Thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoàn thiện Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự: Đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Bài viết tập trung phân tích các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đó, bài viết nhận diện các xu hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi các định hướng sửa đổi này trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu xây dựng một hệ thống tư pháp công bằng, nhân văn, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự, tố tụng hình sự nói riêng là yêu cầu cấp bách. Qua thực tiễn thi hành, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự đã bộc lộ một số rào cản, vướng mắc[1]. Đặc biệt, trước sự bứt phá của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, pháp luật hình sự còn thiếu các quy định loại trừ trách nhiệm hình sự để bảo vệ người đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung. Để định hướng cho công cuộc cải cách, Đảng và Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản chiến lược mang tính đột phá tư duy như Nghị quyết số 27-NQ/TW[2], Nghị quyết số 68-NQ/TW[3], Nghị quyết số 66/NQ-TW[4], Nghị quyết số 57-NQ/TW[5], Nghị quyết số 04-NQ/TW[6], Nghị quyết số 29-NQ/TW[7] và Kết luận số 19-KL/TW[8]. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu thể chế hóa kịp thời các chủ trương này thành các quy định pháp luật cụ thể nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thực tiễn, khơi thông mọi tiềm năng phát triển quốc gia.
1. Những chủ trương, chính sách mang tính chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong kỷ nguyên mới
Trên cơ sở những định hướng mới từ các Nghị quyết, Kết luận gần đây của Ban Chấp hành Trung ương, việc xác định rõ các quan điểm chỉ đạo về cải cách tư pháp, hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự là yêu cầu khách quan mang tính cấp bách. Đây chính là nền tảng lý luận quan trọng để nhận diện các xu hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự (BLHS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) nhằm kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, tiến trình thể chế hóa này được định hình qua các trụ cột cốt lõi sau:
Thứ nhất, chủ trương khuyến khích, bảo vệ đổi mới sáng tạo và xử lý nhân văn, ưu tiên phục hồi kinh tế. Chủ trương này được thể hiện qua các phương diện: (1) Vừa kiên quyết đấu tranh chống sai phạm, vừa kiến tạo phát triển, khuyến khích, bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người dân[9]; (2) Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển[10]; (3) Xử lý nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, thuyết phục, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ bối cảnh lịch sử cụ thể và lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc để xử lý phù hợp. Ưu tiên thu hồi tối đa tài sản, khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả[11]. Các chủ trương vừa nêu thể hiện một bước đột phá mạnh mẽ về tư duy pháp lý, mang tính kiến tạo phát triển và nhân văn sâu sắc, thể hiện qua việc kết hợp đấu tranh phòng chống sai phạm với khuyến khích, bảo vệ những nỗ lực đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, sự chuyển dịch tư duy xây dựng pháp luật theo hướng cân bằng giữa quản lý nhà nước và lợi ích của người dân, doanh nghiệp chính là bệ đỡ vững chắc cho sự phát triển bền vững. Đặc biệt, quan điểm xử lý vi phạm dựa trên việc xem xét kỹ bối cảnh lịch sử, lấy hiệu quả tổng hòa về chính trị, kinh tế, xã hội làm thước đo và ưu tiên thu hồi tài sản, khắc phục hậu quả đã minh chứng cho một nền tư pháp hiện đại, nghiêm minh, giảm thiểu tối đa các hệ lụy và tổn thất cho nền kinh tế quốc gia.
Thứ hai, chủ trương phân định rõ ranh giới hình sự, dân sự và bảo vệ quyền tài sản của tổ chức, cá nhân. Theo đó, Bộ Chính trị yêu cầu tuân thủ nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm hình sự với hành chính, dân sự; giữa pháp nhân và cá nhân; đồng thời ưu tiên áp dụng biện pháp dân sự, kinh tế trước[12]. Ngoài ra, cần quán triệt dứt khoát không “hình sự hóa” các quan hệ kinh tế, dân sự và không dùng biện pháp hành chính để can thiệp các tranh chấp này[13]. Chủ trương này là một bước đi thiết yếu nhằm thiết lập hành lang pháp lý minh bạch, ổn định cho xã hội, giúp giải tỏa tâm lý lo ngại, bất an của các nhà đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp. Sự tách bạch rõ ràng giữa trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân, cùng việc không dùng biện pháp hành chính can thiệp vào tranh chấp dân sự, kinh tế không chỉ bảo vệ tối đa các quyền tài sản hợp pháp mà còn tôn trọng quyền tự quyết, tự thỏa thuận của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường.
