LIÊM CHÍNH TƯ PHÁP: TỪ NHẬN THỨC ĐẾN HÀNH ĐỘNG
(TCTA) - Trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu ngày càng cao của xã hội, Nhân dân đối với hoạt động xét xử, thì việc nghiên cứu, nhận diện và tổ chức thực hiện liêm chính tư pháp có ý nghĩa cấp thiết, trực tiếp quyết định uy tín, kỷ cương và niềm tin đối với Tòa án. Bài viết làm rõ cơ sở nhận thức, yêu cầu thực tiễn và phương hướng hành động để xây dựng nền tư pháp liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Nội dung bài viết phân tích vai trò của liêm chính tư pháp trong hoạt động Tòa án; yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; nâng cao chất lượng xét xử; công khai, minh bạch; chuyển đổi số; kiểm soát quyền lực trong thực thi nhiệm vụ. Trên cơ sở yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với công tác Tòa án trong giai đoạn hiện nay, bài viết nhấn mạnh phương thức quản trị Tòa án bằng dữ liệu, bằng thời hạn, bằng sản phẩm cụ thể và bằng trách nhiệm cá nhân. Qua đó, góp phần định hướng chỉ đạo nhằm củng cố kỷ cương từ nhận thức, xây dựng niềm tin từ hành động trong toàn hệ thống Tòa án.
Đặt vấn đề
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ giải quyết một vụ án, vụ việc cụ thể, mà còn thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, kỷ cương của Nhà nước và niềm tin của Nhân dân vào công lý.
Công lý không chỉ được nhìn thấy ở kết quả cuối cùng của một bản án. Công lý còn được nhìn thấy trong toàn bộ quá trình tố tụng: từ việc tiếp nhận đơn, thụ lý, phân công giải quyết vụ án; từ thái độ ứng xử của cán bộ Tòa án, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; từ sự công minh, khách quan, vô tư của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; từ việc bản án được ban hành đúng pháp luật, đúng thời hạn, rõ ràng, có tính thuyết phục và có khả năng thi hành trên thực tế. Vì vậy, xây dựng nền tư pháp liêm chính không phải là một khẩu hiệu, mà là yêu cầu tự thân, thường xuyên, liên tục của hệ thống Tòa án.
Liêm chính tư pháp trước hết là liêm chính trong nhận thức, trong đạo đức công vụ, trong hoạt động xét xử và trong trách nhiệm trước Nhân dân. Đó là sự trong sạch, công tâm, khách quan, không vụ lợi, không bị chi phối bởi các mối quan hệ, lợi ích, sức ép hoặc tác động trái pháp luật. Đó cũng là một hệ thống quản trị kỷ luật, có kiểm tra, giám sát, bảo đảm công khai, minh bạch, giúp phòng ngừa và xử lý nghiêm sai phạm. Một nền tư pháp liêm chính không thể chỉ dựa vào phẩm chất cá nhân của từng cán bộ, mà phải được bảo đảm bằng thể chế, quy trình, công nghệ, văn hóa công vụ và trách nhiệm của người đứng đầu.
Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều yêu cầu cao hơn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Cùng với đó, các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính ngày càng đa dạng, phức tạp; các vụ án hình sự, nhất là án tham nhũng, kinh tế, chức vụ, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, đất đai, đấu thầu có quy mô ngày càng lớn, số lượng tài sản thất thoát nhiều, người tham gia tố tụng đông, tác động xã hội sâu rộng.
Trước yêu cầu đó, đối với hệ thống Tòa án, sự đổi mới là yêu cầu bắt buộc. Nhưng đổi mới phải có định hướng, có trọng tâm, có kỷ luật và có kết quả cụ thể. Đổi mới không phải để tạo thêm hình thức, mà để nâng cao chất lượng xét xử, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, kiểm soát tốt hơn trách nhiệm công vụ, phòng ngừa tiêu cực, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn và củng cố niềm tin vững chắccủa Nhân dân vào Tòa án.
Tinh thần chung cần được quán triệt trong công tác Tòa án là: công tác chuyên môn phải lấy chất lượng xét xử làm trung tâm; công tác cán bộ phải lấy liêm chính, bản lĩnh, năng lực làm thước đo; chuyển đổi số phải phục vụ quản trị Tòa án hiện đại; công khai, minh bạch phải trở thành phương thức kiểm soát quyền lực tư pháp; mọi hoạt động của Tòa án phải hướng tới mục tiêu cao nhất là bảo vệ công lý, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
Những yêu cầu đó đã được cụ thể hóa bằng các mệnh lệnh điều hành rất rõ trong Chỉ thị số 02-CT/ĐU ngày 18/6/2026 của Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về công tác đánh giá hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng quản trị trong Tòa án nhân dân phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới (gọi tắt là Chỉ thị số 02-CT/ĐU); Nghị quyết số 08-NQ/ĐU ngày 30/6/2026 của Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2026 (gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/ĐU) và Kế hoạch số 353/KH-TANDTC ngày 13/6/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc triển khai đợt thi đua cao điểm “90 ngày giải quyết đơn, án và triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị” (15/6/2026 - 15/9/2026) (gọi tắt là Kế hoạch số 353/KH-TANDTC).
Nghị quyết số 08-NQ/ĐU đã xác định tinh thần chỉ đạo 6 tháng cuối năm là chủ động, đoàn kết, trách nhiệm, khẩn trương; tập trung đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử; rà soát toàn diện các nhiệm vụ, đề án còn chậm tiến độ; tháo gỡ khó khăn về thể chế, tổ chức bộ máy, chuyển đổi số và kiểm tra, giám sát. Nghị quyết này không chỉ đề ra nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm, mà còn thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng bộ TANDTC trong việc hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu công tác và nhiệm vụ chính trị.
