên hệ với hành vi truy đuổi mang tính bạo lực của các đối tượng. Các đối tượng thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại với lỗi cố ý gián tiếp, do đó hậu quả đến đâu thì xử lý đến đó. Đồng thời, tại thời điểm truy đuổi, các đối tượng đã nhắm đến việc gây thương tích cho một đối tượng cụ thể nên không thể xử lý các đối tượng trên về tội "Gây rối trật tự công cộng".

Vì vậy, có đủ căn cứ xác định các đối tượng này là đồng phạm với nhóm trực tiếp truy đuổi về tội “Cố ý gây thương tích”.

VÕ MINH TUẤN (Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5)

Tòa án quân sự Quân khu 7 xét xử vụ án về tội “Cố ý gây thương tích” - Ảnh: Thiên Nhi.