Quy định mới về chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù và một số lưu ý khi áp dụng vào thực tiễn
Ngày 16/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Bài viết phân tích, làm rõ một số quy định mới, đồng thời đưa ra lưu ý khi áp dụng vào thực tiễn.
1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn lịch sử khác nhau luôn quan tâm đến việc ban hành, triển khai thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù, nhằm giúp cho người chấp hành xong án phạt tù có nhiều cơ hội, điều kiện để sớm hòa nhập cộng đồng, tham gia vào phát triển sản xuất, đóng góp tích cực cho xã hội. Một trong những chính sách được triển khai và mang lại hiệu quả trong thời gian qua là chính sách về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù. Để cụ thể hóa các quy định về chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, bảo đảm hiệu quả trong áp dụng và phù hợp hơn với tình hình thức tiễn hiện nay, Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg ra đời với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2026. So sánh với quy định tại Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg thì Quyết định này có một số sửa đổi, điều chỉnh để bảo đảm tính cụ thể, rõ ràng, thống nhất trong áp dụng.
2. Một số quy định mới và lưu ý khi áp dụng vào thực tiễn
2.1. Quy định cụ thể hơn về phạm vi điều chỉnh
Nghiên cứu quy định tại Điều 1 Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg thì thấy, nội dung về phạm vi điều chỉnh chỉ ghi nhận một cách chung chung là:
“Quyết định này quy định về chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao động là người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đào tạo nghề và sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm.”.
Để làm rõ hơn nội dung này, tại khoản 1 Điều 1 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg, nội dung này đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ ràng hơn về phạm vi áp dụng, cụ thể như sau:
“Quyết định này quy định về chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao động là người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, bao gồm:
1. Người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn để đào tạo nghề, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
2. Cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao động là người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm.”
Như vậy, với quy định mới này, điều luật giải thích cụ thể phạm vi chính sách tài chính được áp dụng đối tượng áp dụng gồm người chấp hành xong án phạt tù và cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao độngngười chấp hành xong án phạt tù là để đào tạo nghề, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Như vậy, phạm vi điều chỉnh được xác định một cách cụ thể, rõ ràng hơn trước đây, theo đó, chính sách tài chính áp dụng cho nhóm đối tượng nêu trên chi trong phạm vi những hoạt động được liệt kê tại điều luật.
2.2. Về điều kiện vay vốn
Quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 sửa đổi, bổ sung cụ thể hơn điều kiện vay vốn đối với người chấp hành xong án phạt tù, còn điều kiện vay vốn áp dụng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng người lao động là người chấp hành xong án phạt tù được giữ nguyên.
Theo đó, người chấp hành xong án phạt tù phải đáp ứng các điều kiện vay vốn cụ thể như sau:
- Có nhu cầu vay vốn;
- Có tên trong danh sách người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không tham gia các tệ nạn xã hội, do Công an cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận theo Mẫu số 01 kèm theo Quyết định này. Thời gian kể từ khi chấp hành xong án phạt tù đến thời điểm vay vốn tối đa là 10 năm. Trường hợp vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người chấp hành xong án phạt tù đã ký kết hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Như vậy, so với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg thì quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg quy định thời gian kể từ khi chấp hành xong án phạt tù đến thời điểm vay vốn tối đa là 10 năm; tức là dài hơn so với quy định trước đây là 05 năm. Điều này là có lợi cho người chấp hành án phạt tù khi xác định điều kiện vay vốn.
Đồng thời, điều luật còn bổ sung thêm trường hợp vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người chấp hành xong án phạt tù đã ký kết hợp đồng với doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật. Đây là bổ sung mới, bảo đảm mở rộng và phù hợp hơn với tình hình thực tiễn hiện nay, tạo điều kiện tốt hơn cho người chấp hành xong án phạt tù có cơ hội tiếp cận vốn vay để thực heienj việc đi lao động tại nước ngoài.
Một lưu ý hết sức quan trọng để tránh nhầm lẫn, đó là Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg đã sửa đổi Mẫu số 01, do đó, khi áp dụng vào thực tiễn, các chủ thể cso liên quan cần áp dụng đúng mẫu mới được ban hành để bảo đảm tính chính xác.
2.3. Về phương thức cho vay đối với người chấp hành xong án phạt tù
So sánh quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg và quy định tại khoản 3 Điều 1 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg thì thấy, có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể, đối với việc thực hiện phương thức cho vay thông qua hộ gia đình, điều khoản sửa đổi, bổ sung quy định rõ: Đại diện hộ gia đình của người chấp hành xong án phạt tù là người đứng tên vay vốn và giao dịch với Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường hợp trong hộ gia đình không còn thành viên nào từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc thành viên còn lại không còn sức lao động, không có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật thì người chấp hành xong án phạt tù trực tiếp đứng tên vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
Riêng đối với người chấp hành xong án phạt tù là người lao động vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng phương thức cho vay trực tiếp đến khách hàng.
Như vậy, so với quy định trước đây, quy định mới ghi nhận cụ thể trường hợp cho vay vốn để người chấp hành xong án phạt tù đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đăc biệt, điều luật quy định, trường hợp này Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay trực tiếp khách hàng là người chấp hành xong án phạt tù. Đây là quy định mới, có lợi hơn cho người chấp hành xong án phạt tù.
