Hoàn thiện cơ chế phục hồi doanh nghiệp và đổi mới pháp luật phá sản ở Việt Nam theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp của Việt Nam từ việc coi phá sản chủ yếu là cơ chế thanh lý doanh nghiệp sang xây dựng một khuôn khổ pháp lý cân bằng giữa mục tiêu phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh và xử lý có trật tự các doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại. Với việc thiết lập thủ tục phục hồi như một thủ tục độc lập, bổ sung cơ chế phục hồi rút gọn, phá sản rút gọn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện địa vị pháp lý của Quản tài viên và tăng cường hội nhập với thông lệ quốc tế, Luật đã tạo nền tảng pháp lý mới cho việc xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã. Bài viết phân tích bối cảnh ban hành Luật, những chính sách lớn và các điểm đổi mới cơ bản, đồng thời đánh giá ý nghĩa của những cải cách này đối với môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách tư pháp và quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, sự hình thành, phát triển và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp là quy luật khách quan. Bên cạnh những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, luôn tồn tại một bộ phận doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, mất khả năng thanh toán hoặc không còn khả năng tiếp tục tồn tại trên thị trường. Nếu không có một cơ chế pháp lý đầy đủ để xử lý những trường hợp này thì không chỉ quyền lợi của chủ nợ, người lao động và các chủ thể liên quan bị ảnh hưởng mà còn làm suy giảm tính minh bạch, hiệu quả và sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.
Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014 cho thấy mặc dù đạo luật này đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, song vẫn còn nhiều hạn chế. Thủ tục phá sản kéo dài, tỷ lệ doanh nghiệp được phục hồi rất thấp, việc xử lý tài sản thiếu hiệu quả, chi phí lớn, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không thể hoàn tất thủ tục phá sản, dẫn đến tình trạng "doanh nghiệp chết nhưng chưa được khai tử". Những bất cập này làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội, cản trở quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, thể chế hóa các chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 ngày 11/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026. Đây là đạo luật có phạm vi điều chỉnh rộng hơn Luật Phá sản năm 2014, trong đó xác lập phục hồi doanh nghiệp là mục tiêu ưu tiên trước khi áp dụng thủ tục phá sản.
Có thể khẳng định rằng, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 không đơn thuần là sự sửa đổi về kỹ thuật lập pháp mà phản ánh sự thay đổi căn bản trong nhận thức về chức năng của pháp luật phá sản. Nếu như trước đây pháp luật chủ yếu tập trung vào việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì nay trọng tâm được chuyển sang tạo điều kiện để doanh nghiệp có cơ hội tái cấu trúc, khôi phục hoạt động, duy trì việc làm, bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và hạn chế những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế.
I. BỐI CẢNH BAN HÀNH LUẬT PHỤC HỒI, PHÁ SẢN NĂM 2025
1. Yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại
Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh cả về quy mô và mức độ hội nhập quốc tế. Số lượng doanh nghiệp tăng mạnh, mô hình kinh doanh ngày càng đa dạng, kéo theo sự gia tăng các quan hệ tín dụng, đầu tư và thương mại. Trong bối cảnh đó, việc xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không còn là vấn đề của riêng doanh nghiệp mà trở thành một nội dung quan trọng của quản trị nền kinh tế.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hệ thống pháp luật về phục hồi và phá sản hiệu quả sẽ góp phần giải phóng nguồn lực, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, duy trì niềm tin của nhà đầu tư và thúc đẩy sự vận hành lành mạnh của thị trường. Vì vậy, nhiều quốc gia đã chuyển từ mô hình "thanh lý doanh nghiệp" sang mô hình "tái cấu trúc doanh nghiệp" với mục tiêu ưu tiên cứu doanh nghiệp còn khả năng phục hồi.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng cần xây dựng một cơ chế pháp lý phù hợp với yêu cầu phát triển mới, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp, chủ nợ, người lao động và lợi ích chung của nền kinh tế.
2. Khắc phục những bất cập của Luật Phá sản năm 2014
Sau hơn mười năm thi hành, Luật Phá sản năm 2014 đã bộc lộ nhiều hạn chế.
Thứ nhất, tư duy của Luật vẫn thiên về xử lý phá sản hơn là hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp. Trên thực tế, số lượng doanh nghiệp được phục hồi rất ít so với số doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản hoặc ngừng hoạt động.