Chỉ thị số 02-CT/ĐU và Kế hoạch số 353/KH-TANDTC đã cụ thể hóa tinh thần đó thành thước đo hành động: kết quả phải được kiểm chứng bằng số lượng việc đã giải quyết, thời hạn hoàn thành, chất lượng bản án, quyết định và trách nhiệm của người đứng đầu. Đợt thi đua “90 ngày giải quyết đơn, án và triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị” (15/6/2026-15/9/2026) không chỉ đơn thuần là một khoảng thời gian tăng tốc thực hiện nhiệm vụ, mà là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn hệ thống Tòa án, nhằm chuyển hóa tinh thần chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy và của đồng chí Chánh án TANDTC thành kết quả cụ thể, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về trách nhiệm thực thi. Công tác đánh giá đối với đơn vị, cá nhân phải được tiến hành thực chất, lấy hiệu quả, công tác và kết quả đầu ra làm thước đo, phải dựa trên số lượng công việc được giao theo vị trí việc làm và kết quả hoàn thành, chất lượng và tiến độ hoàn thành công việc, công tác chuyển đổi số, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, thái độ phục vụ Nhân dân...; kiên quyết khắc phục tình trạng nể nang, cào bằng, né tránh trong công tác đánh giá cán bộ.
Trong các Hội nghị sơ kết, Hội nghị giao ban, làm việc với các đơn vị và Tòa án địa phương thời gian qua, Chánh án TANDTC luôn nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển mạnh từ công tác quản lý hành chính đơn thuần sang quản trị bằng mục tiêu, tiến độ, dữ liệu và sản phẩm cụ thể; kỷ cương không chỉ được thể hiện ở văn bản chỉ đạo, mà phải được kiểm chứng bằng số lượng việc đã hoàn thành, thời hạn xử lý hồ sơ, chất lượng bản án, quyết định, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ đột xuất, kết quả chuyển đổi số, đóng góp của hoạt động Tòa án đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước. Đây là điểm mới có ý nghĩa phương pháp luận trong xây dựng liêm chính tư pháp: liêm chính không chỉ là chuẩn mực đạo đức của cá nhân, mà còn là năng lực quản trị của cả hệ thống.
Theo đó, phụng sự công lý, liêm chính tư pháp và những yêu cầu đổi mới đối với hệ thống Tòa án đó là:
1. Sự lãnh đạo của Đảng là kim chỉ nam cho sự đổi mới trong hệ thống Tòa án
Xây dựng nền tư pháp liêm chính trước hết phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, trực tiếpcủa Đảng. Đối với hệ thống Tòa án, công tác Đảng là nền tảng bảo đảm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, đúng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Việc quán triệt, triển khai các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy TANDTC phải được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, có kế hoạch, có kiểm tra, có sản phẩm cụ thể. Không thể để việc học tập, quán triệt nghị quyết chỉ dừng lại ở hội nghị, tài liệu, báo cáo. Mỗi chủ trương lớn của Đảng phải được cụ thể hóa thành kế hoạch, chương trình công tác, nhiệm vụ chuyên môn, tiêu chí đánh giá, trách nhiệm của đơn vị và trách nhiệm của người đứng đầu.
Công tác Đảng trong Tòa án phải hướng vào những vấn đề rất cụ thể: nâng cao chất lượng xét xử; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án trong sạch, vững mạnh; kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp; đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy; đẩy mạnh chuyển đổi số; tăng cường công khai, minh bạch; củng cố niềm tin của Nhân dân. Ở đâu làm tốt công tác Đảng, ở đó kỷ luật công vụ phải tốt hơn, đoàn kết nội bộ phải vững chắc, chất lượng chuyên môn phảinâng cao, trách nhiệm phục vụ Nhân dân phải rõ ràng.
Người đứng đầu cấp ủy, Tòa án các cấp phải nhận thức sâu sắc rằng, lãnh đạo không chỉ là ban hành văn bản, giao nhiệm vụ, nghe báo cáo, mà còn là kiểm tra, giám sát, đôn đốc và chịu trách nhiệm đến cùng. Nghị quyết chỉ có giá trị thực tiễn khi được chuyển hóa thành hành động; hành động chỉ có ý nghĩa khi tạo ra chuyển biến thực chất trong chất lượng công việc và niềm tin của Nhân dân.
Quyết tâm, quyết liệt xây dựng hệ thống Tòa án vững mạnh để thực hiện được mục tiêu cao nhất, đó là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, không ngừng đổi mới trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần kiến tạo và thúc đẩy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Chất lượng xét xử là trung tâm mọi cải cách của hệ thống Tòa án
Đối với hệ thống Tòa án, thước đo cao nhất của đổi mới là chất lượng xét xử, chất lượng giải quyết án. Mọi chủ trương về tổ chức bộ máy, cán bộ, công nghệ, truyền thông, cơ sở vật chất, quản trị nội bộ cuối cùng đều phải trả lời được câu hỏi: có làm cho hoạt động xét xử đúng hơn, nhanh hơn, minh bạch hơn, thuyết phục hơn và gần dân hơn hay không?
Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 của hệ thống Tòa án đã đánh giá một cách thực chất, toàn diện và chính xác kết quả công tác trong nhiều lĩnh vực, từ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đến thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Qua đó, làm rõ hiệu quả bước đầu của việc triển khai mô hình Tòa án 3 cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá toàn diện, khách quan tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc kết quả thực hiện nhiệm vụ ở từng lĩnh vực công tác, từng đơn vị, địa phương, để đề ra giải pháp khắc phục trong 6 tháng cuối năm 2026.
