Quy định mới về biện pháp tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Ngày 30 tháng 6 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 257/2026/NĐ-CP quy định biện pháp tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Nghị định gồm 05 Chương với 18 Điều quy định biện pháp tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại khoản 4 Điều 136 Luật Thi hành án hình sự, bao gồm các quy định sau:
- Quy định đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh (sau đây gọi là cơ sở điều trị bắt buộc).
- Quy định về nội dung, biện pháp quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
- Quy định về kinh phí bảo đảm cho việc quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Về đối tượng áp dụng, Nghị định áp dụng cho 02 đối tượng sau đây:
Một là, người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Hai là, cơ sở điều trị bắt buộc, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan điều tra, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Về kinh phí bảo đảm cho việc quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, Nghị định quy định: Kinh phí bảo đảm cho việc quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành, bao gồm:
Thứ nhất, kinh phí đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất khu điều trị nội trú người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Thứ hai, kinh phí thanh toán theo hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo vệ trong trường hợp cơ sở điều trị bắt buộc ký hợp đồng với cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ theo quy định của pháp luật; chỉ phí đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho nhân viên bảo vệ do cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, kinh phí tập huấn, đào tạo nghiệp vụ bảo vệ theo quy định của pháp luật đối với lực lượng bảo vệ thuộc biên chế, hợp đồng lao động của cơ sở điều trị bắt buộc. Thứ tư, kinh phí cho hoạt động tập huấn, phổ biến, hướng dẫn quy trình phối hợp, nội quy, yêu cầu đặc thù về quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và các nội dung phục vụ trực tiếp công tác bảo đảm an ninh, an toàn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Thứ năm, kinh phí mua sắm công cụ hỗ trợ là tài sản của cơ sở điều trị bắt buộc để trang bị, phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, quản lý người bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
Thứ sáu, kinh phí phục vụ việc truy tìm của cơ sở điều trị bắt buộc đối với người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn, trong thời hạn 03 ngày kể từ khi cơ sở điều trị bắt buộc phát hiện việc bỏ trốn.
Thứ bảy, kinh phí phục vụ việc chuyển người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm: Chi phí sử dụng phương tiện vận chuyển; chi phí xăng dầu, cầu đường, bến bãi (nếu có); chi phí cho người tham gia vận chuyển, giám sát, bảo vệ trong quá trình đưa đón và các chi phí hợp pháp khác phát sinh trực tiếp phục vụ việc chuyển người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Nghị định cũng quy định về các yêu cầu cụ thể đối với cơ sở điều trị bắt buộc gồm:
- Quy định về hình thức tổ chức của cơ sở điều trị bắt buộc (Điều 4);
- Quy định về cơ sở vật chất (Điều 5);
- Quy định về kiểm soát an ninh (Điều 6).
Tại Chương III Nghị định ghi nhận về nội dung, biện pháp và quy định phối hợp trong tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh như:
- Về tiếp nhận bàn giao, phân loại người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh vào cơ sở điều trị bắt buộc. (Điều 7).
- Quy định về quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại cơ sở điều trị bắt buộc. (Điều 8).
- Phối hợp quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp phải chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để khám bệnh, chữa bệnh không thuộc chuyên khoa tâm thần (sau đây gọi là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh). (Điều 9).
- Phối hợp quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp đã có quyết định đình chỉ hoặc quyết định hủy bỏ biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. (Điều 10).
- Phối hợp quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh với người thân thích theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự. (Điều 11).
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện của các chủ thể có thẩm quyền tại Chương IV.
Về hiệu lực thi hành: Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Điều 9, Điều 14 Nghị định số 64/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ quy định biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Ngoài ra, Nghị định còn dành riêng một Điều quy định về điều khoản chuyển tiếp (Điều 18), theo đó:
- Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang thực hiện tiếp nhận, điều trị người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trước ngày Nghị định này có hiệu lực, gồm: Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2, Viện Pháp y tâm thần Trung ương, Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa và Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng tiếp tục thực hiện việc tiếp nhận, điều trị và quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
- Trong thời gian chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Chương II của Nghị định này, các cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm:
+) Tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý, bảo đảm an ninh, an toàn phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị;
+) Xây dựng kế hoạch, lộ trình hoàn thiện các điều kiện còn thiếu theo quy định của Nghị định này;
+) Tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt và chịu sự kiểm tra, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình thực hiện.
- Các cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này phải hoàn thành việc đáp ứng các điều kiện quy định tại Chương II của Nghị định này trước ngày 01 tháng 01 năm 2028 đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo và trước ngày 01 tháng 01 năm 2030 đối với trường hợp đầu tư xây dựng mới.
Ảnh minh họa: nguồn Internet
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Người nam có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay không?
-
Bộ Tư pháp hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
-
Lần đầu tiên có thẩm phán tại Tòa án Luật Biển Quốc tế (ITLOS) là người Việt Nam
-
Xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự
-
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Văn phòng Chủ tịch nước
Bình luận