Thứ ba, chủ trương lấy con người làm trung tâm, tôn trọng quyền con người. Theo đó, Bộ Chính trị đã khẳng định lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân[14] và cũng nhấn mạnh việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân[15]. Có thể thấy chủ trương này là kim chỉ nam cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự, tố tụng hình sự nói riêng. Nguyên tắc lấy con người làm trung tâm giúp đảm bảo hiệu quả bảo vệ công lý, quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể. Trong đó, việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự cần được đặt ra theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, tăng cường tính tranh tụng, và bảo đảm quyền bào chữa, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người bị buộc tội.
Thứ tư, chính sách về việc áp dụng hiệu quả thủ tục tố tụng tư pháp rút gọn, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng tư pháp rút gọn[16]. Theo đó, thủ tục rút gọn theo quy định hiện hành được đánh giá là chưa phát huy hiệu quả, thiếu cơ chế xử lý linh hoạt đối với các vụ án đơn giản[17]. Do đó, việc cụ thể hóa, hoàn thiện các quy định về thủ tục rút gọn là yêu cầu cấp thiết. Có thể thấy chủ trương này mang lại nhiều lợi ích to lớn và thiết thực cho hệ thống tư pháp cũng như toàn xã hội. Trước hết, việc áp dụng thủ tục này giúp giảm thiểu đáng kể thời gian, chi phí tố tụng, đồng thời tiết kiệm nguồn nhân lực tư pháp của Nhà nước đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng. Chính sự tinh gọn này đã trực tiếp giảm tải áp lực và khối lượng công việc khổng lồ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, từ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cho đến Tòa án, giải phóng bớt gánh nặng hành chính cho đội ngũ cán bộ. Qua đó, thủ tục rút gọn góp phần nâng cao rõ rệt hiệu quả giải quyết án, đẩy nhanh tiến độ xử lý tội phạm, giải quyết triệt để tình trạng án tồn đọng, kéo dài, bảo đảm tính kịp thời và nghiêm minh.
2. Một số yêu cầu về sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Việc thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và Nhà nước vào hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự không chỉ dừng lại ở các nhận thức lý luận, mà đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu về sửa đổi, bổ sung BLHS và BLTTHS trong thời gian tới. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc rà soát để sửa đổi, bổ sung BLHS và BLTTHS trở thành nhiệm vụ mang tính tất yếu khách quan.
Thứ nhất, nhà làm luật cần xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung[18].
Thứ hai, từ chủ trương về việc phân định rõ ranh giới hình sự, dân sự và bảo vệ quyền tài sản của tổ chức, cá nhân, ưu tiên phục hồi kinh tế, yêu cầu về sửa đổi BLHS, BLTTHS trong thời gian tới bao gồm:
- Hạn chế hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế: Nghị quyết số 68-NQ/TW nêu rõ xu hướng sửa đổi các quy định về pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự để bảo đảm nguyên tắc khi xử lý các sai phạm, vụ việc về dân sự, kinh tế, ưu tiên áp dụng các biện pháp về dân sự, kinh tế, hành chính trước, cho phép các doanh nghiệp, doanh nhân được chủ động khắc phục sai phạm, thiệt hại. Trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự. Trường hợp đến mức xử lý hình sự thì ưu tiên các biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế trước và là căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo. Không hồi tố các quy định pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp. Đối với các vụ việc thiếu chứng cứ, chứng cứ không rõ ràng phải sớm có kết luận, tránh ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, doanh nhân. Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình điều tra, xét xử các vụ án[19]. Một trong những bước đi đầu tiên của Nhà nước là triển khai Nghị quyết số 29/NQ-TW, trong đó có các quy định về việc tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 nhưng đáp ứng các điều kiện đặc thù nhằm bảo vệ nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng “không hình sự hóa” không đồng nghĩa với “phi hình sự hóa” một cách tuyệt đối. Nếu việc hạn chế hình sự hóa không đi kèm với cơ chế kiểm soát hiệu quả, có thể dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế[20]. Do đó, cần phân định rõ giới hạn giữa các vi phạm dân sự, kinh tế và hành vi phạm tội để đảm bảo hiệu quả xử lý, khắc phục hậu quả.
- Giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gắn liền với khắc phục hậu quả: Cụ thể, BLHS nên sửa đổi theo hướng xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để giảm trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với người phạm tội không có động cơ vụ lợi, chủ động, tự giác nộp lại tài sản, khắc phục hậu quả, thiệt hại, góp phần có hiệu quả vào việc điều tra, phát hiện tội phạm[21]. Tuy nhiên việc quy định một cơ chế giảm nhẹ có điều kiện phải đồng thời xem xét bản chất động cơ, thời điểm khắc phục hậu quả, mức độ hoàn trả tài sản và tính chất của lợi ích công bị xâm hại. Chỉ trong khuôn khổ đó, chính sách giảm nhẹ TNHS mới là biểu hiện của một tư duy hình sự hiện đại, chứ không biến thành cơ chế “chuộc lỗi bằng tài sản”[22].
- Xem xét quyết định áp dụng hình phạt nhẹ hơn trong trường hợp người phạm tội nhận tội, nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng. Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLHS và BLTTHS theo hướng như sau: (1) Bổ sung quy định “Trường hợp bị can, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, nhận tội, nhận hình phạt thì các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét quyết định áp dụng hình phạt nhẹ hơn”; (2) Quy định thẩm quyền xem xét, quyết định việc nhận tội, nhận hình phạt của các cơ quan, người tiến hành tố tụng ở các giai đoạn (giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn chuẩn bị xét xử); (3) Quy định trường hợp, căn cứ, điều kiện xem xét quyết định áp dụng hình phạt nhẹ hơn trong trường hợp người phạm tội nhận tội, nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng; (4) Quy định cơ chế kiểm soát để không bị lạm dụng[23].
- Tách bạch tài sản pháp nhân và cá nhân; tài sản hợp pháp và vi phạm: Theo đó, cần phân biệt rõ tài sản hình thành hợp pháp với tài sản có được từ hành vi vi phạm pháp luật, tài sản khác liên quan đến vụ án; giữa tài sản, quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp của cá nhân những người quản lý trong doanh nghiệp. Cho phép sử dụng hợp lý các biện pháp cần thiết để bảo đảm giá trị tài sản liên quan đến vụ án, giảm thiểu tác động của điều tra đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, sau khi có ý kiến thống nhất của các cơ quan tố tụng và không ảnh hưởng đến hoạt động điều tra[24].
Thứ ba, bảo đảm chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân[25]. Việc sửa đổi BLTTHS theo hướng tăng cường nguyên tắc tranh tụng từ những giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án là điều cần thiết. Trong đó, cần thiết bổ sung các quy định về tăng cường quyền bào chữa của người bị buộc tội như ghi nhận chi tiết thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa và cách thức giao nộp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tụng để tăng cường hiệu quả của tranh tụng.
Thứ tư, với chính sách về việc áp dụng hiệu quả thủ tục tố tụng tư pháp rút gọn, yêu cầu sửa đổi BLTTHS trong thời gian sắp tới như sau: (1) Mở rộng điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn đối với trường hợp người phạm tội nhận tội, phạm tội nghiêm trọng do vô ý; (2) Rút ngắn một số thời gian tố tụng để đảm bảo tổng thời hạn giải quyết vụ án trong thủ tục rút gọn sẽ ngắn hơn các vụ án thông thường.
