Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường…
Nghiên cứu bài viết: Về tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 của tác giả Đinh Thị Ngọc Bích đăng ngày 25/8/2022, tôi cho rằng Viện kiểm sát kháng nghị không có cơ sở.
Theo nội dung bài viết, tôi cho rằng Viện kiểm sát kháng nghị với lý do L nộp 10 triệu đồng để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho M và N phải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là không có cơ sở để áp dụng bởi lẽ:
BLHS năm 2015 thay thế BLHS năm 1999, về cơ bản nội dung quy định về điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 và điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 không có sửa đổi, bổ sung và hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn mới về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; tinh thần Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật về tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”, cụ thể tại mục 1.1, mục 1.2 thì việc bị cáo L nộp 10 triệu đồng là để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thay cho hành vi phạm tội của M và N gây ra (tội trộm cắp tài sản) chứ không phải để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo L gây ra (tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có).
Theo đó, trong trường hợp bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hay trong trường hợp bị cáo không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nhưng đã tự nguyện hoặc tích cực tác động cha mẹ hoặc người khác bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và cả trong trường hợp cha mẹ hoặc người khác bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả không có sự tác động, đề nghị của bị cáo. Nhưng thiệt hại, hậu quả được bị cáo, cha mẹ hoặc người khác bồi thường, khắc phục là phải do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Chính vì những lý do trên, tôi không đồng tình cả hai quan điểm mà tác giả đã nêu, trong trường hợp này, không có đủ căn cứ để áp dụng cho bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS và không đủ điều kiện để áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS.
Tòa án huyện Đại Lộc, Quảng Nam xét xử vụ án Mua bán trái phép chất ma túy- Ảnh: Rơ Nướch Rè
Bài liên quan
-
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch trên không gian mạng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
-
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do máy bay không người lái gây ra ở Việt Nam: Tiếp cận từ học thuyết về nguồn nguy hiểm cao độ và định hướng hoàn thiện pháp luật
-
Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
-
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Người bị thiệt hại được quyền lựa chọn cơ quan giải quyết
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Tòa án nhân dân tối cao triển khai Kế hoạch hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031
-
Quyền được lắng nghe của bị hại trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và gợi mở cho Việt Nam
-
Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng tiếp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam
-
Nâng cao chất lượng xét xử, gắn kết quả công tác với trách nhiệm người đứng đầu
-
Sửa đổi đồng bộ ba luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển
Bình luận