Xác định tư cách tham gia tố tụng của tổ chức công đoàn cơ sở trong tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động - Khoảng trống pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thông qua tiêu chí “việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ”, nhưng chưa lượng hóa nội hàm của tiêu chí này. Trong tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động, khoảng trống đó bộc lộ rõ ở một chủ thể đặc thù là tổ chức công đoàn cơ sở và ban lãnh đạo của tổ chức này. Trên cơ sở phân tích quy phạm, so sánh tiến trình lập pháp và đối chiếu với Án lệ số 70/2023/AL cùng Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, bài viết nhận diện năm khoảng trống pháp lý và phân tích hai quan điểm đối lập về tư cách tố tụng của công đoàn cơ sở. Từ đó, đề xuất tiêu chí chức năng ba bước để phân định tư cách đương sự với tư cách người làm chứng, khẳng định chủ thể tham gia tố tụng phải là tổ chức công đoàn cơ sở chứ không phải từng thành viên ban chấp hành, đồng thời kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và hoàn thiện quy định về tống đạt.

Đặt vấn đề

Pháp luật hiện hành chưa thiết lập tiêu chí đủ rõ để xác định tư cách tham gia tố tụng của tổ chức công đoàn cơ sở, đồng thời chưa xác định chủ thể tham gia tố tụng là tổ chức công đoàn hay từng cá nhân thành viên ban lãnh đạo. Từ đó, bài viết đặt ba câu hỏi: (i) công đoàn cơ sở nên tham gia tố tụng với tư cách nào và tiêu chí phân định là gì; (ii) chủ thể tham gia là tổ chức hay từng cá nhân, với hệ quả tố tụng ra sao khi những cá nhân đó không còn quan hệ lao động; (iii) và cần hướng dẫn, phát triển án lệ theo hướng nào.

Bài viết giới hạn ở tranh chấp lao động cá nhân về chấm dứt hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.

1. Khung pháp luật thực định và những khoảng trống

1.1. Quy định của pháp luật qua các thời kỳ

Khoản 7 Điều 192 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012 buộc người sử dụng lao động thỏa thuận bằng văn bản với Ban Chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc sa thải người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách[1].

BLLĐ năm 2019 thay đổi cách tiếp cận. Do thừa nhận sự tồn tại song song của công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp, Bộ luật dùng khái niệm khái quát “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” và “ban lãnh đạo” của tổ chức đó[2]. Thay đổi này mở rộng phạm vi chủ thể nhưng làm mờ đường biên giữa “tổ chức” và “cơ quan lãnh đạo của tổ chức” - một hệ quả có ý nghĩa trực tiếp đối với tố tụng.

Luật Công đoàn năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 97/2025/QH15, xác định hệ thống Công đoàn Việt Nam gồm ba cấp: trung ương, công đoàn cấp trên cơ sở và công đoàn cấp cơ sở[3]. Việc luật hóa cấu trúc này cung cấp cơ sở xác định chủ thể kế thừa khi công đoàn cơ sở chấm dứt hoạt động, đồng thời tạo một địa chỉ xác minh khách quan độc lập với doanh nghiệp bị kiện.

Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ xác định Công đoàn có thể tham gia tố tụng dân sự với ba nhóm tư cách: đương sự, người đại diện và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự[4]. Hai chi tiết đáng lưu ý: chủ thể được nhắc đến xuyên suốt là “Công đoàn”, “Công đoàn cơ sở”, tức là tổ chức chứ không phải từng ủy viên ban chấp hành; và tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được diễn đạt theo cơ chế đề nghị - chấp nhận, tức là kết quả của một đánh giá cụ thể chứ không phải mặc định cho mọi vụ án lao động.

1.2. Năm khoảng trống pháp lý

Thứ nhất, tiêu chí “liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ” chưa được lượng hóa. Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 nêu tiêu chí nhưng không xác định nội hàm[5], khiến việc áp dụng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng hơn là vào thực tế khách quan. Trong khi đó, xác định sai tư cách tố tụng cũng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng - nghĩa là xác định thừa nguy hiểm không kém xác định thiếu[6].

