Quy định về Luật sư công và một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

Luật sư công là chế định hoàn toàn mới, lần đầu được ghi nhận tạị Nghị quyết số 24/2026/QH16 của Quốc Hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Nghị quyết này gồm 12 Điều, chính thức có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 10 năm 2026 và được thực hiện đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2028 . Bài viết này, tác giả tập trung phân tích một số vấn đề cơ bản về chế định Luật sư công trên cơ sở so sánh, đối chiếu với quy định tương ứng của Luật sư theo Luật Luật sư, đồng thời chỉ rõ một số nội dung cần lưu ý khi áp dụng.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm một nền tư pháp minh bạch, công bằng và hiệu quả trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân ngày càng trở thành yêu cầu có tính tất yếu. Bên cạnh đội ngũ luật sư hoạt động theo cơ chế thị trường, cung cấp dịch vụ tư vấn và tranh tụng theo nhu cầu của xã hội, việc nghiên cứu, xây dựng, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm chế định luật sư công nhằm nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và cuộc cách mạng về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc hình thành và phát triển mô hình này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận trong việc hoàn thiện hệ thống thiết chế pháp mà còn có giá trị thực tiễn trong việc nâng cao khả năng tiếp cận công lý và bảo đảm sự công bằng trong hoạt động tư pháp.

2. Khái niệm Luật sư công và phân biệt với Luật sư trong quy định của Luật Luật sư

Luật sư công là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam và khái niệm Luật sư công khác với khái niệm Luật sư được ghi nhận trong Luật Luật sư. Theo đó, để có sự thống nhất về nhận thức và áp dụng, Nghị quyết số 24/2026/QH16 của Quốc Hội đã quy định rõ khái niệm Luật sư công như sau:

“Luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước mà đại diện chủ sở hữu là cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Nghị quyết này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.[1]

Trong Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012, năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật Luật sư) quy định khái niệm Luật sư như sau: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)”.[2]

Như vậy, khái niệm Luật sư công và Luật sư trong Luật Luật sư có sự phân biệt ở một số điểm sau:

Một là, về đối tượng, Luật sư công chỉ có thể là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước mà đại diện chủ sở hữu là cơ quan. Luật sư theo quy định của Luật Luật sư chỉ cần là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư[3].

Hai là, về phạm vi hoạt động, Luật sư công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước, còn Luật sư theo Luật Luật sư thì thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) (không thuộc phạm vi công lập).

Để hiểu rõ hơn về Luật sư công, Nghị quyết số 24/2026/QH16 cũng quy định rõ khái niệm khu vực nhà nước để xác định cụ thể phạm vi hoạt động của Luật sư công, cụ thể:

“Khu vực nhà nước là các cơ quan, tổ chức trực thuộc Bộ, địa phương quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này, bao gồm: các cơ quan nhà nước; đơn vị lực lượng vũ trang; tổ chức do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động và doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.”.

3. Quy định về tiêu chuẩn đối với Luật sư công

Đây cũng là quy định mới và có nội dung khác với quy định về tiêu chuẩn của Luật sư trong Luật Luật sư. Cụ thể, Nghị quyết số 24/2026/QH16 quy định:

Người muốn trở thành luật sư công phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

- Là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước;

- Có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính;

- Có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư;

- Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.[4]

Tiêu chuẩn của Luật sư theo Luật Luật sư quy định: Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Nội dung này được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 137/2018/NĐ-CP ngày 08/10/20218 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư.

Như vậy, tiêu chuẩn của Luật sư công là khá cao, trong đó, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư thì còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể nêu trên.

Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành thì thấy, quy định về tiêu chuẩn “Có … đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính” đối với Luật sư công dường như tương ứng với quy định về tiêu chuẩn “có phẩm chất đạo đức tốt” trong quy định về tiêu chuẩn Luật sự theo Luật Luật sư. Như vậy, ở đây có sự trùng lặp và việc ghi nhận này là không cần thiết.

Do đó, để bảo đảm việc áp dụng trong thực tế được hiệu quả, thống nhất, tác giả kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này để bảo đảm việc áp dụng quy định về Luật sư công từ ngày 01/10/2026 được thống nhất và hiệu quả. Tác giả kiến nghị, nội dung yêu cầu đối với tiêu chuẩn của Luật sư công tại Nghị quyết số 24/2026/QH16 cần được giải thích, hướng dẫn theo hướng xác định tiêu chuẩn về đạo đức, nghề nghiệp trong sáng, liêm chính gồm các tiêu chí xác định giống quy định về tiêu chuẩn của Luật sư trong Luật Luật sư.

4. Về chế độ, chính sách đối với Luật sư công

Điều 10 Nghị quyết số 24/2026/QH16 quy định:

“Chế độ, chính sách đối với luật sư công

1. Ngoài chế độ tiền lương theo quy định của pháp luật, luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng và các chế độ, chính sách khác tương tự như đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang có vị trí việc làm xây dựng pháp luật, pháp chế theo quy định của Nghị quyết số 197/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Trường hợp luật sư công được hưởng đồng thời nhiều chính sách hỗ trợ hằng tháng thì chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ cao nhất.

2. Luật sư công khi tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý được hưởng bồi dưỡng theo vụ, việc. Mức chi bồi dưỡng trả cho 01 buổi làm việc là 0,5 lần mức lương cơ sở.

3. Khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng theo vụ, việc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Thu nhập từ công việc của luật sư công theo quy định tại Nghị quyết này được miễn thuế thu nhập cá nhân và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.

4. Luật sư công được Nhà nước chi trả các khoản phí liên quan đến gia nhập, duy trì tư cách thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, được bảo đảm trang thiết bị, phương tiện làm việc để thực hiện nhiệm vụ được giao.

5. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng khoản 1 Điều này đối với luật sư công là người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; quy định chi tiết về chế độ, chính sách, kinh phí bảo đảm cho hoạt động của luật sư công.”

Như vậy, theo quy định của Điều luật, thì Luật sư công khi tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý thì được “hưởng bồi dưỡng theo vụ, việc”. Mức chi bồi dưỡng trả cho 01 buổi làm việc là 0,5 lần mức lương cơ sở.

So sánh với chế độ, chính sách cho Luật sư theo quy định của Luật Luật sư thì thấy, Điều 54 Luật Luật sư quy định: Khách hàng phải trả thù lao khi sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư. Việc nhận thù lao được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.”. Nội dung Điều luật này được hướng dẫn chi tiết tại Điều 18 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư như sau:

“1. Mức thù lao luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự do khách hàng và văn phòng luật sư, công ty luật thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 55 của Luật luật sư và được tính theo giờ hoặc tính trọn gói theo vụ việc, nhưng mức cao nhất cho 01 giờ làm việc của luật sư không được vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định.

Thời gian làm việc của luật sư do luật sư và khách hàng thỏa thuận.

…”.

Như vậy, với quy định nêu trên cho thấy có sự chênh lệch về mức thù lao giữa Luật sư công và Luật sư theo quy định của Luật Luật sư. Theo đó, mức thù lao cho 01 giờ làm việc của Luật sư theo quy định của Luật Luật sư là không được vượt quá 0.3 lần mức lương cơ sở, nhưng đối với Luật sư công thì mức chi bồi dưỡng cho cả 01 buổi làm việc mới chỉ là 0,5 lần mức lương cơ sở.

Điều này có thể được lý giải là do Luật sư công đã được hưởng chế độ tiền lương theo quy định, do đó, mức thù lao khi làm Luật sư công chỉ là khoản “bồi dưỡng” thêm nên mức tiền này được quy định thấp hơn khá nhiều so với Luật sư theo quy định của Luật Luật sư.

Tuy nhiên, tác giả cho rằng, việc trả thù lao/chế độ bồi dưỡng cho Luật sư công cần đánh giá dựa trên bản chất công việc mà Luật sư công thực hiện.

Có thể thấy, phạm vi công việc của Luật sư công và Luật sư theo Luật Luật sư không có sự khác nhau khi tham gia giải quyết vụ, việc; bên cạnh đó, như phân tích ở trên, tiêu chuẩn quy định cho Luật sư công là khá cao. Cụ thể, khi tham gia giải quyết một vụ, việc thì vai trò công việc lúc này của Luật sư công là độc lập với công việc đang đảm trách, công sức đóng góp để giải quyết một vụ, việc cũng tương tự như một Luật sư theo Luật Luật sư. Tuy nhiên, việc họ chỉ được hưởng chế độ bồi dưỡng có thể làm cho khả năng cống hiến, trách nhiệm với công việc của họ không thực sự cao, … Do đó, tác giả cho rằng, cần sớm nghiên cứu điều chỉnh quy định về chế độ, chính sách với Luật sư công.

Tác giả cho rằng, việc điều chỉnh cần theo hướng phù hợp với mức thù lao mà Luật sư theo quy định của Luật Luật sư có thể được hưởng khi tham gia giải quyết vụ, việc tương tự. Đồng thời, nên mở rộng theo hướng Luật sư công có thể thỏa thuận về mức thù lao mình được hưởng khi tham gia giải quyết vụ, việc chứ không nên ấn định việc hương theo mức là 0,5 lần mức lương cơ sở cho 01 buổi làm việc. Việc điều chỉnh này bảo đảm công bằng về chế độ giữa các Luật sư công và Luật sư theo Luật Luật sư, bởi họ làm công việc như nhau, từ đó thúc đẩy sự cống hiến, đóng góp của Luật sư công trong nỗ lực giải quyết vụ, việc mà họ tham gia. Mức bồi dưỡng cho Luật sư công khi tham gia giải quyết vụ, việc cần tương xứng khối lượng công việc và áp lực nghề nghiệp trong các vụ việc phức tạp, đặc biệt là tranh tụng quốc tế hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo kéo dài.

Kết luận

Chế định Luật sư công tại Việt Nam là một quy định hoàn toàn mới và đang được thực hiện thí điểm tại một số địa phương theo quy định tại Nghị quyết số 24/2026/QH16. Đây là một chủ trương, quy định hoàn toàn phù hợp và cần thiết của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đội ngũ Luật sư hoạt động theo quy định của Luật Luật sư thì hoạt động của đội ngũ Luật sư công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Do đó, việc so sánh, làm rõ một số quy định của Luật sư công dựa trên những so sánh, đánh giá với quy định tương ứng của Luật sư theo quy định của Luật Luật sư là cần thiết, bảo đảm việc hiểu và áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Bên cạnh đó, nhằm thúc đẩy Luật sư công phát triển, đóng góp thiết tực trong hoạt động của khu vực Nhà nước thì một nội dung cũng hết sức quan trọng là cần bổ sung quy định chi tiết về chế độ, chính sách, kinh phí bảo đảm cho hoạt động của luật sư công.

 

[1] Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 24/2026/QH16.

[2] Điều 2 Luật Luật sư.

[3] Điều 10 Luật Luật sư.

[4] Điều 5 Nghị quyết số 24/2026/QH16.

 

TRỊNH CẨM VÂN (Chánh án TAND khu vực 11 Hải Phòng), BÙI NAM PHƯƠNG (Thư Ký TAND thành phố Hải Phòng)

Tài liệu tham khảo

1. Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012, năm 2015.

2. Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư.

3. Nghị quyết số 24/2026/QH16 của Quốc Hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công.

Ảnh minh họa: nguồn Internet.