Thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn hay thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn và thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là hai thủ tục hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên trên thực tế vẫn xảy ra một số trường hợp khiến Tòa án cấp sơ thẩm không phân biệt được hai thủ tục này, dẫn đến việc thực hiện quy trình tố tụng khác nhau, hậu quả pháp lý cũng khác nhau và không có sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.
1. Thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn
Khoản 1 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định:
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
Điều 275 BLTTDS năm 2015 quy định:
“Điều 275. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng cáo quá hạn
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định”.
Như vậy, trường hợp có kháng cáo nhưng quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn và thủ tục giải quyết là Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Trường hợp nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định, cụ thể là Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm để thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
2. Thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Điều 325 BLTTDS năm 2015 quy định:
“Điều 325. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này”.
Điều 351 BLTTDS năm 2015 quy định:
“Điều 351. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó”.
Đây là các là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này (vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trong việc áp dụng pháp luật) hoặc có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.
3. Vướng mắc trên thực tế
Mặc dù thủ tục xét kháng cáo quá hạn và thủ tục xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là hai thủ tục hoàn toàn khác nhau. BLTTDS cũng đã quy định riêng biệt về căn cứ, thời hạn, … tuy nhiên trên thực tế vẫn xảy ra một số trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm nhầm lẫn thủ tục xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thành thủ tục xét kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét đến việc tống đạt văn bản tố tụng có hợp lệ hay không hay lý do chậm nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là gì để xem xét về thời hạn kháng cáo của đương sự, trong khi đó bản án, quyết định đã được chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành.
Ví dụ 1: Vụ án dân sự được xét xử ngày 01/3/2026 (các đương sự đều có mặt), trong thời hạn luật định nguyên đơn kháng cáo, các đương sự còn lại không kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và giao cho nguyên đơn, sau khi nhận được Thông báo, nguyên đơn đã nộp tiền trong thời hạn nhưng không giao biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho Tòa án cấp sơ thẩm, sau đó 03 tháng, nguyên đơn mới nộp Biên lai này cho Tòa án cấp sơ thẩm.
Ví dụ 2: Vụ án dân sự được xét xử ngày 01/3/2026 (các đương sự đều vắng mặt), sau đó Tòa án không tống đạt bản án cho đương sự, sau đó 03 tháng, có đương sự kháng cáo. Tuy nhiên, sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Tòa án đã chuyển bản án cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành theo quy định.
Với hai ví dụ như trên, hiện nay trên thực tế có hai quan điểm giải quyết khác nhau, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, cả hai trường hợp đều thuộc kháng cáo quá hạn.
Đối với ví dụ 1, khoản 2 Điều 276 BLTTDS năm 2015 quy định:
“Điều 276. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
…
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà không nêu rõ lý do thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải có văn bản trình bày lý do chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp này được xử lý theo thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn”.
Như vậy, luật chỉ quy định sau khi hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà không quy định thời hạn tối đa bao nhiêu ngày kể từ khi hết thời hạn 10 ngày, dẫn chiếu theo quy định nêu trên thì trường hợp này được xử lý theo thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn.
Đối với ví vụ 2, khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm 2015 quy định như sau:
“Điều 273. Thời hạn kháng cáo
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết”.
Như vậy, trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tuy nhiên vì Tòa án không tống đạt bản án cho đương sự nên người đương sự không mất đi quyền kháng cáo và đương nhiên họ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Quan điểm thứ hai cho rằng, cần tiến hành xác minh kết quả thi hành án đối với bản án bị kháng cáo, dựa trên kết quả xác minh để xác định trường hợp này thực hiện theo thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn hay thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Khoản 2 Điều 276 BLTTDS năm 2015 quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo (trừ trường hợp có lý do chính đáng); Tòa án trả lại đơn kháng cáo theo điểm c khoản 4 Điều 274 BLTTDS năm 2015.
Sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Tòa án chuyển bản án có hiệu lực pháp luật cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Theo kết quả xác minh, sẽ chia làm hai trường hợp xảy ra, một là bản án chưa được gửi qua cơ quan thi hành án hoặc đã chuyển cho cơ quan thi hành án nhưng chưa được thi hành án, hai là đã chuyển bản án và cơ quan thi hành án đã thi hành một phần hay toàn bộ bản án. Trường hợp cơ quan thi hành án đã thi hành một phần hay toàn bộ bản án thì phải xác định bản án đã có hiệu lực pháp luật và đương sự chỉ có quyền làm đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị phù hợp với tính chất của xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 270 BLTTDS năm 2015 là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp bản án chưa được gửi cho cơ quan thi hành án hoặc đã chuyển cho cơ quan thi hành án nhưng chưa được thi hành án thì có thể xác định bản án có đã hiệu lực pháp luật hay chưa, trường hợp này cơ quan thi hành án có thể thu hồi quyết định thi hành án, Tòa án có thể thu hồi bản án đã chuyển hay không để thực hiện theo thủ tục xét kháng cáo quá hạn?
4. Kiến nghị
Để đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thống nhất, tác giả kiến nghị, khi sửa đổi, bổ sung BLTTDS cần bổ sung thêm một số quy định hoặc có văn bản hướng dẫn quy định rõ trong trường hợp sau khi Tòa án trả lại đơn kháng cáo, người kháng cáo mới nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm hoặc trong trường hợp Tòa án vi phạm việc cấp, tống đạt bản án, quyết định cho đương sự, sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị đương sự mới có đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải xác định đã có hay chưa việc chuyển bản án, quyết định bị kháng cáo cho cơ quan thi hành án và tiến hành xác minh kết quả thi hành án đối với bản án, quyết định bị kháng cáo trong trường hợp đã chuyển cơ quan thi hành án, cụ thể:
- Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm chưa chuyển bản án, quyết định bị kháng cáo cho cơ quan thi hành án dân sự hoặc đã chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự nhưng bản án, quyết định chưa được thi hành án thì Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện theo thủ tục xét kháng cáo quá hạn, trường hợp đã chuyển cơ quan thi hành án thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi công văn cho cơ quan thi hành án để thông báo về việc bản án, quyết định đang bị kháng cáo, đề nghị tạm dừng việc thi hành án để chờ kết quả giải quyết theo thủ tục xét kháng cáo quá hạn. Nếu kháng cáo quá hạn không được chấp nhận thì cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành bản án, quyết định đã nhận được trước đó, nếu kháng cáo quá hạn được chấp nhận thì Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm để thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, đồng thời có văn bản gửi cơ quan thi hành án đề nghị dừng việc thi hành án để chờ kết quả giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
- Trường hợp cơ quan thi hành án đã thi hành một phần hay toàn bộ bản án, quyết định thì phải xác định bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đương sự chỉ có quyền đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị. Tòa án cấp sơ thẩm trả lại đơn kháng cáo, đồng thời hướng dẫn người kháng cáo làm đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, kèm các tài liệu, chứng cứ (nếu có), gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Phiên tòa XXPT hình sự tại Phòng xét xử hình sự TAND tỉnh Thái Bình - Nguồn: Trang TTĐT của VKSND tỉnh Thái Bình.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Có căn cứ xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bị vô hiệu
-
TAND tối cao lưu ý hai sai sót cần tránh khi giải quyết án hình sự
-
Phó Chánh án Nguyễn Biên Thùy: Cần bắt buộc hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện
-
Kiểm soát việc mang, sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa - Nhìn từ khoản 3 Điều 4 Thông tư số 12/2026/TT-TANDTC
-
Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: Nửa thế kỷ phụng sự công lý, vững bước trong kỷ nguyên mới
Bình luận