Thứ hai, chưa rõ chủ thể là tổ chức hay ban lãnh đạo. BLLĐ năm 2019 quy định nghĩa vụ trao đổi ý kiến với “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” (Điều 42, Điều 44), nhưng khi bảo vệ cán bộ công đoàn lại dùng khái niệm “ban lãnh đạo” của tổ chức đó (Điều 177)[7], trong khi pháp luật tố tụng dân sự không có quy định chuyển hóa “ban lãnh đạo” thành một chủ thể tố tụng xác định. Đây là khởi nguồn của thực tiễn triệu tập riêng lẻ từng thành viên ban lãnh đạo.

Thứ ba, không có cơ chế xử lý khi ban lãnh đạo không còn quan hệ lao động. Điều 74 BLTTDS năm 2015 chỉ điều chỉnh việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng khi cá nhân chết hoặc khi tổ chức giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi. Tình huống phổ biến trong tranh chấp lao động lại nằm ngoài đó: công đoàn cơ sở vẫn tồn tại nhưng toàn bộ ban lãnh đạo đã chấm dứt quan hệ lao động, hoặc công đoàn cơ sở đã ngừng hoạt động trên thực tế mà chưa có quyết định giải thể chính thức.

Thứ tư, thiếu hướng dẫn về tống đạt đối với người đã rời doanh nghiệp. Chương X BLTTDS năm 2015 quy định tống đạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức, nhưng không dự liệu tình huống người tham gia tố tụng được xác định qua chức danh gắn với một doanh nghiệp mà nay họ không còn làm việc tại đó. Thực tiễn gửi văn bản tố tụng qua chính doanh nghiệp bị kiện - tiện lợi nhưng đặt ra vấn đề về tính hợp lệ và xung đột lợi ích.

Thứ năm, thiếu thống nhất thuật ngữ: BLTTDS năm 2015 vẫn dùng “tổ chức đại diện tập thể lao động”, trong khi BLLĐ năm 2019 đã chuẩn hóa thành “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở”, buộc người áp dụng pháp luật tự suy luận rằng hai khái niệm cùng chỉ một chủ thể.

2. Tư cách tham gia tố tụng của tổ chức công đoàn cơ sở: các luồng quan điểm và tiêu chí phân định

2.1. Luồng quan điểm thứ nhất: tổ chức công đoàn cơ sở là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Đây là quan điểm phổ biến trong thực tiễn xét xử hiện nay, quan điểm này đưa ra các căn cứ:

Thứ nhất, đoạn thứ hai của khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 đặt ra nghĩa vụ chủ động: nếu không có ai đề nghị đưa một người có liên quan vào tham gia tố tụng thì Tòa án phải đưa họ vào. Khi còn nghi ngờ, Thẩm phán phải chọn giữa rủi ro bỏ sót và rủi ro đưa thừa, trong khi pháp luật chỉ quy định rõ hậu quả của rủi ro thứ nhất.

Thứ hai, trong nhiều vụ án, Tòa án không chỉ xem xét biên bản trao đổi ý kiến như một tài liệu mà phải đánh giá tính hợp pháp của chính hoạt động do công đoàn thực hiện: trình tự triệu tập cuộc họp ban chấp hành, thẩm quyền của người ký, tính hợp lệ của đại hội, giá trị của quyết định công nhận do công đoàn cấp trên ban hành. Khi bản án kết luận một hoạt động của công đoàn là không hợp lệ, kết luận đó ảnh hưởng đến uy tín, đến hiệu lực của các văn bản đã ban hành và đến quyền tự quản nội bộ của tổ chức.

Thứ ba, tư cách người làm chứng chỉ cho phép trình bày những gì mình biết, còn tư cách đương sự cho phép tiếp cận hồ sơ, đưa ra yêu cầu, tranh luận và kháng cáo. Nếu tính hợp pháp trong hoạt động của một tổ chức bị đưa ra đánh giá mà tổ chức đó chỉ có tư cách người làm chứng thì quyền tự bảo vệ chưa được bảo đảm đầy đủ. Thêm vào đó, Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ đã ghi nhận tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Công đoàn như một tư cách chính thức.