3. Một số giải pháp đảm bảo hiệu quả thực thi các yêu cầu về sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự trong thời gian tới
Sự thay đổi về mặt quy định pháp luật chỉ thực sự phát huy giá trị khi được vận hành đồng bộ và hiệu quả. Việc xác định các xu hướng sửa đổi, bổ sung BLHS và BLTTHS mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là phải có một hệ thống giải pháp bảo đảm thực thi đồng bộ. Các giải pháp này không chỉ dừng lại ở góc độ kỹ thuật lập pháp mà còn đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ về cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và xây dựng các chính sách thí điểm đặc thù. Do đó, nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, hệ thống các giải pháp trọng tâm cần được tập trung triển khai bao gồm:
Thứ nhất, áp dụng hiệu quả các nghị quyết của Quốc hội (đặc biệt là Nghị quyết số 29/2026/QH16) để xử lý kịp thời các vi phạm kinh tế đất đai, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Quá trình áp dụng phải bảo đảm hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không hợp pháp hóa sai phạm nhưng lấy hiệu quả kinh tế, xã hội, lợi ích quốc gia làm thước đo. Giải pháp này mang lại tính linh hoạt, kịp thời và thích ứng cao cho hệ thống tư pháp khi đối mặt với các vi phạm mới phức tạp về đất đai, kinh tế tư nhân hay chuyển đổi số, giúp các cơ quan tố tụng có cơ sở thực tế để phân định rạch ròi, áp dụng chính sách hình sự phù hợp, tránh làm tê liệt các nguồn lực sản xuất khi các văn bản luật chưa kịp sửa đổi toàn diện.
Thứ hai, phát triển nhân lực tư pháp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tư pháp; rà soát, sắp xếp hợp lý các cơ sở đào tạo cử nhân luật. Xác định rõ hệ tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, kinh tế, xã hội và kinh nghiệm thực tiễn đối với từng chức danh, nhân lực tư pháp. Mở rộng nguồn, đẩy mạnh thực hiện cơ chế thi tuyển để bổ nhiệm các chức danh tư pháp. Ðổi mới chính sách, chế độ tiền lương, thời hạn bổ nhiệm và cơ chế bảo đảm để đội ngũ cán bộ tư pháp yên tâm công tác, liêm chính, công tâm, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là đối với đội ngũ Thẩm phán[26]. Giải pháp này tạo ra một bước chuyển về chất cho nguồn nhân lực tư pháp thông qua hệ tiêu chuẩn toàn diện (kết hợp giữa bản lĩnh chính trị với kiến thức chuyên sâu về kinh tế, xã hội). Khi đội ngũ Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên có đủ trình độ chuyên môn về kinh tế và tư duy liêm chính, họ mới có thể phân biệt chính xác giữa tranh chấp kinh tế với tội phạm, bảo đảm sự độc lập xét xử và thực hiện tranh tụng một cách thực chất, bảo vệ quyền con người tối đa.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại trong tố tụng. Ưu tiên nguồn lực xây dựng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, liên thông, dễ khai thác, dễ sử dụng, an toàn thông tin và bí mật nhà nước. Bố trí kịp thời, đủ kinh phí để xây dựng, triển khai ngay Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật[27]. Giải pháp này giúp chuyển đổi phương thức vận hành của hệ thống tư pháp từ thủ công, khép kín sang tự động hóa, minh bạch, dữ liệu hóa liên thông, tối ưu hóa thời gian và nguồn lực hành chính. Việc triển khai cơ sở dữ liệu lớn và các công cụ AI không chỉ hỗ trợ kiểm tra, rà soát văn bản từ sớm để tránh xung đột pháp luật, mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống" phục vụ cho công tác hậu kiểm, giúp kiểm soát quyền lực tư pháp từ xa và giảm tải áp lực công việc khi áp dụng các thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự.