Bên cạnh việc tăng cường kỷ cương, nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ việc, TANDTC tiếp tục đẩy mạnh công tác chỉ đạo, điều hành và hoàn thiện cơ chế bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật thông qua phát triển án lệ. Chỉ trong năm công tác 2026, Chánh án TANDTC đã công bố 18 án lệ mới theo hai đợt(1), tạo cơ sở quan trọng để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử. Cùng với đó, Chỉ thị số 03/2025/CT-CA của Chánh án TANDTC về các nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2026 đã xác định phương châm hành động: “Đổi mới, đoàn kết, trách nhiệm, kỷ cương, chất lượng, vì công lý”, yêu cầu Tòa án các cấp phát huy truyền thống 80 năm xây dựng và trưởng thành của hệ thống Tòa án, chủ động, quyết liệt, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại, phục vụ Nhân dân và bảo vệ công lý.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các Tòa án đã thụ lý hơn 448.000 vụ việc, giải quyết gần 239.000 vụ, tỷ lệ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan được kiểm soát ở mức thấp; công tác xét xử cơ bản bảo đảm đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai. Các Tòa án trên toàn quốc đã thụ lý và đưa ra xét xử nhiều đại án trọng điểm về tham nhũng, kinh tế, các vụ án lớn thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo.
Số liệu nêu trên cho thấy, áp lực đặt lên hệ thống Tòa án không chỉ là áp lực về khối lượng công việc, mà còn là áp lực về chất lượng, thời hạn và tính thuyết phục của hoạt động xét xử. Với hơn 448.000 vụ việc được thụ lý chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, mỗi điểm nghẽn nhỏ trong quy trình tiếp nhận, phân công, nghiên cứu hồ sơ, mở phiên tòa, ban hành bản án, quyết định đều có thể nhân lên thành áp lực lớn đối với toàn hệ thống. Do đó, công tác chỉ đạo, điều hành phải chuyển từ xử lý sự vụ sang quản trị rủi ro, từ báo cáo kết quả sang kiểm soát tiến độ, từ đánh giá chung sang đánh giá bằng sản phẩm cụ thể.
Nhìn từ góc độ liêm chính tư pháp, các số liệu về án thụ lý, án giải quyết, án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, kết quả hòa giải, đối thoại, tiến độ số hóa hồ sơ không chỉ là số liệu nghiệp vụ. Đó còn là thước đo kỷ luật công vụ, năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Một nền tư pháp liêm chính phải có khả năng chứng minh bằng dữ liệu rằng công việc đang được xử lý đúng hướng, đúng hạn, đúng người, đúng trách nhiệm và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn tồn tại một số hạn chế như tỷ lệ giải quyết một số loại vụ việc chưa đạt yêu cầu; còn sai sót trong thu thập, đánh giá chứng cứ, dẫn đến án bị hủy, sửa; án hành chính, dân sự còn vướng mắc trong xác định quan hệ pháp luật, thi hành án; khối lượng công việc lớn trong khi biên chế, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin còn hạn chế; kỷ luật công vụ ở một số nơi chưa nghiêm.
Để khắc phục các tồn tại nêu trên, hệ thống Tòa án xác định tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xét xử; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; tăng cường thanh tra, kiểm tra; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính tư pháp; đồng thời, tăng cường phối hợp liên ngành, đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, phấn đấu hoàn thành và vượt các chỉ tiêu công tác năm 2026, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ án lớn, phức tạp được dư luận đặc biệt quan tâm như: vụ án Việt Á(2), chuyến bay giải cứu(3), Vạn Thịnh Phát(4), Tân Hoàng Minh(5) và nhiều vụ án trong lĩnh vực đăng kiểm, chứng khoán, ngân hàng, đất đai, đấu thầu đã được đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh. Những vụ án này là phép thử rất lớn đối với bản lĩnh, năng lực và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án. Qua đó, một nguyên tắc phải tiếp tục được khẳng định: xét xử phải nghiêm minh, khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, nhưng cũng không cực đoan, cảm tính và chạy theo dư luận.
Nghiêm minh phải đi đôi với nhân văn và có sự phân hóa vai trò, trách nhiệm. Người chủ mưu, cầm đầu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân phải bị xử lý nghiêm. Người có vai trò thứ yếu, thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả, có căn cứ giảm nhẹ thì phải được xem xét đúng chính sách hình sự của Nhà nước. Đó là sự công bằng của pháp luật, cũng là bản lĩnh của Tòa án: không nhân nhượng với cái sai, nhưng luôn xét xử trên nền tảng chứng cứ, pháp luật và lẽ phải.
3. Giải quyết án, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải thực chất, đúng hạn, đúng trách nhiệm
Một nền tư pháp liêm chính không thể chấp nhận tình trạng chậm trễ kéo dài, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy hồ sơ hoặc giải quyết công việc theo lối hình thức. Mỗi vụ án chậm được giải quyết là quyền lợi của người dân, tổ chức, doanh nghiệp bị ảnh hưởng. Mỗi đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chậm được xem xét là một sự chờ đợi kéo dài của Nhân dân đối với công lý.
Vì vậy, công tác giải quyết án, công tác nghiên cứu đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải được quản lý bằng tiến độ, kết quả, bằng trách nhiệm cụ thể. Không thể chỉ báo cáo chung chung là “đang nghiên cứu”, “đang xử lý”, “đang chờ”. Phải xác định rõ hồ sơ đang ở đâu, vướng mắc gì, ai chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành khi nào, biện pháp tháo gỡ ra sao.
Điều hành công việc theo tuần, theo tháng, theo nhóm nhiệm vụ, theo từng đơn vị tham mưu là cách làm cần tiếp tục được phát huy. Giao ban không phải để nghe báo cáo hình thức, mà để nhận diện điểm nghẽn, rà soát tiến độ so với chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra, xác định rõ trách nhiệm và đưa ra quyết định chỉ đạo kịp thời. Đơn vị nào làm tốt phải được ghi nhận, đơn vị nào chậm, tồn đọng lớn, chất lượng tham mưu, giải quyết công việc chưa bảo đảm thì phải kiểm điểm rõ nguyên nhân và có giải pháp khắc phục.