Án lệ số 70/2023/AL là minh chứng trực tiếp cho luồng quan điểm này. Nguyên đơn là ông Vương Quốc A - Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở - khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn K Việt Nam về việc chấm dứt HĐLĐ. Đáng chú ý về mặt tố tụng là Công đoàn Công ty được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đã trình bày ý kiến về trình tự, thủ tục đại hội; về nội dung, Tòa án kết luận việc trúng cử chức danh Chủ tịch Ban Chấp hành cùng quyết định công nhận của công đoàn cấp trên là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.[8] Vụ án cũng cho thấy việc đánh giá chưa thống nhất giữa các cấp xét xử về vấn đề chi phí: bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện, bản án phúc thẩm sửa toàn bộ và buộc doanh nghiệp thanh toán hơn 216 triệu đồng, sau đó bản án phúc thẩm bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm; toàn bộ chu trình kéo dài từ năm 2016 đến năm 2022[9]. Như vậy, luồng quan điểm thứ nhất là đúng đắn đối với nhóm vụ án mà tính hợp pháp trong hoạt động của công đoàn trở thành đối tượng đánh giá của bản án.

2.2. Luồng quan điểm thứ hai: tổ chức công đoàn cơ sở không tham gia tố tụng với tư cách đương sự

Luồng quan điểm thứ hai lượng hóa tiêu chí tại khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 bằng một phép thử cụ thể: Tòa án cần dự kiến rằng khi chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, chủ thể đó có được hưởng quyền lợi hay phải thực hiện nghĩa vụ gì đối với các đương sự khác hay không; nói cách khác, họ có trở thành người được thi hành án hoặc người phải thi hành án hay không. Nếu không, tổ chức công đoàn không có tư cách tố tụng nào trong vụ án. Điều 77 BLTTDS năm 2015 xác định người làm chứng là “người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc”, và các nghĩa vụ tương ứng tại Điều 78 đều được thiết kế cho cá nhân, nên bản thân tổ chức công đoàn cũng không thể mang tư cách người làm chứng; chỉ cá nhân trực tiếp biết sự kiện mới là người làm chứng, còn văn bản do công đoàn ban hành có giá trị tài liệu, chứng cứ.[10]

Áp dụng phép thử vào nhóm vụ án chấm dứt HĐLĐ vì lý do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, kết quả thường là: toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ bản án theo Điều 41 BLLĐ năm 2019 đều thuộc về người sử dụng lao động, phần quyết định không xác định quyền lợi, nghĩa vụ nào của tổ chức công đoàn. Quan điểm này còn dựa trên lập luận về chi phí tố tụng: mỗi chủ thể được đưa vào với tư cách đương sự đồng thời tạo ra một nghĩa vụ tống đạt, một khả năng phải hoãn phiên tòa và một chủ thể có quyền kháng cáo.

2.3. Quan điểm của tác giả: tiêu chí chức năng ba bước

Cả hai luồng quan điểm đều có cơ sở và điểm yếu chung là cùng đi tìm một câu trả lời duy nhất cho một nhóm tình huống vốn không đồng nhất. Vấn đề không phải là công đoàn cơ sở “luôn luôn” hay “không bao giờ” là đương sự, mà là xác định được biến số quyết định. Theo tác giả, biến số đó là: tính hợp pháp trong hoạt động của tổ chức công đoàn có trở thành đối tượng phải đánh giá trong phần nhận định của bản án hay không. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất tiêu chí chức năng gồm ba bước.

Bước 1 - Kiểm tra đối tượng đánh giá: việc giải quyết vụ án có đòi hỏi Tòa án phải kết luận về tính hợp pháp, hiệu lực hoặc giá trị pháp lý của một hoạt động, một văn bản do tổ chức công đoàn ban hành hay không? Nếu có, công đoàn cơ sở tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bước 2 - Kiểm tra lợi ích riêng: nếu không thuộc Bước 1, tổ chức công đoàn có yêu cầu độc lập hoặc có lợi ích vật chất, tài sản nào có thể bị ảnh hưởng bởi phán quyết hay không? Nếu có, tư cách đương sự là phù hợp.