Thứ tư, cải cách cơ chế tài chính đặc thù cho công tác tư pháp. Đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý, sử dụng ngân sách dành cho công tác xây dựng pháp luật trên nguyên tắc kịp thời, đúng, đủ và gắn với khoán chi theo kết quả, sản phẩm của từng nhiệm vụ, hoạt động. Bảo đảm chi cho công tác xây dựng pháp luật không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách hằng năm và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Thành lập Quỹ hỗ trợ xây dựng chính sách, pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm, kết hợp nguồn kinh phí xã hội hóa hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước, góp phần hỗ trợ, nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật; bảo đảm hiệu quả, gắn với quản lý công khai, minh bạch, phòng ngừa, ngăn chặn mọi biểu hiện trục lợi, hướng lái chính sách[28]. Giải pháp này giúp tháo gỡ triệt để nút thắt về kinh phí, tạo nền tảng vật chất vững chắc cho công tác lập pháp, tối ưu hóa ngân sách, nâng cao trách nhiệm và chất lượng của từng nhiệm vụ xây dựng luật. Đồng thời có thể thấy các xu hướng sửa đổi BLHS và BLTTHS sắp tới đòi hỏi quá trình nghiên cứu, xây dựng pháp luật phức tạp và chuẩn xác. Nguồn lực tài chính dồi dào từ giải pháp này sẽ bảo đảm cho việc khảo sát, đánh giá tác động và lập pháp diễn ra kỹ lưỡng, khoa học.
Kết luận
Việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước vào BLHS và BLTTHS là một yêu cầu mang tính khách quan và tất yếu nhằm đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới. Những chủ trương này không dừng lại ở góc độ lý luận mà đã định hình rõ nét các xu hướng lập pháp đột phá như hạn chế hình sự hóa, xử lý tài sản không qua kết tội và hiện đại hóa thủ tục tố tụng. Cùng với đó, nhóm giải pháp toàn diện về nguồn nhân sự, công nghệ và nguồn lực tài chính đặc thù chính là chìa khóa bảo đảm tính khả thi cho các định hướng cải cách. Việc triển khai đồng bộ các nội dung trên sẽ góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, nghiêm minh, bảo đảm tính hiệu quả và phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ quyền con người.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
5. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
6. Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về Cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
7. Kết luận số 19-KL/TW ngày 02/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án “Cơ chế thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam”.
8. Chỉ thị số 06-CT/Tw ngày 06/6/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới.
9. Đinh Văn Minh, “Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội: Công cụ nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn mới”, https://thanhtra.com.vn/dien-dan-thanh-tra-1580D087E/thu-hoi-tai-san-khong-qua-thu-tuc-ket-toi-cong-cu-nang-cao-hieu-qua-phong-chong-tham-nhung-trong-giai-doan-moi-c8125f23b.html
10. Đắc Lam, “Tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự: Kiến nghị sửa đổi toàn diện, đáp ứng yêu cầu mới”, https://plo.vn/tong-ket-thi-hanh-bo-luat-hinh-su-kien-nghi-sua-doi-toan-dien-dap-ung-yeu-cau-moi-post900350.html
11. Lê Minh Trung, “Cơ chế thu hồi tài sản bất hợp pháp không qua thủ tục kết tội ở một số nước trên thế giới và tham khảo cho Việt Nam” (Kỳ 1 và Kỳ 2), https://phaply.net.vn/co-che-thu-hoi-tai-san-bat-hop-phap-khong-qua-thu-tuc-ket-toi-o-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-va-tham-khao-cho-viet-nam-ky-1-a256519.html.
12. Nguyễn Thanh Huyền, “Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, https://lsvn.vn/thu-tuc-rut-gon-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien-a160310.html.
13. Phạm Thị Hồng Tâm, Nguyễn Trí Tuấn, Phạm Thị Cẩm Duyên, “Sửa đổi Bộ luật Hình sự và vấn đề không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự”, https://phaply.net.vn/sua-doi-bo-luat-hinh-su-va-van-de-khong-hinh-su-hoa-cac-quan-he-kinh-te-dan-su-a261785.html.