Đợt cao điểm “90 ngày giải quyết đơn, án và thực hiện các nhiệm vụ chính trị” phải được hiểu là một phương thức tăng cường kỷ luật thực thi, không phải là phong trào thi đua ngắn hạn mang tính hình thức. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; giải quyết, xét xử các loại vụ việc đạt và vượt chỉ tiêu; không để đơn, án quá hạn do nguyên nhân chủ quan; đồng thời, giảm tối đa bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan. Nói cách khác, tiến độ phải đi cùng chất lượng; số lượng phải đi cùng kỷ cương; thi đua phải đi cùng trách nhiệm.
Điểm đáng chú ý của đợt thi đua là các yêu cầu đã được lượng hóa thành các tiêu chí: không có đơn, án quá hạn; giải quyết, xét xử vượt chỉ tiêu theo quy định; đạt trên 90% đối với vụ án hình sự, trên 85% đối với vụ việc dân sự, trên 65% đối với vụ án hành chính, từ 99% trở lên đối với hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm vượt 60%; tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan không vượt mức quy định. Những chỉ tiêu này làm cho kỷ cương trở nên cụ thể hơn, vì mỗi tập thể, cá nhân đều có căn cứ để tự soi lại tiến độ, chất lượng và trách nhiệm của mình.
Với cách tiếp cận đó, thi đua không phải là chạy theo số lượng đơn thuần. Nếu chỉ tăng số vụ giải quyết mà chất lượng bản án, quyết định không được bảo đảm, án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan tăng lên hoặc quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng do bản án tuyên không rõ, khó thi hành, thì đó không phải là kết quả thực chất. Ngược lại, nếu tiến độ được nâng lên nhưng vẫn bảo đảm tranh tụng, đánh giá chứng cứ khách quan, áp dụng pháp luật thống nhất, lập luận bản án chặt chẽ, thì thi đua trở thành động lực cải cách thật sự.
Mỗi cơ quan, đơn vị phải tự rà soát danh mục đơn, án, xác định rõ nhóm việc có khả năng hoàn thành ngay, nhóm việc còn vướng mắc và nhóm việc có nguy cơ quá hạn để có giải pháp tương ứng. Những hồ sơ tồn đọng, kéo dài, phức tạp không thể chỉ giao chung cho đơn vị, mà phải xác định rõ đầu mối phụ trách, mốc thời gian, sản phẩm cần hoàn thành và cơ chế tháo gỡ. Chỉ đạo, điều hành phải đi đến cùng từng việc, từng hạn, từng kết quả.
Mỗi đơn vị, Tòa án phải coi việc giải quyết án đúng hạn, đúng pháp luật, đúng chất lượng là danh dự nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ. Không được để án quá hạn do nguyên nhân chủ quan. Không được để bản án tuyên không rõ, khó thi hành. Không được để đơn thư kéo dài vì thiếu kiểm tra, thiếu đôn đốc, thiếu phương pháp quản lý khoa học. Mỗi đơn vị hoàn thành chỉ tiêu sẽ tạo động lực cho đơn vị khác; mỗi bản án được xét xử kịp thời, đúng pháp luật sẽ góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống Tòa án.
4. Thống nhất áp dụng pháp luật để bảo đảm công bằng
Một yêu cầu quan trọng của nền tư pháp là pháp luật phải được áp dụng thống nhất. Cùng một quy định pháp luật, cùng một bản chất pháp lý của vụ việc thì không thể để mỗi nơi hiểu một cách, mỗi cấp áp dụng một kiểu. Sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật sẽ làm phát sinh sự hoài nghi về tính công bằng, bình đẳng và minh bạch trong xét xử.
Do đó, công tác tổng kết thực tiễn xét xử, phát triển án lệ, ban hành nghị quyết, giải đáp vướng mắc nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật phải tiếp tục được coi là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của TANDTC. Những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn xét xử ở cơ sở phải được ghi nhận kịp thời, nghiên cứu thấu đáo, giải đáp rõ ràng, nhất là những vấn đề mới, khó, có nhiều cách hiểu khác nhau trong các lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động, phá sản. Từ đó, giúp Thẩm phán có thêm căn cứ tham khảo, bảo đảm các Tòa án áp dụng pháp luật thống nhất hơn, giúp công dân, luật sư và xã hội hiểu rõ hơn quan điểm áp dụng pháp luật của Tòa án. Đây cũng là cách để thực tiễn xét xử quay trở lại phục vụ hoàn thiện pháp luật.
Thống nhất áp dụng pháp luật không làm giảm tính độc lập của Thẩm phán. Ngược lại, đó là điều kiện để Thẩm phán độc lập trong khuôn khổ pháp luật rõ ràng, có chuẩn mực và có trách nhiệm giải trình. Độc lập xét xử không đồng nghĩa với tùy nghi. Độc lập phải đi cùng bản lĩnh, trình độ, đạo đức và sự tuân thủ pháp luật.
Yêu cầu hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất cần được gắn với việc kịp thời nhận diện các lĩnh vực đang phát sinh vướng mắc lớn. Những nhóm việc liên quan đến đất đai, sở hữu trí tuệ, phá sản, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, đấu thầu, hành chính công và các tranh chấp kinh doanh, thương mại phức tạp... đòi hỏi TANDTC phải tăng cường tổng kết thực tiễn, lựa chọn bản án có chất lượng để phát triển án lệ, ban hành nghị quyết hướng dẫn, giải đáp nghiệp vụ và tổ chức rút kinh nghiệm theo chuyên đề. Đây là cách để biến kinh nghiệm xét xử thành chuẩn mực áp dụng pháp luật, giảm sai số giữa các địa phương, đồng thời, củng cố niềm tin của xã hội vào sự công bằng, nhất quán của Tòa án.