Bước 3 - Xác định tư cách còn lại: nếu không thuộc cả hai bước trên, công đoàn cơ sở không tham gia tố tụng với bất kỳ tư cách nào; văn bản do công đoàn ban hành vẫn được dùng làm nguồn chứng cứ, còn cá nhân trực tiếp biết sự việc có thể được triệu tập làm người làm chứng theo Điều 77 BLTTDS năm 2015.

Tiêu chí này áp dụng được ngay ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, dựa trên yêu cầu khởi kiện và ý kiến của bị đơn. Ranh giới cần tiếp tục làm rõ nằm ở Bước 1, nơi mức độ “phải đánh giá tính hợp pháp” có thể được nhận thức khác nhau giữa các Thẩm phán - và cũng là nội dung mà một hướng dẫn áp dụng pháp luật có thể chuẩn hóa.

2.4. Chủ thể tham gia tố tụng: tổ chức công đoàn hay từng thành viên ban chấp hành

Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở là cơ quan lãnh đạo của tổ chức công đoàn cơ sở giữa hai kỳ đại hội, không phải một tập hợp các chủ thể pháp luật độc lập; người đại diện của công đoàn cơ sở trong quan hệ tố tụng là Chủ tịch Công đoàn cơ sở hoặc người được ủy quyền hợp pháp. Cả Án lệ số 70/2023/AL và Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ đều nhất quán: chủ thể được nêu tên là tổ chức, không phải từng ông, bà ủy viên ban chấp hành.

Hai cách xác định chủ thể tạo ra hai hệ quả hoàn toàn khác nhau khi có biến động nhân sự. Nếu chủ thể là tổ chức, việc các ủy viên ban chấp hành chấm dứt HĐLĐ không làm chấm dứt tư cách đương sự; tổ chức vẫn tồn tại, vấn đề duy nhất là xác định lại người đại diện hợp pháp hiện tại - đây là thay đổi người đại diện, không phải kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo Điều 74 BLTTDS năm 2015, và về nguyên tắc không đủ để làm gián đoạn phiên tòa. Ngược lại, nếu chủ thể là từng cá nhân, tư cách “liên quan” của họ được xây dựng trên một nền tảng thực tế đã biến mất: họ ký các văn bản với tư cách ủy viên ban chấp hành, nay không còn tư cách đó và cũng không còn quan hệ lao động; cái còn lại ở họ là hiểu biết cá nhân về những sự kiện đã xảy ra, tức đặc trưng của người làm chứng.

Từ đó, tình huống nêu ở phần mở đầu có thể đọc như một phép thử chẩn đoán: việc toàn bộ ban chấp hành nghỉ việc gây hệ quả nghiêm trọng đến mức phải hoãn phiên tòa là chỉ dấu cho thấy hồ sơ đã được xây dựng theo hướng cá nhân hóa chủ thể. Đây là điểm cần ưu tiên khắc phục, bởi dù theo quan điểm nào thì chủ thể tố tụng vẫn phải là tổ chức công đoàn cơ sở. Chỉ khi tổ chức này đã thực sự giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc bị sáp nhập thì mới đặt ra vấn đề kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, với chủ thể kế thừa là công đoàn cấp trên cơ sở.

3. Hệ quả tố tụng của việc xác định tư cách tham gia tố tụng

3.1. Tính hợp lệ của việc triệu tập

Toàn bộ cơ chế xử lý sự vắng mặt tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS năm 2015 được xây dựng trên giả định rằng việc triệu tập là hợp lệ; nếu giả định này không thỏa mãn, mọi tính toán về lần thứ nhất hay lần thứ hai đều mất cơ sở.

