Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực ở Việt Nam
Quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực là quyền con người cơ bản, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ trẻ em bị bạo lực trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn bộc lộ những hạn chế về việc xác định độ tuổi, cơ chế tố tụng thân thiện, trợ giúp pháp lý và bảo vệ thông tin cá nhân của trẻ em.
Đặt vấn đề
Quyền tiếp cận công lý là một trong những quyền cơ bản của con người, bảo đảm cho cá nhân có thể thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại. Đối với trẻ em bị bạo lực - nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp, quyền này càng mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em”[1]. Mặc dù Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em năm 1989 (CRC), đồng thời, nội luật hóa các quy định này trong Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025) và các văn bản liên quan, song trên thực tế, việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho trẻ em bị bạo lực vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Thực trạng này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật, qua đó không chỉ thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em mà còn góp phần xây dựng một nền tư pháp thân thiện, nhân văn, hướng tới sự phát triển bền vững và công bằng xã hội.
1. Khái quát về quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực
Quyền tiếp cận công lý là một khái niệm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo đó, quyền này được hiểu là khả năng của cá nhân trong việc tìm kiếm, tiếp cận và thụ hưởng sự bảo vệ pháp lý thông qua các cơ quan tư pháp có thẩm quyền, đồng thời, được tham gia vào các trật tự chính trị và hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở quyền được xét xử công bằng mà còn bao gồm quyền được hỗ trợ pháp lý, quyền được tham gia một cách thực chất vào quá trình tố tụng và quyền được bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền này một cách hiệu quả. Quan điểm này cũng được khẳng định trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR), theo đó: “Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị”[2].
Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em năm 1989 (CRC) quy định: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”[3]. Trên cơ sở quy định này, pháp luật của một số quốc gia như Vương quốc Anh (Đạo luật Trẻ em năm 1989), Đức (Bộ luật Dân sự Đức – BGB năm 1900) và Nhật Bản (Luật Phúc lợi Trẻ em năm 1947) đều thống nhất xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi trẻ em ở mức thấp hơn, theo Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”[4]. Dưới góc độ sinh học, trẻ em là nhóm đối tượng đang trong quá trình phát triển về thể chất, trí tuệ và tâm lý, chưa có đầy đủ khả năng tự bảo vệ trước các nguy cơ xâm hại. Chính vì vậy, trẻ em được xem là nhóm xã hội dễ bị tổn thương, cần được Nhà nước, gia đình và xã hội dành sự quan tâm, bảo vệ đặc biệt. Trong bối cảnh đó, việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở khả năng trình báo, yêu cầu bảo vệ, được hỗ trợ pháp lý kịp thời, được tham gia các thủ tục tố tụng phù hợp với độ tuổi, đồng thời, được bảo đảm an toàn về thể chất, tinh thần và danh dự trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.
Bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực là tổng thể các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp và xã hội nhằm thiết lập cơ chế pháp lý, tổ chức và nguồn lực cần thiết để trẻ em bị bạo lực có thể thực hiện đầy đủ quyền được bảo vệ và tiếp cận công lý của mình. Ở Việt Nam, Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Nghị định 56/2017/NĐ-CP quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý”[5]. Bên cạnh đó, Luật Trẻ em năm 2016 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã đặt nền tảng pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em thông qua các quy định về người đại diện hợp pháp, thủ tục tố tụng thân thiện và bảo vệ bí mật đời tư của người dưới 18 tuổi. Như vậy, việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực không dừng lại ở việc thiết lập khuôn khổ pháp luật mà còn đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, gia đình, nhà trường và xã hội.
Việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho trẻ em bị bạo lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về pháp lý, xã hội và nhân văn. Đây là yêu cầu tất yếu nhằm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em năm 1989 (CRC), đồng thời, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ nhóm yếu thế. Bên cạnh đó, việc bảo đảm hiệu quả quyền này góp phần nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật, củng cố niềm tin của xã hội vào hệ thống tư pháp và khuyến khích việc phát hiện, tố giác các hành vi bạo lực đối với trẻ em. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng một nền tư pháp thân thiện với trẻ em, trong đó quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống pháp luật và chính sách xã hội.
