Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế và Luật Phục hồi, phá sản
(TCTA) - Ngày 11/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế số 150/2025/QH15, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026. Luật do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì soạn thảo.
Sáng 07/01/2026, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 12 luật đã được Kỳ họp thứ 10, Quốc hội XV thông qua. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài, chủ trì Họp báo.
Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế
Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế là cấu thành, điều kiện quan trọng để Trung tâm tài chính quốc tế hoạt động hiệu quả, đảm bảo niềm tin của nhà đầu tư. Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế thuộc hệ thống Tòa án nhân dân, được tổ chức theo mô hình hiện đại, chuyên nghiệp, tiên tiến, có cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù, vượt trội, tương thích với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, có thẩm quyền giải quyết vụ việc về đầu tư, kinh doanh tại Trung tâm tài chính quốc tế. Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế gồm 44 điều, 05 chương.
Luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn; tổ chức bộ máy; thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng; thi hành bản án, quyết định; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, người đại diện của các bên; bảo đảm hoạt động của Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế (sau đây gọi là Tòa án chuyên biệt).
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án chuyên biệt gồm 09 nguyên tắc, trong đó có những nguyên tắc quan trọng, đặc thù như: Độc lập theo thẩm quyền xét xử; Giải quyết vụ việc công bằng, minh bạch, vô tư, khách quan, nhanh chóng, hiệu quả; Thủ tục tố tụng linh hoạt, đặc thù theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế;…
Quy định áp dụng pháp luật Việt Nam, pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế theo thỏa thuận của các bên trong trường hợp giao dịch có ít nhất một bên tham gia là cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Tiến phát biểu tại Họp báo. Ảnh: Khải Hoàn/TCTA
Thành lập Tòa án chuyên biệt đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ cấu tổ chức của Tòa án chuyên biệt gồm: Tòa Sơ thẩm; Tòa Phúc thẩm; Bộ máy giúp việc. Tòa án chuyên biệt có Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.
Thẩm phán Tòa án chuyên biệt được Chủ tịch nước bổ nhiệm từ những nguồn sau: (1) Người nước ngoài; (2) Công dân Việt Nam. Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, nhiệm kỳ, chế độ làm việc, việc quản lý, giám sát, trách nhiệm của Thẩm phán, việc miễn nhiệm, cách chức, biệt phái, bảo vệ Thẩm phán.
Tòa án chuyên biệt có thẩm quyền giải quyết vụ việc phát sinh giữa các thành viên Trung tâm tài chính quốc tế với nhau hoặc giữa thành viên Trung tâm tài chính quốc tế với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không phải là thành viên Trung tâm tài chính quốc tế quy định tại Điều 13 của Luật này.
Quy định tiếng nói, chữ viết dùng trước Tòa án chuyên biệt là tiếng Anh hoặc tiếng Anh kèm theo bản dịch tiếng Việt. Bản án, quyết định của Tòa án được ban hành bằng tiếng Anh hoặc tiếng Anh kèm theo bản dịch tiếng Việt.
Việc xét xử sơ thẩm bằng 01 Thẩm phán. Trường hợp vụ việc phức tạp, theo đề nghị của các bên, Chánh án Tòa án chuyên biệt quyết định việc xét xử sơ thẩm bằng Hội đồng gồm 03 Thẩm phán. Việc xét xử phúc thẩm bằng Hội đồng gồm 03 Thẩm phán.
Pháp luật tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ việc tại Tòa án chuyên biệt được thực hiện theo quy định của Luật này và Quy tắc tố tụng bảo đảm linh hoạt, rút gọn.
Quy định Tòa án chuyên biệt có thẩm quyền ra quyết định thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Sơ thẩm, Tòa Phúc thẩm. Thẩm phán thi hành án có thể ra quyết định để đảm bảo việc tổ chức thi hành án, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành bản án, quyết định, Tòa án đề nghị lực lượng công an phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn theo quy định của pháp luật.
Luật Phục hồi, phá sản
Ngày 11/12/2025, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Phục hồi, phá sản), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026.
Luật Phục hồi, phá sản gồm 88 điều, 08 chương với 15 nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản. Đổi tên “Luật Phá sản” thành “Luật Phục hồi, phá sản”.
Luật quy định Nhà nước có chính sách hỗ trợ về thuế, phí, tín dụng, lãi suất, đất đai, công nghệ, chuyển đổi số và các biện pháp hỗ trợ khác cho doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn trong kinh doanh.
Ngân sách nhà nước bảo đảm tạm ứng chi phí đối với các trường hợp người nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản là người lao động, công đoàn, cơ quan quản lý thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản (hoặc còn tài sản nhưng không thanh lý, thu hồi được hoặc còn tài sản nhưng không đủ để nộp tạm ứng chi phí phá sản, thanh toán chi phí phá sản).
Luật khuyến khích thương lượng, hòa giải trong quá trình giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản. Giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản trên môi trường điện tử.
Thủ tục phục hồi là thủ tục độc lập với thủ tục phá sản, ưu tiên áp dụng phục hồi để tạo cơ hội và nâng cao hiệu quả phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, kịp thời hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Quy định chủ thể nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản là cơ quan quản lý thuế và cơ quan bảo hiểm.
Quy định mới về thủ tục phục hồi, phá sản rút gọn đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có ít chủ nợ, số nợ nhỏ hoặc quy mô doanh nghiệp, hợp tác xã nhỏ, siêu nhỏ và một số trường hợp khác, mở rộng phạm vi các trường hợp áp dụng thủ tục phá sản rút gọn để rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc.
Luật quy định cải cách cơ chế xử lý tài sản, trong đó cho phép chuyển nhượng đồng bộ tài sản, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ mảng kinh doanh, hoạt động kinh doanh; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp, hợp tác xã; quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên chịu trách tổ chức việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các biện pháp cưỡng chế để thu hồi, giao tài sản theo quy định.
Bổ sung, hoàn thiện quy định về giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản có yếu tố nước ngoài, bao gồm: yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hỗ trợ vụ việc phục hồi, phá sản; hỗ trợ vụ việc phục hồi, phá sản nước ngoài; công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về phục hồi, phá sản của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Giao Tòa án đang giải quyết vụ việc phá sản giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản theo thủ tục nhanh gọn.
Lược bỏ, cắt giảm một số thủ tục để rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục giải quyết: giản lược thủ tục xem xét lại các quyết định của Tòa án; sửa đổi thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát thành kiến nghị đối với quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
Tăng cường phối hợp, phân cấp, phân quyền: Không quy định trong Luật những nội dung dễ biến động và thay đổi trong thực tiễn mà giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; Tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản; Quy định thẩm quyền của Chánh án Tòa án giải quyết phá sản là quyết định cuối cùng đối với việc giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị việc trả lại đơn; mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
Luật quy định điều khoản chuyển tiếp: vụ việc phá sản đã được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa giải quyết thì được áp dụng quy định của Luật này để bảo đảm mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn theo yêu cầu tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; đồng thời bảo đảm các chính sách ưu việt, đổi mới của Luật này được áp dụng ngay, trừ trường hợp quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều 88 của Luật này.
Luật cũng quy định các vấn đề như: trường hợp không áp dụng biện pháp cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản; giải quyết khiếu nại, tố cáo; sửa đổi, bổ sung một số luật có liên quan, hiệu lực thi hành.
Bài liên quan
-
Chủ tịch nước trao quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao
-
Đồng chí Nguyễn Hải Trâm giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao
-
09 nhiệm vụ trọng tâm chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử trong hệ thống Tòa án nhân dân
-
Giới thiệu về Quy tắc ứng xử của người có chức vụ quyền hạn trong Tòa án Nhân dân
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Đồng chí Nguyễn Hải Trâm giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao
-
Đắk Lắk: Thông báo các điểm lắp đặt camera xử phạt vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Chủ tịch nước trao quyết định bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao
-
Tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” được xác định rõ tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Bình luận