5. Công tác cán bộ là then chốt của liêm chính tư pháp
Mọi cải cách cuối cùng đều phụ thuộc vào con người. Không thể có nền tư pháp liêm chính nếu thiếu đội ngũ Thẩm phán, công chức, viên chức Tòa án trong sạch, bản lĩnh, giỏi chuyên môn và có đạo đức công vụ. Một quy trình tốt, có thể bị làm hỏng bởi con người làm việc với tinh thần thiếu trách nhiệm. Một thể chế đúng, có thể bị méo mó nếu người thực thi không liêm chính. Một bản án, có thể mất sức thuyết phục nếu người xét xử thiếu bản lĩnh, thiếu công tâm hoặc thiếu năng lực.
Vì vậy, công tác cán bộ phải được đặt ở vị trí then chốt. Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ Tòa án phải thực chất, công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn, đúng quy trình, đúng người, đúng việc. Không chạy theo số lượng; không hạ thấp tiêu chuẩn; không để quan hệ, cảm tính, nể nang, cục bộ chi phối công tác cán bộ.
Đối với Thẩm phán, yêu cầu này càng phải nghiêm khắc hơn. Thẩm phán phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, kiến thức pháp luật sâu, kỹ năng xét xử tốt, khả năng lập luận thuyết phục, thái độ chuẩn mực và lương tâm nghề nghiệp. Thẩm phán phải biết lắng nghe nhưng không dao động; phải nhân văn nhưng không dễ dãi; phải độc lập nhưng không tùy tiện; phải nghiêm minh nhưng không cực đoan.
Cùng với sự kiểm soát chặt chẽ thì phải có cơ chế bảo vệ các cán bộ làm đúng. Liêm chính tư pháp không chỉ là xử lý người vi phạm, mà còn là bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám bảo vệ pháp luật, dám bảo vệ lẽ phải. Nếu người làm đúng không được bảo vệ, người né tránh không bị xử lý, người vi phạm không bị kỷ luật nghiêm, thì kỷ cương sẽ bị suy giảm. Do đó, phải xây dựng môi trường công vụ, trong đó, cán bộ tốt được khuyến khích, cán bộ yếu kém được chấn chỉnh, cán bộ vi phạm bị xử lý, người đứng đầu chịu trách nhiệm đến cùng.
6. Người đứng đầu phải là trung tâm của kỷ luật và đổi mới
Trong quản trị Tòa án, trách nhiệm người đứng đầu có ý nghĩa quyết định. Một đơn vị mạnh hay yếu, kỷ luật hay lỏng lẻo, đoàn kết hay mất đoàn kết, chủ động hay trì trệ, phần lớn phụ thuộc vào vai trò của người đứng đầu. Người đứng đầu không thể chỉ nhận thành tích khi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, mà phải chịu trách nhiệm khi đơn vị để xảy ra chậm trễ, sai phạm, thiếu kỷ luật, thiếu đoàn kết hoặc có biểu hiện tiêu cực.
Trách nhiệm người đứng đầu phải được cụ thể hóa bằng công việc hằng ngày: giao việc rõ, kiểm tra rõ, đôn đốc rõ, xử lý rõ. Phải biết việc nào là trọng tâm, điểm nghẽn nằm ở đâu, hồ sơ nào chậm, cán bộ nào yếu, đơn vị nào cần hỗ trợ, việc nào cần xin ý kiến, việc nào phải quyết ngay. Không thể lãnh đạo theo kiểu chung chung, nghe báo cáo rồi để đó. Càng trong giai đoạn đổi mới tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng xét xử, vai trò của người đứng đầu càng phải rõ.
Yêu cầu đặt ra đối với người đứng đầu Tòa án các cấp là phải trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng xét xử, tiến độ giải quyết các vụ, việc, kỷ luật công vụ, đạo đức cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và việc thực hiện chuyển đổi số tại đơn vị mình. Không được đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên. Không được né tránh những việc khó. Không được để sai phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Không được để tình trạng trì trệ trở thành thói quen quản lý.
Trách nhiệm này không dừng ở yêu cầu chung, mà phải được lượng hóa trong đánh giá cán bộ, đánh giá đơn vị và bình xét thi đua. Kết quả thực hiện đợt cao điểm giải quyết đơn, án phải là căn cứ để nhìn nhận năng lực điều hành, tinh thần trách nhiệm và chất lượng quản trị của người đứng đầu. Nơi nào để chậm tiến độ, để án quá hạn, để chất lượng tham mưu thấp hoặc để kỷ luật công vụ lỏng lẻo thì người đứng đầu phải giải trình nêu rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục cụ thể.
Trong điều hành công việc, người đứng đầu các đơn vị phải chủ động nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, đôn đốc; thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua sản phẩm, kết quả cụ thể và kịp thời xử lý những vấn đề mới phát sinh. Đây là yêu cầu rất quan trọng, bởi nếu không gắn trách nhiệm lãnh đạo với hiệu quả công việc, thì kỷ cương dễ bị hòa tan trong trách nhiệm tập thể; còn nếu từng nhiệm vụ đều có đầu mối, thời hạn và kết quả kiểm chứng, thì quản trị Tòa án sẽ minh bạch hơn, hiệu quả hơn và có sức răn đe, phòng ngừa tốt hơn.
Trách nhiệm người đứng đầu cũng phải được hiểu theo hai chiều: chịu trách nhiệm khi đơn vị chậm trễ, sai sót, để phát sinh tiêu cực; đồng thời, có trách nhiệm bảo vệ cán bộ làm đúng, cán bộ dám đổi mới, dám nhận việc khó, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một môi trường công vụ liêm chính không thể chỉ dựa vào xử lý vi phạm sau khi xảy ra, mà phải tạo động lực cho cái đúng, khuyến khích sự chủ động, loại bỏ tâm lý né tránh và chống lại tư tưởng an toàn, cầu toàn, đùn đẩy.
Lãnh đạo quyết liệt không có nghĩa là nóng vội, áp đặt, hành chính hóa hoạt động xét xử. Lãnh đạo quyết liệt là dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nhận trách nhiệm, dám thay đổi cách làm, dám xử lý yếu kém, dám bảo vệ cái đúng và kiên trì theo đuổi kết quả thực chất.