Thứ hai, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc còn kéo dài, phát sinh nhiều chi phí, ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ và người lao động.
Thứ ba, quy định về Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Thứ tư, cơ chế xử lý vụ việc có yếu tố nước ngoài còn thiếu đồng bộ, chưa tương thích với xu hướng hội nhập quốc tế.
Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ số trong giải quyết phá sản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Tòa án điện tử và chuyển đổi số quốc gia.
Chính vì vậy, việc ban hành Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 trở thành yêu cầu khách quan nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý, đồng thời tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn và thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư.
3. Mục tiêu, quan điểm xây dựng Luật Phục hồi, phá sản năm 2025
Luật được xây dựng nhằm sửa đổi các quy định còn bất cập, tháo gỡ những điểm nghẽn trong giải quyết vụ việc phá sản, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh; đồng thời xử lý kịp thời các doanh nghiệp không còn khả năng phục hồi, góp phần khơi thông nguồn lực xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thủ tục phục hồi, phá sản.
Mục tiêu này phản ánh rõ sự thay đổi trong quan điểm lập pháp: phá sản không còn được nhìn nhận là "điểm kết thúc" của doanh nghiệp mà trở thành một cơ chế pháp lý giúp tái phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, trong đó phục hồi doanh nghiệp được ưu tiên nếu vẫn còn khả năng tồn tại.
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 được xây dựng trên năm quan điểm cơ bản: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng pháp luật; thể chế hóa các chủ trương về phát triển kinh tế, cải cách tư pháp và hoàn thiện thể chế; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ của hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế; kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời sửa đổi và bổ sung những nội dung mới để khắc phục bất cập của thực tiễn; bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Những quan điểm này tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để xây dựng một đạo luật hiện đại, tiếp cận gần hơn với thông lệ quốc tế nhưng vẫn phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
II. NHỮNG CHÍNH SÁCH LỚN VÀ NHỮNG ĐIỂM ĐỔI MỚI NỔI BẬT CỦA LUẬT PHỤC HỒI, PHÁ SẢN NĂM 2025
Điểm nổi bật nhất của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 không chỉ nằm ở việc sửa đổi các quy định của Luật Phá sản năm 2014 mà còn ở việc hình thành một tư duy lập pháp hoàn toàn mới, chuyển trọng tâm từ "xử lý doanh nghiệp phá sản" sang "phục hồi doanh nghiệp trước khi phải phá sản". Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hơn mười năm thi hành Luật Phá sản năm 2014, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, Luật đã xác lập năm nhóm chính sách lớn làm nền tảng cho toàn bộ cấu trúc của đạo luật. Đây là những định hướng xuyên suốt, chi phối toàn bộ các quy định về thủ tục phục hồi, phá sản cũng như cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế.
2.1. Ưu tiên xây dựng cơ chế phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã
Nếu Luật Phá sản năm 2014 chủ yếu được thiết kế như một cơ chế xử lý hậu quả của tình trạng mất khả năng thanh toán thì Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã tiếp cận theo hướng hoàn toàn khác: ưu tiên cứu doanh nghiệp trước khi tuyên bố phá sản. Đây là sự thay đổi mang tính bản chất trong triết lý lập pháp.
Theo Luật mới, doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc đã mất khả năng thanh toán đều có quyền yêu cầu Tòa án mở thủ tục phục hồi[1] nhằm tái cơ cấu hoạt động sản xuất, kinh doanh, khôi phục khả năng thanh toán và tiếp tục tồn tại trên thị trường. Quy định này mở rộng đáng kể phạm vi áp dụng của thủ tục phục hồi, giúp doanh nghiệp được tiếp cận cơ chế hỗ trợ pháp lý từ giai đoạn sớm, thay vì phải chờ đến khi rơi vào tình trạng phá sản không thể cứu vãn.
Đây là điểm đổi mới có ý nghĩa rất lớn. Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn chỉ mang tính chu kỳ hoặc phát sinh từ biến động của thị trường, thiên tai, dịch bệnh hoặc sự thay đổi chính sách. Nếu được tiếp cận các biện pháp tái cấu trúc phù hợp, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng phục hồi. Ngược lại, nếu chỉ áp dụng cơ chế phá sản truyền thống thì không chỉ doanh nghiệp bị chấm dứt hoạt động mà còn gây thiệt hại cho chủ nợ, người lao động và toàn bộ chuỗi cung ứng.