2. Một số bất cập trong quy định pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực
Thứ nhất, quy định pháp luật về độ tuổi trẻ em ở Việt Nam chưa tương thích với pháp luật quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới
Quy định độ tuổi trẻ em ở Việt Nam hiện nay chưa bảo đảm sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế. Cụ thể, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”, trong khi Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em năm 1989 (CRC) quy định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”[6]. Phù hợp với tinh thần của Công ước, một số quốc gia thành viên như Pháp, Đức, Brazil đều lựa chọn mốc dưới 18 tuổi để xác định độ tuổi trẻ em. Việc pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi trẻ em thấp hơn so với chuẩn mực quốc tế đã thu hẹp phạm vi chủ thể được thụ hưởng các cơ chế bảo vệ trẻ em, đồng thời dẫn đến sự thiếu sự thống nhất trong việc xác định đối tượng áp dụng các cơ chế bảo vệ trong các lĩnh vực như hình sự, dân sự, lao động,… Những bất cập này làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật và ảnh hưởng đến tính toàn diện, đồng bộ của cơ chế phòng, chống bạo lực đối với trẻ em.
Thứ hai, hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em bị bạo lực chưa được hoàn thiện và triển khai đồng bộ
Nhằm chuyên môn hóa công tác giải quyết các vụ việc liên quan đến trẻ em, pháp luật Việt Nam đã quy định về việc thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên. Theo thông tư số 01/2016/TT-CA, Tòa gia đình và người chưa thành niên có thẩm quyền giải quyết: “Các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác”[7]. Bên cạnh đó, Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định: “Đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên, phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi”[8]. Và: ”Người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”[9]. Tuy nhiên trên thực tế, mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên chưa được triển khai đầy đủ và thống nhất trên phạm vi cả nước. Nhiều địa phương chưa thành lập được Tòa chuyên trách mà chỉ bố trí theo hình thức kiêm nhiệm, chủ yếu do hạn chế về biên chế và nguồn nhân lực. Điều này dẫn đến việc đội ngũ thẩm phán, thư ký và cán bộ tư pháp chưa được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực tâm lý - xã hội trẻ em. Về cơ chế tố tụng thân thiện, các quy định về phòng xử án thân thiện hiện nay vẫn còn thiếu những hướng dẫn cụ thể về thiết kế không gian, trang thiết bị cũng như quy trình hỗ trợ trẻ em trong quá trình tố tụng. Việc bố trí khu vực chờ thích hợp cho trẻ em và gia đình tách biệt với bị cáo và những người làm chứng khác trong vụ án chỉ tương thích một phần so với chuẩn mực quốc tế[10], chỉ được áp dụng trong một số trường hợp nhất định[11]. Hệ quả là các thủ tục tố tụng đối với trẻ em bị bạo lực vẫn chưa thể hiện rõ tính đặc thù cần thiết, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa nguy cơ tái tổn thương cho trẻ em trong quá trình tiếp cận công lý.
Bên cạnh đó, hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em gặp nhiều khó khăn trong việc bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất còn hạn chế. Nhận thức cộng đồng chưa được nâng cao, nhiều người, trong đó có cả trẻ em và gia đình các em chưa biết về quyền được trợ giúp pháp lý. Việc thông tin, truyền thông về quyền được trợ giúp pháp lý cho trẻ em chưa đạt được kết quả như mong muốn[12]. Hơn nữa, cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân của trẻ em còn thiếu thống nhất, các biện pháp che giấu danh tính, hình ảnh và thông tin nhận dạng của trẻ em trong hồ sơ tố tụng và phương tiện truyền thông chưa được thực hiện đồng bộ. Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan báo chí còn hạn chế, gia tăng khả năng bị xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ. Ngoài ra, chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định bảo vệ thông tin của trẻ em chưa đủ sức răn đe và chưa được áp dụng nghiêm khắc, làm giảm hiệu quả phòng ngừa và ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phục hồi của nạn nhân là trẻ em bị bạo lực.