Đồng thời, để làm rõ hơn quy định mới này, khoản 4 Điều 1 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg cũng quy định Bổ sung khoản 3 Điều 5 như sau:
“3. Đối với vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động
Chi trả các khoản chi phí khách hàng phải trả trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo quy định được ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký kết giữa khách hàng và doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp được Nhà nước cho phép đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”.
2.4. Về mức vốn vay,
Quy định tại khoản 5 Điều 1 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 6 Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg theo hướng tăng mức vốn vay, cụ thể:
- Đối với vay vốn để đào tạo nghề: Mức vốn cho vay tối đa là 10 triệu đồng/tháng/người chấp hành xong án phạt tù.
- Đối với vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm:
+ Người chấp hành xong án phạt tù: Mức vốn cho vay tối đa là 200 triệu/người chấp hành xong án phạt tù;
+ Cơ sở sản xuất kinh doanh: Mức vốn cho vay tối đa là 10 tỷ đồng/dự án và không quá 200 triệu đồng/người lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh;
+ Người chấp hành xong án phạt tù, cơ sở sản xuất kinh doanh có thể vay vốn một hoặc nhiều lần để sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm nhưng tổng số tiền vay không vượt quá mức vay tối đa theo quy định tại điểm a và b khoản này”.
- Đối với vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Mức cho vay tối đa là 100% tổng chi phí khách hàng phải trả trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ, đơn vị sự nghiệp, không bao gồm các khoản chi đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo quy định.
Căn cứ vào nguồn vốn, tổng chi phí người lao động phải trả trước khi đi làm việc ở nước ngoài, các khoản chi đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ kê khai tại hồ sơ vay vốn và khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn, Ngân hàng Chính sách xã hội thỏa thuận, thống nhất với đối tượng vay vốn để xem xét, quyết định mức vay cụ thể.
Như vậy, việc điều chỉnh mức vốn vay theo hướng tăng lên bảo đảm phù hợp với thực tiễn cuộc sống hiện nay, tạo điều kiện cho người chấp hành xong án phạt tù có điều kiện về vốn vay để thực hiện các công việc, hoạt động sản xuất, kinh doanh, lao động tốt hơn, đóng góp cho xã hội nhiều hơn.
2.5. Về thời hạn cho vay
Quy định đối với nhóm đối tượng là vay vốn để đào tạo nghề; vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm được giữ nguyên, tuy nhiên, đối với vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được bổ sung tại Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg như sau:
“3. Đối với vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Thời hạn cho vay tối đa bằng thời hạn hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, không bao gồm thời gian gia hạn hợp đồng”.
2.6. Về bảo đảm tiền vay
Khoản 7 Điều 1 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg quy định tăng mức tiền vay khi có yêu cầu phải bảo đảm tiền vay so với quy định trước đây, cụ thể:
“2. Đối với mức vay trên 200 triệu đồng, người chấp hành xong án phạt tù vay vốn để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng lao động là người chấp hành xong án phạt tù phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật và Ngân hàng Chính sách xã hội về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.
Như vậy, theo quy định này, với mức tiền vay trên 200 triệu đồng thì mới phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong khi trước đây quy định với mức vay 100 triệu đồng đã phải thực hiện bảo đảm tiền vay.
Đây là một quy định mới, bảo đảm tốt hơn việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù.
Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền lợi tốt nhất về chính sách tín dụng cho người chấp hành xong án phạt tù, Điều 2 Quyết định số 44/2026/QĐ-TTg quy định:
- Khách hàng vay vốn đã ký hợp đồng tín dụng theo Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg trước ngày Quyết định này có hiệu lực thì các bên tiếp tục thực hiện theo các nội dung quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký.
- Trường hợp khách hàng vay vốn đã được vay vốn theo Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg nếu đủ điều kiện, có nhu cầu thì tiếp tục được vay vốn với mức vốn cho vay theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Quyết định này.
3. Kết luận
Từ ngày 20 tháng 11 năm 2026, một số quy định sửa đổi, bổ sung về chính sách tín.dụng cho người chấp hành xong án phạt tù sẽ được áp dụng. Những quy định mới này mở ra điều kiện thuận lợi hơn, tạo ra nhiều cơ hội cho nhóm đối tượng này tái hòa nhập cộng đồng, bảo đảm điều kiện sống sau khi chấp hành xong án phạt tù. Việc ghi nhận một số quy định mới, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định cũ theo hướng quy định rõ ràng, cụ thể hơn giúp việc hiểu và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15.
2. Nghị định số 247/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thi hành án hình sự về công tác tái hòa nhập cộng đồng.
3. Quyết định số 22/2023/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người chấp hành xong án phạt tù.
Ảnh minh họa: Tòa án nhân tỉnh Quảng Trị xét xử vụ vận chuyển trái phép chất ma túy
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Những điểm mới của dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự
-
Đồng Nai: Tổ chức phiên tòa giả định tuyên truyền pháp luật về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
-
Quán triệt, triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị trong Tòa án nhân dân
-
Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quy định về một số chế độ, chính sách hỗ trợ đối với công chức được biệt phái
-
Thông tư 16/2026/TT-TANDTC: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin
Bình luận