Một điểm mới khác là Luật khuyến khích việc thương lượng và hòa giải giữa doanh nghiệp với chủ nợ trong suốt quá trình phục hồi. Quản tài viên được giao trách nhiệm tổ chức hòa giải khi có yêu cầu của các bên; Hội nghị chủ nợ được trao quyền quyết định nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến phương án phục hồi; Tòa án có thể thành lập Ban đại diện chủ nợ và trong trường hợp cần thiết còn có quyền quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhằm bảo đảm việc thực hiện phương án phục hồi đạt hiệu quả.
Bên cạnh đó, Nhà nước xác định rõ chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các chính sách về thuế, tín dụng, lãi suất, đất đai, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tái cơ cấu hoạt động[2]. Việc kết hợp giữa cơ chế tư pháp và các chính sách hỗ trợ kinh tế cho thấy Luật không chỉ điều chỉnh quan hệ tố tụng mà còn góp phần thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp bền vững.
Có thể thấy, chính sách ưu tiên phục hồi doanh nghiệp phù hợp với xu hướng lập pháp của nhiều quốc gia phát triển, nơi thủ tục phá sản hiện đại luôn coi việc duy trì hoạt động kinh doanh, bảo vệ việc làm và tối đa hóa giá trị tài sản là mục tiêu ưu tiên trước khi tiến hành thanh lý doanh nghiệp.
2.2. Thiết lập thủ tục phục hồi rút gọn và thủ tục phá sản rút gọn
Một trong những hạn chế lớn nhất của Luật Phá sản năm 2014 là thủ tục kéo dài, nhiều giai đoạn, phát sinh chi phí lớn và không phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp không còn tài sản.
Để khắc phục tình trạng này, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã lần đầu tiên xây dựng hai thủ tục đặc biệt, gồm: thủ tục phục hồi rút gọn; thủ tục phá sản rút gọn[3].
Theo quy định của Luật, thủ tục phục hồi rút gọn được áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, số lượng chủ nợ hạn chế hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Đối với thủ tục phá sản rút gọn, phạm vi áp dụng còn rộng hơn, bao gồm cả doanh nghiệp không còn tài sản, doanh nghiệp bảo hiểm trong một số trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng và các trường hợp được pháp luật quy định.
Điểm đáng chú ý là thời hạn giải quyết trong thủ tục rút gọn được giảm còn khoảng một nửa so với thủ tục thông thường. Điều này không chỉ rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc mà còn giảm đáng kể chi phí tố tụng, chi phí quản lý tài sản và chi phí cơ hội của các chủ thể liên quan.
Đặc biệt, Luật quy định ngân sách nhà nước tạm ứng chi phí phá sản trong một số trường hợp như khi người lao động, tổ chức công đoàn, cơ quan thuế hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, hoặc doanh nghiệp không còn đủ tài sản để chi trả chi phí phá sản[4]. Đây là cơ chế mang tính nhân văn, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động và các chủ nợ yếu thế, đồng thời khắc phục tình trạng nhiều doanh nghiệp không thể thực hiện thủ tục phá sản chỉ vì không có kinh phí nộp tạm ứng chi phí tố tụng.
Có thể đánh giá rằng việc bổ sung thủ tục rút gọn sẽ góp phần nâng cao đáng kể hiệu quả của hoạt động giải quyết phá sản, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và giảm chi phí tuân thủ pháp luật.
2.3. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản
Một trong những điểm đổi mới mang tính hiện đại nhất của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 là việc thiết lập cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc giải quyết vụ việc trên môi trường điện tử[5].
Theo Luật, hầu hết các hoạt động tố tụng đều có thể được thực hiện thông qua môi trường số, bao gồm: nộp đơn yêu cầu; nộp lệ phí và chi phí; giao nộp tài liệu, chứng cứ; cấp, tống đạt, thông báo văn bản; tổ chức phiên họp; trao đổi thông tin giữa Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng và nhiều hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Luật cũng đa dạng hóa phương thức cấp, tống đạt văn bản, cho phép người tham gia thủ tục lựa chọn hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của mình.
Việc số hóa thủ tục phục hồi, phá sản mang lại nhiều lợi ích.
Thứ nhất, giảm đáng kể thời gian giải quyết vụ việc, hạn chế tình trạng chậm trễ trong việc gửi và nhận văn bản tố tụng.