7. Chuyển đổi số phải tạo ra kỷ luật quản trị mới
Chuyển đổi số trong Tòa án không phải là phong trào kỹ thuật, càng không phải là việc số hóa hình thức. Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức quản trị mới: minh bạch hơn, chính xác hơn, kịp thời hơn, có dữ liệu hơn và có khả năng kiểm soát trách nhiệm tốt hơn.
Việc triển khai Nền tảng quản lý án toàn trình(6) là một bước đi có ý nghĩa quan trọng. Khi vụ án được quản lý từ khi thụ lý đến khi giải quyết xong; khi có thể theo dõi trạng thái xử lý, tiến độ, thời hạn, người phụ trách, vướng mắc phát sinh; khi dữ liệu tố tụng được chuẩn hóa, hồ sơ được số hóa, tài liệu được ký số, văn bản được quản lý trên môi trường điện tử, thì công tác chỉ đạo, điều hành sẽ không còn chủ yếu dựa vào báo cáo thủ công, mà từng bước dựa trên dữ liệu thực tế.
Nền tảng quản lý án toàn trình là nền tảng số cốt lõi của Tòa án điện tử, thực hiện số hóa toàn bộ quy trình quản lý, giải quyết vụ việc, hình thành cơ sở dữ liệu quản lý án thống nhất trong toàn hệ thống Tòa án, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Việc hoàn thành nền tảng có ý nghĩa quan trọng trong đổi mới phương thức quản trị, chỉ đạo, điều hành và hoạt động của Tòa án, đồng thời, góp phần xây dựng hạ tầng dữ liệu tư pháp số, phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu và phát triển các ứng dụng số trong thời gian tới.
Chuyển đổi số phải phục vụ trực tiếp cho Thẩm phán, cho cán bộ Tòa án, cho người dân và cho công tác quản lý. Công nghệ phải giúp giảm thủ tục, giảm chậm trễ, giảm sai sót, tăng khả năng kiểm tra, giám sát, cảnh báo rủi ro. Nếu phần mềm chỉ làm tăng thao tác, tăng báo cáo, tăng hình thức, thì phải rà soát, điều chỉnh. Mọi nền tảng công nghệ trong Tòa án phải được đánh giá bằng hiệu quả thực tế: có giúp giải quyết án nhanh hơn không; có giúp quản lý tiến độ tốt hơn không; có giúp công khai, minh bạch hơn không; có giúp người dân tiếp cận công lý thuận lợi hơn không.
Nghị quyết số 08-NQ/ĐU đặt yêu cầu chuyển đổi số ở mức cao hơn: hoàn thiện, đưa vào sử dụng Nền tảng quản lý án toàn trình và Cổng dịch vụ tư pháp công trực tuyến; chuẩn hóa, làm sạch, khai thác hiệu quả dữ liệu; tăng cường kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia; từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xử lý nghiệp vụ, hỗ trợ Thẩm phán, Thư ký nâng cao năng suất, giảm áp lực công việc. Đây không chỉ là nhiệm vụ công nghệ, mà là thay đổi căn bản phương thức quản trị, từ quản lý bằng báo cáo thủ công sang quản lý bằng dữ liệu, cảnh báo và trách nhiệm giải trình.
Cùng với đó, chuyển đổi số phải đi đôi với bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu tư pháp. Dữ liệu của Tòa án là dữ liệu đặc biệt quan trọng, liên quan đến quyền con người, quyền công dân, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, bí mật Nhà nước, hoạt động tố tụng và an ninh pháp lý. Do đó, hiện đại hóa phải đi cùng an toàn; kết nối phải đi cùng kiểm soát; tiện ích phải đi cùng bảo mật.
Đặc biệt, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và sự phát triển phát triển của công nghệ, bảo vệ liêm chính tư pháp còn bao gồm bảo vệ sự thật tố tụng trên không gian số. Thông tư số 11/2026/TT-TANDTC ngày 30/5/2026 của Chánh án TANDTC về bảo vệ Tòa án nhân dân cho thấy tư duy bảo vệ Tòa án đã được mở rộng từ trụ sở, phiên tòa, hồ sơ, chứng cứ, Thẩm phán, Hội đồng xét xử sang cả an ninh mạng, an toàn thông tin và hệ thống thông tin của Tòa án. Nghiêm cấm hành vi dùng trí tuệ nhân tạo, công nghệ số để giả mạo, xuyên tạc dữ liệu, tài liệu, hình ảnh, âm thanh, giọng nói, video hoặc diễn biến phiên tòa là yêu cầu rất mới, rất cần thiết để bảo vệ sự thật khách quan, bảo vệ uy tín Tòa án và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong môi trường số.
Như vậy, chuyển đổi số trong Tòa án phải được triển khai trên hai trụ cột: đổi mới quản trị và bảo vệ dữ liệu. Nếu quản trị số giúp phát hiện sớm chậm trễ, sai sót, quá hạn, tồn đọng, thì an ninh số giúp bảo vệ hồ sơ, chứng cứ, dữ liệu xét xử và sự tôn nghiêm của phiên tòa trước các nguy cơ giả mạo, xuyên tạc, thao túng thông tin. Hai trụ cột này bổ sung cho nhau, tạo nền tảng cho một nền tư pháp vừa hiện đại, vừa liêm chính, vừa an toàn.
8. Công khai, minh bạch để củng cố niềm tin xã hội
Liêm chính tư pháp không thể tách rời công khai, minh bạch. Tòa án càng công khai, minh bạch thì càng giảm nguy cơ tùy tiện, tiêu cực, can thiệp trái pháp luật và những nghi ngờ không đáng có trong xã hội. Công khai, minh bạch vừa là yêu cầu quản trị nội bộ, vừa là phương thức để Nhân dân giám sát hoạt động tư pháp.