Theo Chương X BLTTDS năm 2015, văn bản tố tụng được tống đạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của tổ chức[11]. Khi Tòa án xác định từng ủy viên ban chấp hành là người tham gia tố tụng, giấy triệu tập thường được gửi về địa chỉ doanh nghiệp bị kiện. Cách làm này đặt ra hai vấn đề khi những người đó đã nghỉ việc: doanh nghiệp không còn là địa chỉ hợp pháp để tống đạt cho người không còn quan hệ lao động; và doanh nghiệp là bên có lợi ích đối lập, nên giao cho một bên đương sự nhiệm vụ chuyển giấy triệu tập tới người tham gia tố tụng khác là một xung đột lợi ích cần được nhận diện. Vì vậy, đề nghị đúng đắn nhất mà luật sư có thể đưa ra không phải là “đề nghị hoãn” hay “đề nghị tiếp tục xét xử”, mà là đề nghị Hội đồng xét xử công bố kết quả tống đạt.

3.2. Sự vắng mặt của đương sự và chế định hoãn phiên tòa

Khoản 1 Điều 227 BLTTDS năm 2015 quy định: khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nếu đương sự hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Điều luật dùng từ “phải hoãn” với duy nhất một ngoại lệ, không trao cho Hội đồng xét xử thẩm quyền đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự vắng mặt. Ở lần triệu tập hợp lệ thứ hai, cơ chế chuyển sang hướng linh hoạt theo khoản 2 Điều 227: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà vắng mặt và không có người đại diện thì Tòa án xét xử vắng mặt họ.

Từ đó có thể rút ra nhận xét về trình tự ưu tiên: câu hỏi “sự vắng mặt này có ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hay không” là chính đáng nhưng phải được đặt ra ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi Tòa án còn có thể điều chỉnh tư cách tham gia tố tụng; đến thời điểm khai mạc phiên tòa, mọi tư cách đã được xác lập và cơ chế mệnh lệnh của khoản 1 Điều 227 được kích hoạt. Cần phân biệt với tạm ngừng phiên tòa theo Điều 259: tạm ngừng giữ nguyên thành phần Hội đồng xét xử và không phải làm lại các thủ tục đã tiến hành, nhưng khi căn cứ trực tiếp là sự vắng mặt của đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì khoản 1 Điều 227 là quy phạm chuyên biệt, mang tính mệnh lệnh và được ưu tiên áp dụng.

Án lệ số 12/2017/AL giải quyết trường hợp lý do hoãn không do lỗi của đương sự: khi phiên tòa mở lại mà đương sự được triệu tập hợp lệ vẫn vắng mặt thì phải xác định đây là vắng mặt tại lần triệu tập hợp lệ thứ nhất.[12] Với tình huống đang bàn, nếu phiên tòa mở lại mà những người này tiếp tục được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt thì về nguyên tắc đây là lần thứ hai và Hội đồng xét xử có thể xét xử vắng mặt họ - với điều kiện tiên quyết là việc tống đạt lần này thực sự hợp lệ.

3.3. Hậu quả của việc xác định không chính xác tư cách đương sự

Việc xác định không chính xác tư cách người tham gia tố tụng có thể dẫn tới việc bản án sơ thẩm bị hủy theo khoản 3 Điều 308 và Điều 310 BLTTDS năm 2015, hoặc bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình[13]. Rủi ro này có tính hai chiều: bỏ sót người tham gia tố tụng là vi phạm, nhưng xác định thừa cũng là xác định sai. Về chi phí thời gian, so sánh giữa hai phương án là rõ ràng: một quyết định hoãn phiên tòa kéo dài tối đa 01 tháng, trong khi một bản án bị hủy có thể đưa vụ án trở lại điểm xuất phát sau nhiều năm.

4. Kiến nghị

4.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật

Thứ nhất, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 theo hướng: một chủ thể được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi việc giải quyết vụ án có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền hoặc nghĩa vụ của họ đối với đương sự khác, hoặc khi Tòa án phải kết luận về tính hợp pháp, hiệu lực của hoạt động, văn bản do họ ban hành; đồng thời nêu rõ xác định thừa tư cách đương sự cũng là xác định không đúng.