Thứ hai, tiết kiệm chi phí cho Tòa án, Quản tài viên, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia.
Thứ ba, nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm tra, giám sát và lưu trữ hồ sơ điện tử.
Thứ tư, tạo điều kiện để giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài, khi nhiều chủ nợ hoặc nhà đầu tư không hiện diện tại Việt Nam.
Chính sách này phù hợp với chủ trương xây dựng Tòa án điện tử, Chính phủ số và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời tạo nền tảng để hiện đại hóa toàn diện hoạt động tư pháp trong lĩnh vực phục hồi, phá sản.
2.4. Hoàn thiện chế định Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
Quản tài viên là chủ thể trung tâm trong quá trình phục hồi và phá sản doanh nghiệp. Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014 cho thấy nhiều quy định về Quản tài viên chưa đầy đủ, phạm vi hoạt động còn hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã hoàn thiện đáng kể chế định này theo hướng mở rộng nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên, không chỉ trong giai đoạn thanh lý tài sản mà còn trong toàn bộ quá trình phục hồi doanh nghiệp[6]. Đồng thời, Luật mở rộng đối tượng được xem xét cấp chứng chỉ hành nghề, bổ sung các trường hợp không được cấp chứng chỉ và tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Quản tài viên.
Những sửa đổi này góp phần chuyên nghiệp hóa hoạt động quản lý tài sản, nâng cao tính độc lập của Quản tài viên và tăng cường hiệu quả giám sát quá trình phục hồi cũng như phá sản doanh nghiệp.
2.5. Hoàn thiện trình tự, thủ tục phá sản theo hướng hội nhập quốc tế
Bên cạnh việc ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, Luật cũng đổi mới toàn diện thủ tục phá sản nhằm bảo đảm tính hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Một trong những thay đổi quan trọng là việc điều chỉnh tiêu chí xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Theo đó, thời hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn được nâng từ 03 tháng lên 06 tháng[7], phản ánh sát hơn chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp và hạn chế việc khởi động thủ tục phá sản đối với những khó khăn tài chính mang tính tạm thời.
Luật cũng bổ sung các quy định về vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài, bao gồm cơ chế yêu cầu hỗ trợ tư pháp, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc Luật mẫu của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL). Đồng thời, các quy định về chi phí phục hồi, phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản được hoàn thiện theo hướng cụ thể, minh bạch và thống nhất với pháp luật về thi hành án dân sự.
Nhìn tổng thể, năm chính sách lớn của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 không tồn tại độc lập mà bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một hệ thống pháp lý thống nhất hướng tới mục tiêu xây dựng cơ chế xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán hiệu quả, minh bạch và hiện đại. Đây không chỉ là sự kế thừa có chọn lọc Luật Phá sản năm 2014 mà còn là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và cải cách tư pháp ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng.
III. Ý NGHĨA CỦA LUẬT PHỤC HỒI, PHÁ SẢN NĂM 2025 ĐỐI VỚI HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP
3.1. Chuyển đổi căn bản tư duy lập pháp từ "phá sản" sang "phục hồi"
Điểm nổi bật nhất của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 là sự thay đổi căn bản trong tư duy xây dựng pháp luật. Nếu như Luật Phá sản năm 2014 chủ yếu hướng tới việc giải quyết hậu quả của tình trạng mất khả năng thanh toán thì Luật mới đã chuyển trọng tâm sang việc hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn, tái cấu trúc hoạt động và khôi phục khả năng thanh toán trước khi phải áp dụng thủ tục phá sản.
Đây là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng lập pháp hiện đại trên thế giới. Trong nhiều nền kinh tế phát triển, thủ tục phá sản không còn được nhìn nhận như một "án tử" đối với doanh nghiệp mà là một công cụ pháp lý nhằm tái cơ cấu doanh nghiệp, bảo vệ giá trị tài sản, duy trì việc làm và giảm thiểu tổn thất cho các chủ thể có liên quan.
Việc Luật xác lập nguyên tắc ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi ngay từ khi doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán thể hiện sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về vai trò của Nhà nước trong điều tiết nền kinh tế. Nhà nước không chỉ xây dựng cơ chế xử lý doanh nghiệp yếu kém mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp có cơ hội vượt qua khó khăn, tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây chính là biểu hiện của tư duy quản trị hiện đại, lấy phát triển doanh nghiệp làm trung tâm của chính sách kinh tế.