Công khai lịch xét xử, công khai bản án, quyết định theo quy định, thông tin kịp thời về những vụ án lớn, những vấn đề dư luận quan tâm, giải thích đúng đắn về hoạt động xét xử là nhiệm vụ cần tiếp tục được thực hiện nghiêm túc. Trong bối cảnh thông tin lan truyền nhanh, nếu Tòa án chậm cung cấp thông tin chính thống, khoảng trống thông tin có thể bị lấp đầy bởi suy diễn, tin đồn, thông tin sai lệch, thậm chí xuyên tạc. Vì vậy, công tác truyền thông của Tòa án phải chủ động, chính xác, chuẩn mực, kịp thời và có trách nhiệm.
Tuy nhiên, công khai phải đúng pháp luật, đúng phạm vi, đúng thời điểm, đúng thẩm quyền. Công khai không có nghĩa là công bố mọi thứ một cách cơ học. Tòa án phải bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân, đồng thời, bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Công khai phải góp phần làm cho công lý được nhìn thấy rõ hơn, nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân hoặc sự độc lập của hoạt động xét xử.
Một bản án đúng cần được xã hội hiểu đúng. Một phiên tòa nghiêm túc cần được truyền thông đúng. Một chủ trương cải cách đúng cần được giải thích rõ. Vì vậy, truyền thông tư pháp không phải là việc bên ngoài hoạt động xét xử, mà là một bộ phận quan trọng trong xây dựng niềm tin của Nhân dân đối với Tòa án.
Trong điều kiện truyền thông xã hội phát triển mạnh, một yêu cầu mới đặt ra là Tòa án phải chủ động hơn trong giải thích chính sách tư pháp, truyền thông về cải cách, cung cấp thông tin chính thống đối với các vụ án lớn, phức tạp, được dư luận quan tâm. Sự im lặng hoặc chậm trễ trong thông tin có thể tạo ra khoảng trống để tin giả, suy diễn, xuyên tạc phát sinh. Ngược lại, thông tin kịp thời, chuẩn mực, có căn cứ pháp luật sẽ giúp xã hội hiểu đúng hơn về hoạt động xét xử, đồng thời, bảo vệ sự độc lập, khách quan của Tòa án trước áp lực dư luận.
9. Đổi mới tổ chức bộ máy để phục vụ Nhân dân tốt hơn
Cải cách tổ chức bộ máy là nhiệm vụ lớn, khó, tác động đến thẩm quyền, nhân sự, địa bàn, điều kiện làm việc, cơ sở vật chất và tâm tư của cán bộ. Nhưng nếu bộ máy không hợp lý, phân công không rõ, nguồn lực phân tán, trách nhiệm chồng chéo, thì chất lượng xét xử và hiệu quả phục vụ Nhân dân sẽ bị ảnh hưởng.
Việc sơ kết mô hình Tòa án 3 cấp gắn với vận hành bộ máy chính quyền 3 cấp đã được tiến hành nghiêm túc, khoa học, thực chất, đánh giá đúng kết quả đạt được, chỉ ra hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân chủ quan, khách quan và bài học kinh nghiệm, để từ đó tiếp tục rà soát, nghiên cứu, đổi mới tổ chức bộ máy, khắc phục những điểm “nghẽn”, những nơi còn giao thoa, chồng chéo nhiệm vụ. Mục tiêu cuối cùng của đổi mới tổ chức bộ máy không phải đơn thuần là thay đổi sơ đồ tổ chức, mà là nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Người dân không quan tâm nhiều đến cách phân tầng quản lý nội bộ; điều người dân cần là vụ án được giải quyết đúng pháp luật, đúng thời hạn, thủ tục rõ ràng, thái độ phục vụ chuẩn mực, bản án công bằng và có thể thi hành. Vì vậy, mọi sắp xếp, điều chỉnh, phân công, phân cấp, bố trí nguồn lực đều phải hướng đến mục tiêu đó.
Trong quá trình vận hành mô hình mới, cần thường xuyên rà soát tính đồng bộ mô hình tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, tiến độ chuyển đổi số, phần mềm quản lý, giám sát, thống kê, cũng như các điều kiện về trụ sở, cơ sở vật chất, tài sản công và chính sách đối với cán bộ bị ảnh hưởng bởi sắp xếp tổ chức. Cách tiếp cận này cho thấy đổi mới tổ chức bộ máy không thể tách rời con người, hạ tầng, dữ liệu và điều kiện làm việc. Bộ máy tinh gọn chỉ có ý nghĩa khi đi cùng phân công rõ, dữ liệu rõ, trách nhiệm rõ và điều kiện thực thi phù hợp.
Kết luận
Một là, liêm chính phải trở thành văn hóa hành động của hệ thống Tòa án.
Xây dựng nền tư pháp liêm chính là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, phương pháp đúng, hành động đồng bộ và sự kiên trì của toàn hệ thống. Nhưng đây là con đường bắt buộc phải đi. Không có liêm chính thì không thể có công lý. Không có công lý thì không thể có niềm tin. Không có niềm tin thì pháp luật khó đi vào đời sống một cách bền vững.
Liêm chính tư pháp không nằm ở những điều xa xôi. Liêm chính bắt đầu từ một hồ sơ được xử lý đúng hạn, một phiên tòa được tổ chức nghiêm túc, một bản án được viết chặt chẽ, một quyết định được ban hành đúng pháp luật, một thái độ tiếp dân chuẩn mực, một cán bộ làm đúng được bảo vệ, một hành vi tiêu cực bị ngăn chặn, một sai phạm bị xử lý nghiêm.
Mỗi Tòa án, mỗi đơn vị, mỗi Thẩm phán, mỗi cán bộ phải tự đặt mình trước những câu hỏi rất cụ thể: việc làm hôm nay có góp phần bảo vệ công lý hay không; có làm tăng niềm tin của Nhân dân vào Tòa án hay không; có đúng với danh dự của người cán bộ Tòa án hay không; có xứng đáng với trách nhiệm được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó hay không.