Thứ ba, công tác thống kê, giám sát và đánh giá còn thiếu hiệu quả
Pháp luật hiện hành đã có những quy định về việc thu thập, quản lý và báo cáo tình hình trẻ em bị bạo lực. Cụ thể, khoản 2 Điều 92 Luật Trẻ em năm 2016 quy định:“Thực hiện chính sách, pháp luật, đáp ứng quyền của trẻ em theo tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức được pháp luật quy định; tiếp nhận, thu thập thông tin từ thành viên và xã hội để phản ánh, kiến nghị, tư vấn cho cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, cá nhân về việc thực hiện chính sách, pháp luật”. Tuy nhiên, các quy định này còn mang tính khung, chưa có hướng dẫn cụ thể về phương pháp thu thập, tổng hợp và chia sẻ số liệu, cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan như công an, tòa án, viện kiểm sát, y tế và cơ quan lao động – xã hội.
Thực tiễn cho thấy, công tác thống kê và giám sát còn mang tính hình thức, số liệu phân tán, thiếu thống nhất và nhiều vụ việc chưa được ghi nhận đầy đủ. Theo thống kê của Chính phủ, năm 2024 cả nước ghi nhận 2.361 vụ xâm hại trẻ em, xử lý 2.931 đối tượng, với 2.505 trẻ bị ảnh hưởng. Mặc dù số vụ việc có xu hướng giảm so với năm 2023, nhưng con số này vẫn phản ánh tình trạng xâm hại trẻ em còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, các hành vi xâm hại trẻ em trên không gian mạng ngày càng tinh vi và khó phát hiện[13], gây khó khăn cho việc phát hiện, thu thập thông tin và đánh giá nguy cơ. Do đó, việc hoàn thiện cơ chế thống kê, giám sát và đánh giá theo hướng chuẩn hóa biểu mẫu, tăng cường phối hợp liên ngành và bảo đảm cập nhật đầy đủ dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ trẻ em bị bạo lực.
Thứ tư, cơ chế khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân tham gia còn hạn chế
Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Nguồn tài chính thực hiện quyền trẻ em bao gồm ngân sách nhà nước; ủng hộ của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong nước, nước ngoài; nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ; viện trợ quốc tế và các nguồn thu hợp pháp khác”[14]. Đồng thời, khoản 2 Điều 50 Luật Trẻ em năm 2016 quy định các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ can thiệp như bố trí nơi tạm trú an toàn, chăm sóc y tế, và trị liệu tâm lý. Việc thực hiện các biện pháp này đòi hỏi nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất lớn, trong khi pháp luật hiện hành chưa thiết lập được cơ chế rõ ràng và hiệu quả để huy động sự tham gia đầu tư của khu vực tư nhân. Các văn bản dưới luật chưa xây dựng được hệ thống chính sách ưu đãi đủ mạnh nhằm thu hút các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ bảo vệ và hỗ trợ trẻ em bị bạo lực. Trên thực tế, vai trò của khu vực tư nhân mới chỉ dừng lại ở mức độ “hỗ trợ” hoặc “ủng hộ”, trong khi Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong bối cảnh nguồn lực công còn hạn chế. Điều này dẫn đến khoảng trống đáng kể về nguồn vốn và dịch vụ, ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm quyền tiếp cận công lý một cách toàn diện và hiệu quả cho trẻ em bị bạo lực.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực
Thứ nhất, cần nâng độ tuổi trẻ em nhằm đảm bảo sự phù hợp và tương tích với quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Việc sửa đổi Luật Trẻ em năm 2016 theo hướng xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi sẽ bảo đảm sự tương thích với Công ước CRC năm 1989, đồng thời phù hợp với cách tiếp cận của nhiều quốc gia thành viên. Bên cạnh đó, sửa đổi này còn góp phần khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong việc xác định độ tuổi trẻ em giữa các văn bản pháp luật hiện hành. Nhóm người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi tuy đã đạt một ngưỡng phát triển nhất định nhưng vẫn chưa phát triển toàn diện về thể chất và tâm lý[15], do đó dễ bị tổn thương trước các hành vi xâm hại, bạo lực và vẫn cần được bảo vệ đặc thù. Việc mở rộng phạm vi xác định trẻ em sẽ tạo lập cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc tổ chức và vận hành các thiết chế, cũng như áp dụng các thủ tục giải quyết các vụ việc liên quan đến bạo lực đối với trẻ em, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận công lý và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý thân thiện với trẻ em bị bạo lực