Đồng thời, việc đổi tên đạo luật từ Luật Phá sản thành Luật Phục hồi, phá sản[8] không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật lập pháp mà còn có giá trị định hướng nhận thức xã hội. Tên gọi mới góp phần giảm bớt tâm lý e ngại khi doanh nghiệp tiếp cận cơ chế tư pháp, khuyến khích doanh nghiệp chủ động tìm kiếm giải pháp tái cấu trúc thay vì trì hoãn cho đến khi rơi vào tình trạng không thể cứu vãn.
3.2. Góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh
Một môi trường đầu tư hiện đại không chỉ được đánh giá thông qua thủ tục thành lập doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Theo các tiêu chuẩn quốc tế, một hệ thống phá sản hiệu quả phải bảo đảm bốn mục tiêu cơ bản:bảo vệ quyền lợi của chủ nợ; tạo điều kiện để doanh nghiệp có khả năng phục hồi; xử lý nhanh chóng doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại; tái phân bổ hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế.
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã tiếp cận đầy đủ các mục tiêu này.
Thứ nhất, thủ tục phục hồi giúp doanh nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động, hạn chế việc chấm dứt sản xuất một cách đột ngột, qua đó giảm thiểu tác động tiêu cực đến người lao động, đối tác và chuỗi cung ứng.
Thứ hai, thủ tục phá sản được đơn giản hóa và bổ sung cơ chế rút gọn giúp giảm thời gian xử lý vụ việc, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng thu hồi tài sản của chủ nợ.
Thứ ba, việc bổ sung cơ chế giải quyết phá sản có yếu tố nước ngoài tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư quốc tế khi tham gia thị trường Việt Nam.
Thứ tư, việc hoàn thiện quy định về Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản góp phần chuyên nghiệp hóa hoạt động quản lý tài sản và nâng cao hiệu quả của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp.
Có thể khẳng định rằng, Luật mới sẽ góp phần cải thiện chỉ số về giải quyết mất khả năng thanh toán trong đánh giá môi trường kinh doanh, đồng thời nâng cao mức độ an toàn pháp lý cho các hoạt động đầu tư, tín dụng và thương mại.
3.3. Thúc đẩy cải cách tư pháp và xây dựng Tòa án điện tử
Một trong những điểm tiến bộ của Luật là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản.
Khác với Luật Phá sản năm 2014, Luật mới cho phép thực hiện nhiều hoạt động tố tụng trên môi trường điện tử như nộp đơn, gửi tài liệu, tống đạt văn bản, tổ chức phiên họp và thanh toán các khoản chi phí tố tụng. Những quy định này không chỉ rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc mà còn giảm đáng kể chi phí của Nhà nước cũng như của các chủ thể tham gia thủ tục.
Đây là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng Tòa án điện tử và chuyển đổi số trong hoạt động tư pháp[9]. Trong bối cảnh số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng và nhiều vụ việc có yếu tố nước ngoài, việc áp dụng công nghệ số sẽ góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận công lý của doanh nghiệp.
Đồng thời, Luật cũng tạo cơ sở để tăng cường phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan bảo hiểm xã hội và các tổ chức tín dụng trong việc trao đổi dữ liệu điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
3.4. Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan
Một điểm đáng ghi nhận của Luật là việc thiết lập cơ chế cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia thủ tục phục hồi và phá sản.
Đối với doanh nghiệp, Luật tạo cơ hội để tái cấu trúc và tiếp tục hoạt động thông qua thủ tục phục hồi.
Đối với chủ nợ, Luật tăng cường vai trò của Hội nghị chủ nợ, mở rộng quyền tham gia quyết định phương án phục hồi và tạo điều kiện tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Đối với người lao động, Luật bổ sung cơ chế hỗ trợ về chi phí phá sản, đồng thời bảo đảm việc xử lý các khoản nợ về tiền lương, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi hợp pháp khác.
Đối với Nhà nước, Luật góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế thông qua việc loại bỏ các doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại, đồng thời hỗ trợ những doanh nghiệp còn khả năng phục hồi tiếp tục tham gia thị trường.
Có thể thấy, Luật đã thiết lập một cơ chế xử lý mất khả năng thanh toán theo hướng hài hòa lợi ích của tất cả các chủ thể liên quan, thay vì chỉ tập trung bảo vệ quyền lợi của một nhóm chủ thể nhất định.