Hai là, từ kỷ cương nội bộ đến niềm tin của Nhân dân.
Trong thời gian tới, toàn hệ thống Tòa án phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nhưng đổi mới phải đi vào thực chất. Công tác lãnh đạo Đảng phải được tăng cường hơn. Công tác chuyên môn phải sâu hơn. Công tác giải quyết án phải đúng hạn, đúng chất lượng hơn. Công tác cán bộ phải nghiêm minh hơn. Công khai, minh bạch phải chủ động hơn. Chuyển đổi số phải hiệu quả hơn. Trách nhiệm người đứng đầu phải rõ hơn. Kỷ luật công vụ phải nghiêm hơn.
Từ một đợt thi đua 90 ngày đến công tác đánh giá hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng quản trị trong Tòa án phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới theo Chỉ thị số 02-CT/ĐU và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm trong Nghị quyết số 08-NQ/ĐU có điểm chung của chỉ đạo, điều hành rất rõ là không để công việc trôi theo quán tính; không để khó khăn trở thành lý do của sự trì trệ; không để phong trào dừng ở khẩu hiệu; không để chuyển đổi số chỉ là hình thức; không để trách nhiệm tập thể che mờ trách nhiệm cá nhân; không để nể nang, né tránh, cào bằng trong công tác đánh giá cán bộ. Kỷ cương chỉ có ý nghĩa khi được đo bằng kết quả cụ thể, bằng thời hạn cụ thể và bằng chuyển biến cụ thể trong từng đơn vị, cá nhân.
Từ thực tiễn chỉ đạo, điều hành thời gian qua có thể rút ra một thông điệp xuyên suốt: liêm chính tư pháp phải được tổ chức thành hệ thống quản trị. Hệ thống đó bắt đầu từ sự lãnh đạo của Đảng, được cụ thể hóa bằng trách nhiệm người đứng đầu, được vận hành bằng quy trình công vụ, được đo lường bằng dữ liệu, được bảo đảm bằng công khai, minh bạch, được nâng đỡ bằng chuyển đổi số và được kiểm soát bằng kỷ luật, kỷ cương. Khi liêm chính trở thành phương thức quản trị hằng ngày, niềm tin của Nhân dân không chỉ được kêu gọi, mà được bồi đắp bằng kết quả thực tế.
Có cơ sở tin tưởng rằng, với truyền thống vẻ vang của hệ thống Tòa án, với sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Nhân dân, sự phối hợp của các cơ quan trong hệ thống chính trị và sự nỗ lực của toàn thể đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, công chức, viên chức, người lao động Tòa án, nền tư pháp Việt Nam sẽ ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại hơn, gần dân và phụng sự Nhân dân tốt hơn.
Liêm chính tư pháp không chỉ là mục tiêu, mà phải là phương châm hành động hằng ngày. Từ kỷ cương trong Đảng đến kỷ luật công vụ; từ chất lượng từng bản án đến trách nhiệm từng cán bộ; từ đổi mới tổ chức bộ máy đến chuyển đổi số; từ công khai, minh bạch đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân - tất cả phải cùng hướng tới một điểm chung: xây dựng hệ thống Tòa án thật sự là biểu tượng của công lý, lẽ phải, niềm tin và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.
(1) 10 án lệ được công bố theo Quyết định số 339/QĐ-CA ngày 25/12/2025 của Chánh án TANDTC và 08 án lệ được công bố theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29/5/2026 của Chánh án TANDTC.
(2) Vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á và nhiều cơ quan, đơn vị trên cả nước, liên quan đến hành vi nâng khống giá bộ xét nghiệm Covid-19, chi tiền hoa hồng cho nhiều cán bộ để được ưu ái trong việc mua sắm, gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước.
(3) Vụ án liên quan đến việc tổ chức các chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Nhiều cán bộ tại các bộ, ngành và địa phương bị xác định đã nhận hối lộ hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấp phép, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tổ chức các chuyến bay nhằm trục lợi.
(4) Vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và các tổ chức, đơn vị có liên quan, bao gồm Ngân hàng SCB và các công ty phát hành trái phiếu. Đây là một trong những đại án kinh tế lớn nhất tại Việt Nam, với các hành vi bị truy tố như tham ô, nhận hối lộ, vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng và phát hành trái phiếu… gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho nhiều tổ chức, cá nhân và thị trường tài chính.
(5) Vụ án liên quan đến việc Tập đoàn Tân Hoàng Minh và một số công ty thành viên bị xác định có hành vi gian dối trong phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, nhằm huy động vốn trái quy định, dẫn đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của hàng nghìn nhà đầu tư với số tiền đặc biệt lớn.
(6) Nền tảng quản lý án toàn trình được TANDTC xây dựng nhằm chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ theo quy định; hỗ trợ cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; thực hiện số hóa dữ liệu ngay từ khi phát sinh; quản lý tập trung toàn bộ vòng đời của vụ việc, vụ án và hồ sơ điện tử; đồng thời nâng cao chất lượng công tác quản lý, điều hành, báo cáo và thống kê.
Bài liên quan
-
Đề xuất tăng phụ cấp chức vụ đối với lãnh đạo, quản lý ngành Tòa án nhân dân
-
Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án trong bối cảnh chuyển đổi số của Tòa án nhân dân - Thực trạng và giải pháp
-
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự gắn với chuyển đổi số, xây dựng Tòa án điện tử
-
Có được chuyển vụ, việc dân sự đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý trước ngày 01/7/2025 cho Tòa án nhân dân khu vực tiếp tục giải quyết hay không?
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
-
12 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển 2026-2030
-
Bàn về việc kiểm soát thiết bị điện tử tại phiên tòa - Một số giải pháp nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn
-
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có vô hiệu không?
-
Bàn về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật
Bình luận