14. Vũ Cảnh, “Một số chính sách mới liên quan đến sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự”, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/mot-so-chinh-sach-moi-lien-quan-den-sua-doi-bo-luat-to-tung-hinh-su-195728.html.
15. Võ Quốc Thuận, “Pháp luật một số quốc gia về thu hồi tài sản tham nhũng không qua kết án và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Kỳ 1 (434) tháng 8/2025.
16. Yến Châu, “Giảm hình phạt với người phạm tội không vụ lợi: Xu hướng tất yếu”, https://plo.vn/giam-hinh-phat-voi-nguoi-pham-toi-khong-vu-loi-xu-huong-tat-yeu-post903881.html.
[1] Đắc Lam, “Tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự: Kiến nghị sửa đổi toàn diện, đáp ứng yêu cầu mới”, https://plo.vn/tong-ket-thi-hanh-bo-luat-hinh-su-kien-nghi-sua-doi-toan-dien-dap-ung-yeu-cau-moi-post900350.html, truy cập ngày 22/6/2026.
[2] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3] Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
[4] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[5] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[6] Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
[7] Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về Cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
[8] Kết luận số 19-KL/TW ngày 02/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án “Cơ chế thu hồi và xử lý tài sản không qua kết tội, bảo đảm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam”.
[9] Mục I.2.2 Nghị quyết 04-NQ/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
[10] Mục III.2 Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
[11] Mục I.2.4 Nghị quyết số 04-NQ/TW.
[12] Mục I.2.3 Nghị quyết số 68-NQ/TW.
[13]Mục I.3 Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[14] Mục II.3 Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
[15] Mục III.1.2 Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[16] Mục IV.7 Nghị quyết số 27-NQ/TW, Mục III.2 Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 117-KL/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về Đề án “Nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục tư pháp rút gọn”.
[17] Nguyễn Thanh Huyền, “Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện”, https://lsvn.vn/thu-tuc-rut-gon-trong-to-tung-hinh-su-vuong-mac-va-kien-nghi-hoan-thien-a160310.html, truy cập ngày 21/6/2026.
[18] Tiểu mục 2 Mục II Nghị quyết số 04-NQ/TW
[19] Mục III.2.3 Nghị quyết số 68-NQ/TW
[20] Phạm Thị Hồng Tâm, Nguyễn Trí Tuấn, Phạm Thị Cẩm Duyên, “Sửa đổi Bộ luật Hình sự và vấn đề không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự”, https://phaply.net.vn/sua-doi-bo-luat-hinh-su-va-van-de-khong-hinh-su-hoa-cac-quan-he-kinh-te-dan-su-a261785.html, truy cập ngày 23/6/2026.
[21] Mục II.2 Nghị quyết số 04-NQ/TW.
[22] Yến Châu, “Giảm hình phạt với người phạm tội không vụ lợi: Xu hướng tất yếu”, https://plo.vn/giam-hinh-phat-voi-nguoi-pham-toi-khong-vu-loi-xu-huong-tat-yeu-post903881.html, truy cập ngày 21/6/2026.
[23] Vũ Cảnh, “Một số chính sách mới liên quan đến sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự”, https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/mot-so-chinh-sach-moi-lien-quan-den-sua-doi-bo-luat-to-tung-hinh-su-195728.html, truy cập ngày 23/6/2026.
[24] Mục III.2.3 Nghị quyết số 68-NQ/TW.
[25] Mục III.1.7 Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[26] Tiểu mục 7 Mục 4 Nghị quyết số 68-NQ/TW.
[27] Mục III.6 Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[28] Mục III.7 Nghị quyết số 66-NQ/TW.
TAND khu vực 1 - Thái Nguyên xét xử vụ án "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Thái Nguyên điện tử.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Nhầm lẫn và lạm dụng quy định về người thứ ba ngay tình
-
Người nam có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng trong trường hợp người nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay không?
-
Bộ Tư pháp hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự
-
Xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự
-
TANDTC họp giao ban công tác, triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
Bình luận