3.5. Một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện
Mặc dù Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 có nhiều đổi mới quan trọng, song để bảo đảm hiệu quả thi hành trong thực tiễn, theo quan điểm của tác giả, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu một số nội dung.
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Tòa án, Quản tài viên, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm việc xử lý tài sản diễn ra nhanh chóng, đồng bộ và minh bạch.
Thứ hai, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp đang trong quá trình phục hồi hoặc phá sản để hỗ trợ việc công khai thông tin, giảm thiểu rủi ro cho các giao dịch thương mại.
Thứ ba, cần tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán và Quản tài viên thông qua đào tạo chuyên sâu về tái cấu trúc doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp và phá sản xuyên biên giới.
Thứ tư, cần nghiên cứu khả năng tiếp tục nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Luật mẫu của UNCITRAL về phá sản xuyên biên giới, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những giải pháp này sẽ góp phần bảo đảm Luật Phục hồi, phá sản phát huy đầy đủ giá trị trong thực tiễn, trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
KẾT LUẬN
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện pháp luật về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán ở Việt Nam. So với Luật Phá sản năm 2014, đạo luật mới không chỉ sửa đổi các quy định mang tính kỹ thuật mà còn thể hiện sự đổi mới căn bản trong tư duy lập pháp, chuyển từ mô hình lấy phá sản làm trung tâm sang mô hình ưu tiên phục hồi doanh nghiệp và tái cấu trúc hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Năm nhóm chính sách lớn của Luật, gồm ưu tiên thủ tục phục hồi; thiết lập thủ tục rút gọn; đẩy mạnh chuyển đổi số; hoàn thiện chế định Quản tài viên; và đổi mới toàn diện trình tự, thủ tục phá sản đã tạo nên một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế. Những đổi mới này không chỉ góp phần bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, chủ nợ, người lao động và các chủ thể liên quan mà còn tạo điều kiện để khơi thông nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những công cụ pháp lý quan trọng góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định, minh bạch và bền vững của cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tư pháp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
[1] Khoản 1 Điều 24 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025.
[2] Điều 4 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025
[3] Chương IV Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 (Điều 68–72).
[4] Điều 69 và Điều 70 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025.
[5] Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 17/4/2026 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
[6] Nghị định số 65/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 của Chính phủ quy định chi tiết về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản.
[7] Khoản 2 Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025.
[8] Điều 1 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025.
[9] Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 17/4/2026, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
Danh mục tài liệu tham khảo
Quốc hội (2025), Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2026), Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐTP ngày 17/4/2026 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Phục hồi, phá sản.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2026), Nghị quyết số 01/2026/NQ-HĐTP ngày 17/4/2026 hướng dẫn thực hiện thủ tục tố tụng, thủ tục hành chính tư pháp trên môi trường số tại Tòa án nhân dân.
Thông tư số 09/2026/TT-TANDTC ngày 28/5/2026, của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về quy chế làm việc của Tổ Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản.
Chính phủ (2026), Nghị định số 64/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026.
Chính phủ (2026), Nghị định số 65/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026.
Chính phủ (2026), Nghị định số 187/2026/NĐ-CP ngày 27/5/2026.
Sáng 11/12/2025, với đa số đại biểu tán thành (425/436),tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Phục hồi, phá sản (PHPS) năm 2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026, thay thế Luật Phá sản năm 2014. Nguồn ảnh: Quochoi.vn
Bài liên quan
-
OPEC Fund cấp vốn 50 triệu USD cho SeABank, thúc đẩy tài trợ doanh nghiệp nhỏ và tài chính khí hậu tại Việt Nam
-
Điểm mới cơ bản của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành Luật
-
Hoàn thiện tổ chức cơ quan điều tra hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới
Giới thiệu những nội dung cơ bản của dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) -
Khoảng trống pháp lý và thực tiễn quản lý đất nông nghiệp sau chuyển đổi nông, lâm trường quốc doanh sang công ty cổ phần ở Việt Nam
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Hoàn thiện tổ chức cơ quan điều tra hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới
Giới thiệu những nội dung cơ bản của dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) -
Sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tạo dư địa phát triển, tránh phân tán nguồn lực
-
Người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
-
Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết việc dân sự và kiến nghị, đề xuất
-
Cuộc thi trực tuyến về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Ninh Bình: Lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần học tập, đổi mới trong toàn xã hội
Bình luận