Thứ hai, kiến nghị bổ sung hướng dẫn chuyên biệt cho tranh chấp lao động: khi tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở tham gia tố tụng thì chủ thể tham gia là tổ chức đó, do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền thực hiện; không triệu tập riêng lẻ từng thành viên ban lãnh đạo với tư cách đương sự, trừ khi quyền, nghĩa vụ của cá nhân họ trực tiếp bị đặt ra trong vụ án.

Thứ ba, kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao phát triển án lệ về xác định tư cách tham gia tố tụng của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, bởi Án lệ số 70/2023/AL mới giải quyết vấn đề nội dung chứ chưa hình thành giải pháp pháp lý cho vấn đề tư cách tố tụng.

Thứ tư, kiến nghị bổ sung hướng dẫn về tống đạt khi người tham gia tố tụng được xác định qua chức danh gắn với một doanh nghiệp mà nay không còn làm việc tại đó: Tòa án xác minh nơi cư trú và tống đạt trực tiếp, không dùng đương sự khác trong cùng vụ án làm kênh chuyển giao văn bản tố tụng.

Thứ năm, đề nghị Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bổ sung Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ, làm rõ trách nhiệm của công đoàn cấp trên cơ sở trong việc xác nhận tình trạng hoạt động, danh sách ban chấp hành và người đại diện của công đoàn cơ sở khi Tòa án yêu cầu, cũng như trách nhiệm tiếp nhận tư cách kế thừa khi công đoàn cơ sở chấm dứt hoạt động.

4.2. Kiến nghị nghiệp vụ đối với Tòa án, luật sư, doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cơ sở

Đối với Tòa án, việc xác định tư cách người tham gia tố tụng nên trở thành một mục bắt buộc trong biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo Điều 208 và Điều 210 BLTTDS năm 2015. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử cần thu thập quyết định thành lập hoặc công nhận công đoàn cơ sở, quyết định công nhận ban chấp hành tại thời điểm chấm dứt HĐLĐ và văn bản của công đoàn cấp trên cơ sở xác nhận tình trạng hoạt động hiện tại; nơi cư trú của những người đã nghỉ việc cần được xác minh trước khi đưa vụ án ra xét xử.

Đối với luật sư, cần trả lời dứt điểm trước ngày mở phiên tòa: những ai đang được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và căn cứ nào; tư cách đó thỏa mãn tiêu chí tại khoản 4 Điều 68 hay thực chất là tư cách người làm chứng; chủ thể được triệu tập là tổ chức hay từng cá nhân; công đoàn cơ sở còn tồn tại không và ai là người đại diện hợp pháp hiện tại; hồ sơ đã có biên lai tống đạt hoặc biên bản niêm yết hợp lệ chưa. Cần lưu ý một giới hạn nghề nghiệp: Điều 70 BLTTDS năm 2015 buộc đương sự sử dụng quyền của mình một cách thiện chí. Rà soát tư cách tham gia tố tụng là nghiệp vụ; sử dụng thủ tục như một công cụ trì hoãn lại là chuyện khác.

Đối với doanh nghiệp và công đoàn cơ sở, cần lưu trữ đầy đủ hồ sơ trao đổi ý kiến, ghi rõ họ tên, chức danh, ngày tháng và chữ ký của từng người tham dự; khi ban chấp hành thay đổi hoặc thành viên ban chấp hành chấm dứt HĐLĐ thì lập biên bản bàn giao, báo cáo công đoàn cấp trên cơ sở và lưu giữ thông tin liên hệ của người đã nghỉ việc.

