Hoàn thiện cơ chế phối hợp trong thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện
Ngày 22/6/2026, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 08/2026/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC quy định phối hợp thực hiện một số quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026 và thay thế Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018.
Việc ban hành Thông tư liên tịch số 08/2026 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hệ thống pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và tư pháp người chưa thành niên đã có nhiều sửa đổi, bổ sung. Thông tư được ban hành trên cơ sở các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm việc áp dụng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện thống nhất, chặt chẽ, đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đồng thời phát huy chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người chấp hành án phạt tù có quá trình cải tạo tiến bộ.
1. Thiết lập cơ chế phối hợp xuyên suốt giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan từ cơ sở giam giữ, cơ quan thi hành án hình sự, Tòa án đến Viện kiểm sát
Tại Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc phối hợp (được quy định tại Điều 1 của Thông tư) đã xác định phạm vi điều chỉnh là việc phối hợp thực hiện một số quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện, bao gồm hồ sơ, trình tự, thủ tục xét, đề nghị, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân; thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; và thi hành quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Việc xác định phạm vi như trên cho thấy Thông tư không chỉ điều chỉnh một công đoạn riêng lẻ trong quá trình xem xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, mà thiết lập cơ chế phối hợp xuyên suốt giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từ cơ sở giam giữ, cơ quan thi hành án hình sự, Tòa án đến Viện kiểm sát, mỗi chủ thể đều có vị trí, trách nhiệm nhất định trong chuỗi thủ tục này.
Điều 2 quy định các nguyên tắc phối hợp thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện. Theo đó, việc phối hợp phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, khách quan, công bằng; khuyến khích phạm nhân, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thi đua cải tạo tiến bộ, chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Đồng thời, các cơ quan phải phối hợp chủ động, thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời, tạo điều kiện hỗ trợ thực hiện tốt nhiệm vụ.
Đáng chú ý, khoản 4 Điều 2 quy định việc phối hợp thực hiện các quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện được ưu tiên thực hiện trên môi trường điện tử, theo quy định của pháp luật về dữ liệu số, giao dịch điện tử, chuyển đổi số và bảo vệ bí mật nhà nước. Quy định này phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính tư pháp và chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan tư pháp hiện nay.
2. Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện phải có văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, án phí
Điều 3 quy định nội dung trọng tâm của Thông tư, quy định cụ thể hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Hồ sơ này được xây dựng trên cơ sở khoản 1, khoản 2 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 56 Luật Thi hành án hình sự.
Theo khoản 1 Điều 3, hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm nhiều nhóm tài liệu quan trọng. Trước hết là đơn xin tha tù trước thời hạn có điều kiện của phạm nhân, kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật và cam kết chấp hành các nghĩa vụ phải thực hiện khi được tha tù trước thời hạn. Đây là tài liệu thể hiện ý chí tự nguyện, nhận thức và trách nhiệm của phạm nhân đối với việc chấp hành pháp luật sau khi được trở về cộng đồng.
Hồ sơ còn phải có bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyết định thi hành án; tài liệu thể hiện phạm nhân có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt, như quyết định hoặc bản sao quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù. Đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, hồ sơ phải có bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Một nội dung đáng chú ý là Thông tư yêu cầu hồ sơ phải có văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, án phí. Các tài liệu này có thể là biên lai, hóa đơn, chứng từ, quyết định miễn hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án, quyết định đình chỉ thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, văn bản thỏa thuận của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại về việc không phải thi hành khoản nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án, hoặc các tài liệu khác thể hiện việc này.
Quy định này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Tha tù trước thời hạn có điều kiện không chỉ căn cứ vào quá trình cải tạo trong cơ sở giam giữ, mà còn phải xem xét việc người bị kết án đã thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ bản án hay chưa. Điều đó góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của bản án, quyết định của Tòa án; đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự và Nhà nước.
Tại Điều 3 cũng quy định tài liệu xác định thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù. Mốc thời gian để xác định thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù được tính đến ngày họp Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam. Đây là căn cứ quan trọng để bảo đảm việc xem xét điều kiện về thời gian chấp hành án được thực hiện chính xác, thống nhất.
Ngoài ra, đối với các trường hợp đặc thù như người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, phạm nhân là người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù, Thông tư yêu cầu phải có tài liệu chứng minh tương ứng. Cách quy định này vừa bảo đảm tính nhân đạo, vừa bảo đảm yêu cầu chặt chẽ về căn cứ hồ sơ.
Khoản 2 Điều 3 còn quy định trường hợp người đã được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc người được áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh khi trở lại tiếp tục chấp hành án, nếu có đủ điều kiện thì được xem xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Khoản 3 Điều 3 quy định trường hợp phạm nhân được trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì cơ sở giam giữ nơi quản lý hồ sơ phạm nhân căn cứ nhận xét, đánh giá, kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù để xem xét, lập hồ sơ đề nghị nếu đủ điều kiện.
3. Thời điểm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện
Điều 4 của Thông tư quy định cụ thể việc lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Sau khi hoàn thành việc nhận xét, đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân quý I, quý II và quý IV theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, các trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm rà soát, lập danh sách kèm theo hồ sơ đối với phạm nhân đủ điều kiện.
Thông tư phân định rõ trách nhiệm của từng loại cơ sở giam giữ. Trại giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ, danh sách phạm nhân đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an để thẩm định. Trại tạm giam thuộc Bộ Công an chuyển hồ sơ đến Thủ trưởng đơn vị trực tiếp quản lý để xét duyệt, sau đó chuyển đến Hội đồng thẩm định của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an. Trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh chuyển hồ sơ đến Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Đối với các cơ sở thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng và trại tạm giam cấp quân khu thực hiện theo cơ chế tương ứng trong hệ thống thi hành án hình sự quân đội.
Khoản 2 Điều 4 quy định các thời hạn quan trọng. Việc rà soát, lập hồ sơ xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện phải hoàn thành trước ngày 15/4 đối với phạm nhân đủ điều kiện sau khi có kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý I; trước ngày 15/7 đối với phạm nhân đủ điều kiện sau khi có kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý II; và trước ngày 15/01 năm tiếp theo đối với phạm nhân đủ điều kiện sau khi có kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý IV. Sau đó, hồ sơ được đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định, đồng thời chuyển hồ sơ, danh sách cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát.
Đối với người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù, khoản 3 Điều 4 quy định thủ tục riêng. Việc rà soát, lập hồ sơ xét, đề nghị, thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của người chưa thành niên phải hoàn thành trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xếp loại quý của Hội đồng xếp loại chấp hành án phạt tù của trại giam. Quy định thời hạn ngắn hơn đối với người chưa thành niên thể hiện rõ chính sách nhân đạo, giáo dục, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng đối với nhóm chủ thể đặc biệt này.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát, nếu phát hiện còn trường hợp phạm nhân đủ điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiến nghị, yêu cầu Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thực hiện ngay việc lập hồ sơ để chuyển Tòa án có thẩm quyền, đồng thời báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự tương ứng. Đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu, việc báo cáo được thực hiện ngay cho cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp để lập hồ sơ, đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định.
4. Hội đồng xét, đề nghị và Hội đồng thẩm định hồ sơ
Thông tư quy định về Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện và Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 5).
Theo đó, Bộ Công an quy định việc thành lập và thành phần Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an và trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh; đồng thời quy định việc thành lập và thành phần Hội đồng xét, đề nghị của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an.
Tương tự, Bộ Quốc phòng quy định việc thành lập và thành phần Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam cấp quân khu, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
Quy định này thể hiện sự phân cấp phù hợp với tổ chức hệ thống thi hành án hình sự trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân. Đồng thời, việc thiết lập Hội đồng xét, đề nghị và Hội đồng thẩm định là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm việc đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện không phụ thuộc vào đánh giá đơn lẻ, mà được xem xét theo quy trình tập thể, có thẩm định, có kiểm tra.
5. Trình tự xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ
Tại Điều 6 quy định trình tự xét, đề nghị và thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nội dung điều luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì đây là giai đoạn chuyển từ đánh giá nội bộ của cơ sở giam giữ sang việc hoàn thiện hồ sơ để đề nghị Tòa án xem xét, quyết định.
Đối với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh và cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, sau khi nhận được hồ sơ, danh sách phạm nhân đã được Hội đồng xét, đề nghị của trại giam, trại tạm giam chuyển đến, Hội đồng xét, đề nghị hoặc Hội đồng thẩm định tổ chức họp để xem xét, đề nghị hoặc thẩm định. Căn cứ kết quả xét duyệt, thẩm định, cơ quan có thẩm quyền phối hợp với trại giam, trại tạm giam hoàn chỉnh hồ sơ, danh sách phạm nhân được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện để trình cấp có thẩm quyền, sau đó làm văn bản đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định; đồng thời chuyển hồ sơ, danh sách cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát.
Đối với hệ thống thi hành án hình sự trong Quân đội, Thông tư cũng quy định trình tự tương ứng. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng thực hiện việc xét, đề nghị, thẩm định, hoàn chỉnh hồ sơ, làm văn bản đề nghị Tòa án quân sự có thẩm quyền xem xét, quyết định; đồng thời gửi hồ sơ, danh sách cho Viện kiểm sát quân sự cùng cấp với Tòa án để kiểm sát theo quy định của pháp luật.
Đối với người chưa thành niên đang chấp hành án phạt tù, khoản 3 Điều 6 quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, cơ quan có thẩm quyền thẩm định hồ sơ phải xem xét, thẩm định và có văn bản trả lời cho cơ quan lập hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ tài liệu thì cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung hoặc làm rõ thêm. Thời hạn 10 ngày làm việc để xem xét, thẩm định được tính lại kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận được tài liệu bổ sung hoặc văn bản giải trình về vấn đề cần được làm rõ thêm.
Sau khi có ý kiến đồng ý của cơ quan thẩm định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, trại giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng làm văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời chuyển hồ sơ, danh sách cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát.
Các quy định này góp phần bảo đảm tính minh bạch, chặt chẽ và có thời hạn trong việc xử lý hồ sơ, đặc biệt đối với người chưa thành niên. Đây là điểm cần được nhấn mạnh khi triển khai thực hiện trong thực tiễn, bởi thời hạn rõ ràng là cơ sở hạn chế tình trạng chậm trễ, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân đủ điều kiện.
6. Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Thông tư liên tịch số 08/2026 gồm 11 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Đồng thời, Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Bộ Công an có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Công an các đơn vị, địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, tổ chức thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định của pháp luật. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị trực thuộc trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Tòa án các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật liên quan đến tha tù trước thời hạn có điều kiện. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật liên quan đến tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo chức năng ban hành biểu mẫu, sổ sách, thống kê sử dụng trong thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự, Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự chịu trách nhiệm thực hiện Thông tư liên tịch này. Trường hợp có vướng mắc trong quá trình thực hiện, các cơ quan, đơn vị báo cáo về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để được hướng dẫn kịp thời.
Việc triển khai nghiêm túc Thông tư liên tịch số 08/2026 sẽ góp phần nâng cao chất lượng xem xét, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án phạt tù đủ điều kiện; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự; đồng thời củng cố tính nghiêm minh, nhân đạo và hiệu quả của pháp luật trong thi hành án hình sự.
Giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh Bạc Liêu tuyên truyền, giáo dục phạm nhân cải tạo tốt để sớm hưởng sự khoan hồng của pháp luật - Nguồn: Báo điện tử Chính phủ.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Nhầm lẫn và lạm dụng quy định về người thứ ba ngay tình
-
Người nam có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay không?
-
Bộ Tư pháp hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
-
Xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự
-
TANDTC họp giao ban công tác, triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Bình luận