Trước hết, nhóm tác giả nhận thấy cần sớm ban hành các quy định chi tiết về mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên nhằm bảo đảm việc tổ chức và vận hành mô hình này được triển khai đồng bộ và thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Song song với đó, Nhà nước cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên và các cán bộ tư pháp chuyên trách theo hướng chuyên sâu về tâm lý – xã hội trẻ em, bảo đảm năng lực xử lý các vụ việc liên quan đến trẻ em bị bạo lực một cách nhân văn, hạn chế tối đa việc gây áp lực hoặc tái tổn thương cho trẻ. Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định cụ thể và thống nhất các tiêu chuẩn đối với phòng hỏi cung, phòng lấy lời khai và phòng xử án thân thiện, bao gồm yêu cầu về bố trí không gian, trang thiết bị, quy trình tố tụng và các biện pháp hỗ trợ phù hợp với độ tuổi. Tiếp tục tăng cường công tác đào tạo chuyên môn cho cán bộ, bảo đảm nguồn kinh phí, nhân lực và cơ sở vật chất phù hợp cho hoạt động trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn và đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm lan tỏa vai trò, ý nghĩa của hoạt động này. Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về quy trình bảo vệ thông tin của trẻ em bị bạo lực trong quá trình tố tụng, thống nhất các quy trình công bố thông tin và quy định cụ thể các biện pháp bảo mật tài liệu, chứng cứ, xác định trách nhiệm của từng chủ thể tham gia tố tụng. Việc hoàn thiện các quy định này sẽ góp phần xây dựng môi trường tố tụng an toàn, thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong suốt quá trình tiếp cận công lý.
Thứ ba, tăng cường công tác thống kê, giám sát và trách nhiệm giải trình
Để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Trẻ em năm 2016 theo hướng cụ thể hoá cơ chế thống kê, thu thập và quản lý thông tin. Pháp luật cần quy định rõ phương thức thu thập, tổng hợp, phân loại và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan có liên quan như công an, tòa án, viện kiểm sát, y tế và cơ quan lao động - xã hội, đồng thời, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn thực hiện và chế tài đối với từng chủ thể trong việc cung cấp, cập nhật và báo cáo thông tin. Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế quản lý dữ liệu thống nhất, liên thông ở cấp quốc gia nhằm bảo đảm việc theo dõi, đánh giá và phối hợp xử lý các vụ việc bạo lực trẻ em được kịp thời, tránh tình trạng số liệu phân tán hoặc bỏ sót. Công tác giám sát cũng cần được cụ thể hóa thông qua việc xây dựng các tiêu chí đánh giá, chu kỳ giám sát và cơ chế trách nhiệm giải trình, đồng thời bảo đảm tính minh bạch của thông tin trên cơ sở tôn trọng và bảo mật các dữ liệu nhạy cảm liên quan đến trẻ em.
Thứ tư, tăng cường cơ chế khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em bị bạo lực
Để khắc phục những hạn chế về nguồn lực trong công tác bảo vệ trẻ em, Nhà nước cần hoàn thiện các chính sách pháp luật theo hướng khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc đầu tư và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trẻ em bị bạo lực. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Trẻ em nhằm cụ thể hóa các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí, cũng như cơ chế tiếp cận quỹ đất, cơ sở vật chất hoặc nguồn lực công cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em.
Bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi, pháp luật cũng cần quy định rõ ràng về điều kiện, quy trình, tiêu chuẩn thành lập và hoạt động của các cơ sở tư nhân cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, như nhà tạm lánh, trung tâm trị liệu tâm lý và dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên biệt. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức này nhằm bảo đảm mọi hoạt động đều tuân thủ nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em” theo Công ước Quốc tế và pháp luật Việt Nam. Việc quy định rõ trách nhiệm giải trình về hiệu quả hoạt động và sử dụng các nguồn lực ưu đãi sẽ góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực được thực hiện một cách thực chất và bền vững.
Kết luận
Bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho trẻ em bị bạo lực là một yêu cầu khách quan và cấp thiết trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã từng bước hoàn thiện, song vẫn còn tồn tại những khoảng trống và hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng đồng bộ, khả thi và thân thiện với trẻ em sẽ tạo ra nền tảng vững chắc để trẻ em - đặc biệt là những trẻ em bị bạo lực được tiếp cận công lý một cách bình đẳng, an toàn và nhân văn. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề mang ý nghĩa pháp lý mà còn phản ánh mức độ văn minh và trách nhiệm của Nhà nước đối với nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội. Chỉ khi các quy định pháp luật được triển khai thống nhất, có sự giám sát hiệu quả, sự tham gia tích cực từ gia đình, nhà trường và xã hội, quyền tiếp cận công lý của trẻ em bị bạo lực mới thực sự được bảo đảm trên thực tế, góp phần củng cố niềm tin xã hội vào hệ thống tư pháp, thúc đẩy sự phát triển của một xã hội công bằng, tiến bộ và giàu tính nhân đạo.
Tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp năm 2013.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025).
3. Bộ luật Dân sự Đức năm 1900.
4. Đạo luật Trẻ em ở Anh năm 1989.
5. Luật Phúc lợi Trẻ em Nhật Bản năm 1947.
6. Luật Trẻ em năm 2016.
7. Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.
8. Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 2/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định việc tổ chức các tòa chuyên trách tại tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương.
9. Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về phòng xử án.
10. Thông tư 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của tòa gia đình và người chưa thành niên.
11. Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCP).
12. Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
13. UNICEF (2024), “Nghiên cứu đánh giá tiến trình hình thành và hoạt động của Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam”, UNICEF Việt Nam, https://www.unicef.org/vietnam/vi/bao-cao/nghien-cuu-toa-gia-dinh-nguoi-chua-thanh-nien.
14. Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2025), "Hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em", https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1986&l=Nghiencuutraodoi.
15. Hưng Yên, “Chung tay bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bạo lực và xâm hại”, https://baohungyen.vn/chung-tay-bao-ve-tre-em-truoc-nguy-co-bao-luc-va-xam-hai-3182323.html.
16. Trang thông tin hợp tác quốc tế về pháp luật, “Những vấn đề chung về nhóm dễ bị tổn thương”, https://hoptacquocte.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=95.
[1] Điều 27 Luật Trẻ em năm 2016.
[2] Khoản 1 Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCP).
[3] Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
[4] Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016.
[5] Khoản 1 Điều 21 Nghị định 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.
[6] Điều 1 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
[7] Điểm a khoản 6 Điều 3 Thông tư số 01/2016/TT-CA quy định việc tổ chức các tòa chuyên trách tại tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương.
[8] Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định về phòng xử án.
[9] Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy định về phòng xử án.
[10] UNICEF (2024), “Nghiên cứu đánh giá tiến trình hình thành và hoạt động của Tòa Gia đình và người chưa thành niên tại Việt Nam”, UNICEF Việt Nam, <https://www.unicef.org/vietnam/vi/bao-cao/nghien-cuu-toa-gia-dinh-nguoi-chua-thanh-nien>, ngày truy cập 18/12/2025.
[11] Khoản 1 Điều 10 Thông tư 02/2018/TT-TANDTC quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của tòa gia đình và người chưa thành niên.
[12] Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2025), "Hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em", <https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1986&l=Nghiencuutraodoi>, ngày truy cập 18/12/2025.
[13] Hưng Yên, “Chung tay bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bạo lực và xâm hại”, <https://baohungyen.vn/chung-tay-bao-ve-tre-em-truoc-nguy-co-bao-luc-va-xam-hai-3182323.html>, ngày truy cập 03/11/2025.
[14] Khoản 2 Điều 7 Luật Trẻ em năm 2016.
[15] Trang thông tin hợp tác quốc tế về pháp luật, “Những vấn đề chung về nhóm dễ bị tổn thương”, <https://hoptacquocte.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=95>,
ngày truy cập 16/12/2025.
Trẻ em ở Văn Bàn, Lào Cai - Ảnh: Thái Vũ.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Trao Quyết định bổ nhiệm 39 Thẩm phán Tòa án nhân dân
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Tòa án nhân dân tối cao công bố 10 án lệ
-
Tạp chí Tòa án nhân dân trao quà nhân dịp Tết Bính Ngọ
-
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Bình luận