Kết luận

Khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015 đưa ra một tiêu chí đúng nhưng chưa đủ cụ thể để vận hành và trong tranh chấp lao động, khoảng trống đó gặp thêm một khoảng trống thứ hai từ pháp luật lao động: sự thiếu rõ ràng giữa “tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” và “ban lãnh đạo” của tổ chức đó. Nơi hai khoảng trống gặp nhau, thực tiễn hình thành một thói quen dễ hiểu nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ: đưa toàn bộ ban chấp hành công đoàn cơ sở vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bài viết không cho rằng công đoàn cơ sở luôn chỉ là người làm chứng. Án lệ số 70/2023/AL cho thấy có một nhóm vụ án mà tư cách đương sự của tổ chức công đoàn là hoàn toàn có cơ sở, đó là khi tính hợp pháp trong hoạt động của tổ chức này trở thành đối tượng đánh giá của bản án. Điều tác giả đề xuất là một tiêu chí chức năng cho phép phân định hai nhóm tình huống ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ở một tầng khác, ít gây tranh cãi hơn nhưng quan trọng hơn về mặt thực tiễn, là việc phân biệt giữa tổ chức công đoàn cơ sở và từng cá nhân thành viên ban chấp hành: khi thực tiễn đi chệch khỏi điểm này, một biến động nhân sự bình thường cũng đủ làm gián đoạn một phiên tòa. Chuẩn hóa tiêu chí xác định tư cách tham gia tố tụng, vì vậy, vừa là yêu cầu về tính chính xác của thủ tục, vừa là biện pháp trực tiếp rút ngắn thời gian giải quyết vụ án lao động. Hướng nghiên cứu tiếp theo là khảo sát định lượng trên mẫu bản án đã công bố từ ngày 01/01/2021 đến nay nhằm đo mức độ không thống nhất giữa các Tòa án.

 

Luật sư NGUYỄN DOÃN HÙNG (Giám đốc điều hành - Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Bộ luật Lao động năm 2012.

3. Bộ luật Lao động năm 2019.

4. Luật Công đoàn năm 2012; Luật Công đoàn năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 97/2025/QH15.

5. Án lệ số 12/2017/AL, công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

6. Án lệ số 70/2023/AL, công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01/10/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

7. Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

8. Quách Thị Giang, Xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/xac-dinh-nguoi-co-quyen-loi-nghia-vu-lien-quan-trong-vu-an-dan-su9235.html.

9. PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Nguyễn Thị Thu Hà, Sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm - Một số vấn đề cần trao đổi, https://tapchitoaan.vn/su-vang-mat-cua-duong-su-tai-phien-toa-so-tham-mot-so-van-de-can-trao-doi6441.html.


[1] Xem thêm: khoản 6 và khoản 7 Điều 192 BLLĐ năm 2012; Điều 25 Luật Công đoàn năm 2012.

[2] Khoản 3 và khoản 4 Điều 177 BLLĐ năm 2019.

[3] Luật Công đoàn số 50/2024/QH15 ngày 27/11/2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, thay thế Luật Công đoàn số 12/2012/QH13; được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 97/2025/QH15 ngày 27/6/2025.

[4] Hướng dẫn số 92/HD-TLĐ ngày 31/8/2023 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc Công đoàn khởi kiện và tham gia tố tụng dân sự giải quyết vụ án lao động, việc lao động tại Tòa án.

[5] Khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015.

[6] Quách Thị Giang, Xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/xac-dinh-nguoi-co-quyen-loi-nghia-vu-lien-quan-trong-vu-an-dan-su9235.html, truy cập ngày 10/8/2026.

[7] Khoản 6 Điều 42, khoản 2 Điều 44 và khoản 3 Điều 177 BLLĐ năm 2019.

[8] Án lệ số 70/2023/AL về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách; nguồn án lệ: Quyết định giám đốc thẩm số 06/2022/LĐ-GĐT ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. H; công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01/10/2023, áp dụng từ ngày 01/11/2023.

[9] Bản án lao động sơ thẩm số 21/2019/LĐ-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ; Bản án lao động phúc thẩm số 19/2020/LĐ-PT ngày 30/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ; Kháng nghị số 01/2022/KN-LĐ ngày 22/4/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. H.

[10] Quách Thị Giang, tlđd.

[11] Các điều từ Điều 170 đến Điều 181 BLTTDS năm 2015.

[12] Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa, công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[13] Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 BLTTDS năm 2015; xem thêm khoản 1 Điều 326 Bộ luật này về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet.