Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án

Xét xử đóng vai trò là trung tâm của hoạt động tư pháp và bản án, quyết định do Tòa án ban hành là sản phẩm trung tâm của hoạt động xét xử, là biểu hiện của quyền lực Nhà nước. Tính chính xác, rõ ràng, minh bạch và có căn cứ của bản án, quyết định hình sự đóng vai trò quyết định trong việc bản án, quyết định đó được đưa ra thi hành kịp thời, triệt để trên thực tế, từ đó bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

1. Đặt vấn đề

Thực tiễn công tác xét xử và ban hành bản án, quyết định hình sự cho thấy, xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan vẫn còn tồn tại tình trạng bản án, quyết định sau khi được ban hành có những sai sót mang tính kỹ thuật, lỗi diễn đạt, nhầm lẫn số liệu, tính toán sai hoặc có những nội dung quyết định chưa thực sự rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc cho công tác thi hành án. Để khắc phục tình trạng này và đảm bảo nguyên tắc “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”[1]“Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”[2], tại Điều 261 và Điều 365 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) đã quy định về thủ tục sửa chữa, bổ sung bản án sau khi bản án được ban hành và thủ tục giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án trong giai đoạn thi hành án.

Dù vậy, quy định hiện hành tại Điều 261 và Điều 365 của BLTTHS vẫn còn mang tính nguyên tắc, thiếu các tiêu chí kỹ thuật cụ thể, chưa định hình rõ ràng ranh giới pháp lý, thời hạn xem xét, giải quyết cũng như cơ chế kiểm sát tư pháp đối với việc ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án. Việc rà soát, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của BLTTHS về sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án, chất lượng hoạt động tư pháp và hoàn thiện thể chế tố tụng hình sự Việt Nam.

2. Quy định về sửa chữa, bổ sung bản án và giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án trong BLTTHS

Điều 261 của BLTTHS quy định về sửa chữa, bổ sung bản án của Tòa án như sau:

“Điều 261. Sửa chữa, bổ sung bản án

1. Không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai.

Việc sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Việc sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262 của Bộ luật này.

2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án quy định tại khoản 1 Điều này do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định thực hiện. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc sửa chữa, bổ sung bản án do Chánh án Tòa án đã xét xử vụ án đó thực hiện”.

Điều 365 của BLTTHS quy định về giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án như sau:

“Điều 365. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án

1. Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát, người bị kết án, bị hại, đương sự liên quan đến việc thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.

2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc giải thích, sửa chữa do Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó thực hiện”.

Như vậy, BLTTHS đã quy định một cách cụ thể việc sửa chữa, bổ sung bản án và việc giải thích, sửa chữa, bản án, quyết định của Tòa án tại 02 Điều luật cụ thể. Theo đó, quá trình áp dụng vào thực tiễn cần bảo đảm các yêu cầu sau:

Về điều kiện thực hiện: Theo quy định của BLTTHS hiện hành, việc sửa chữa, bổ sung bản án của Tòa án chỉ được thực hiện khi: (1) Phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai; và (2) Không làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Việc giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện khi phát hiện những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.

Về căn cứ phát sinh: Mặc dù Điều 261 và Điều 365 của BLTTHS không quy định thống nhất căn cứ, nhưng qua thực tiễn áp dụng pháp luật có thể xác định căn cứ phát sinh các thủ tục này bao gồm: (1) Khi Tòa án tự phát hiện có cơ sở để sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định; và (2) Khi có yêu cầu từ phía Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát, người bị kết án, bị hại, đương sự liên quan đến việc thi hành án yêu cầu giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.

Về thẩm quyền: Các chủ thể có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung bản án và giải thích, sửa chữa bản án, quyết định gồm: (1) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định; và (2) Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định.

Về thời điểm thực hiện: Thủ tục sửa chữa, bổ sung bản án được quy định tại Chương 20 của BLTHS về “Những quy định chung”, không quy định cụ thể thời điểm phát sinh và kết thúc, nhưng căn cứ kỹ thuật lập pháp, kết cấu xây dựng điều luật thì có thể thấy, việc sửa chữa, bổ sung bản án được thực hiện sau khi bản án đã được ban hành mà phát hiện có căn cứ cần sửa chữa, bổ sung. Còn thủ tục giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án được quy định tại Chương 23 của BLTTHS về “Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án, như vậy có thể hiểu việc giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đưa ra để thi hành.

Tóm lại, theo các quy định của BLTTHS hiện hành, Tòa án đã ra bản án, quyết định có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung bản án và giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của mình khi tự Tòa án đó phát hiện sai sót hoặc khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan và việc sửa chữa, bổ sung, giải thích này phải đảm bảo không được làm thay đổi bản chất vụ án, không gây bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Quy định này đóng vai trò là công cụ pháp lý cho phép Tòa án kịp thời khắc phục những bất cập mang tính kỹ thuật hoặc làm rõ các điểm mơ hồ, chưa rõ ràng để bản án, quyết định được nhanh chóng thi hành trên thực tế.

3. Một số hạn chế, bất cập

Mặc dù có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng qua thực tiễn áp dụng, các quy định hiện hành về sửa chữa, bổ sung bản án, giải thích, sửa chữa bản án, quyết định vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập như:

Về phạm vi và căn cứ sửa chữa, bổ sung, giải thích: Quy định tại Điều 261 và Điều 365 của BLTTHS chưa xác định rõ giới hạn của việc sửa chữa, bổ sung, giải thích, dẫn đến nguy cơ quy định này có thể bị lạm dụng, làm thay đổi nội dung bản chất vụ án hoặc gây bất lợi cho bị cáo, người tham gia tố tụng. Đồng thời, điều luật cũng không quy định về các tài liệu bắt buộc phải có để xây dựng hồ sơ, làm căn cứ đối chiếu khi ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích.

Về thời hạn thực hiện: Điều 261 và Điều 365 của BLTTHS đều chưa ấn định thời hạn để Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc khi Tòa án tự nhận thấy có cơ sở để sửa chữa, bổ sung, giải thích, gây thụ động, kéo dài cho công tác thi hành án.

Về thẩm quyền và quy trình xử lý yêu cầu sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định: Chưa quy định cơ chế phối hợp giữa Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và các thành viên khác trong Hội đồng xét xử trong khi bản án là kết tinh của tư duy pháp lý và ý chí thống nhất của Hội đồng xét xử, những người có quyền quyết định ngang nhau khi ra bản án[3]; trường hợp nào Chánh án được quyền ký thay Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa hiện nay cũng chỉ được quy định chung chung, chưa có quy định cụ thể.

Về cơ chế kiểm sát hoạt động sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án: Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự[4]. Hiện nay, BLTTHS mới chỉ quy định về việc giao, gửi quyết định sửa chữa, bổ sung bản án, chưa có quy định tương tự về nghĩa vụ gửi văn bản giải thích, sửa chữa bản án, quyết định cho cơ quan, tổ chức, cá nhân và cơ chế kiểm sát, xử lý của Viện kiểm sát khi phát hiện văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án không có căn cứ hoặc trái pháp luật.

4. Một số đề xuất hoàn thiện quy định của BLTTHS về sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án

Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành và yêu cầu nâng cao hiệu quả trong hoạt động tố tụng hình sự, tác giả cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung các quy định tại Điều 261 và Điều 365 BLTTHS về sửa chữa, bổ sung bản án và giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án là cần thiết và cần hướng tới mục tiêu cụ thể, chặt chẽ và minh bạch, hạn chế tối đa việc lợi dụng quy định này để làm sai lệch bản chất vụ án, gây bất lợi cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác. Tác giả đề xuất một số nội dung cần sửa đổi như sau:

4.1. Xây dựng điều luật chung quy định về thủ tục sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án

Một bản án, quyết định hoàn chỉnh, được ban hành mà không có sai sót về hình thức, nội dung là mục tiêu hướng đến của Thẩm phán, Hội đồng xét xử nói riêng và hoạt động tư pháp nói chung. Tuy nhiên như đã phân tích, quá trình ban hành bản án, quyết định chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, thiếu sót là không thể tránh khỏi và vì vậy, cần đặt ra cơ chế pháp lý để kịp thời khắc phục những thiếu sót này. Tác giả cho rằng, không nhất thiết xây dựng hai điều luật quy định riêng về sửa chữa, bổ sung bản án và giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án như BLTTHS hiện hành mà gộp chung, quy định các hoạt động này trong cùng một điều luật sẽ thể hiện rõ hơn bản chất, ý nghĩa của hoạt động này, đồng thời tạo sự thống nhất trong nhận thức, áp dụng quy định pháp luật về sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án. Đồng thời, xây dựng kết cấu điều luật, sắp xếp thứ tự phát sinh các hoạt động theo thứ tự là “sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án” là phù hợp bởi đã thể hiện được tính chất của các hoạt động này và thời điểm phát sinh. Việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định có thể được thực hiện bất kỳ giai đoạn nào sau khi bản án, quyết định được ban hành mà phát hiện có sai sót cần sửa chữa, bổ sung. Trong khi việc giải thích bản án, quyết định được thực hiện khi bản án, quyết định đó đã được đưa ra thi hành mà cần giải thích, làm rõ những điểm chưa rõ ràng để đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định đó diễn ra đúng pháp luật.

4.2. Xác định rõ phạm vi sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định

Cần quy định rõ giới hạn thẩm quyền của Tòa án về sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định trên cơ sở kế thừa điều kiện sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại Điều 262 của BLTTHS. Theo đó, Tòa án chỉ được sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định khi có những lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai, chỉ được giải thích những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định với điều kiện tiên quyết là việc sửa chữa, bổ sung, giải thích này không làm thay đổi bản chất vụ án, không gây bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

4.3. Quy định cụ thể hồ sơ ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định

Để bảo đảm tính khách quan và hạn chế tối đa việc vô tình hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ, cần bổ sung quy định bắt buộc người có thẩm quyền khi ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định phải lập hồ sơ bao gồm các tài liệu cụ thể gồm: (1) bản án, quyết định của Tòa án cần sửa chữa, bổ sung, giải thích; (2) biên bản phiên tòa/phiên họp; (3) biên bản nghị án; và (4) văn bản giải trình của Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử về các vấn đề cần được sửa chữa, bổ sung, giải thích.

4.4. Quy định thời hạn sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định

Nhằm khắc phục tình trạng chậm trễ, kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng và việc thi hành án, cần bổ sung thời hạn cụ thể để xử lý yêu cầu, ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định. Tác giả đề xuất thời hạn Tòa án phải ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định là 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp hoặc cần thu thập, bổ sung hồ sơ mới có căn cứ xử lý yêu cầu sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định thì có thể gia hạn thêm nhưng thời gian gia hạn không quá 05 ngày.

4.5. Quy định cơ chế ghi nhận ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử khi sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định

Bản án nói chung và bản án hình sự nói riêng là sản phẩm tư duy và phán quyết tập thể của Hội đồng xét xử. Do đó, cần bổ sung quy định Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa hoặc Chánh án khi tiến hành sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định phải tổ chức thảo luận và thống nhất ý chí với các thành viên khác của Hội đồng xét xử đã tham gia xét xử vụ án đó và việc này phải được thể hiện bằng văn bản để lưu trong hồ sơ xem xét, xử lý yêu cầu sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án.

4.6. Quy định cụ thể các trường hợp Chánh án thay mặt Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định

Cần quy định rõ các trường hợp Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa thuộc diện “không thể thực hiện được” việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định để làm căn cứ xác định thẩm quyền của Chánh án Tòa án thay mặt Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa thực hiện thủ tục này. Tác giả đề xuất các trường hợp này bao gồm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã nghỉ hưu, thôi việc, mắc bệnh hiểm nghèo, đã chết hoặc chuyển đơn vị công tác (bao gồm chuyển công tác sang Tòa án khác hoặc cơ quan khác). Đối với trường hợp Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa chuyển đơn vị công tác thì Thẩm phán đó vẫn phải giải trình và chịu trách nhiệm về việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định cùng các thành viên Hội đồng xét xử; văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định trong trường hợp này sẽ do Chánh án ký thay.

4.7. Quy định thống nhất về những người được giao, gửi văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án

Tại Điều 162 của BLTTHS quy định “Việc sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262 của Bộ luật này”. Do đó, những người được nhận bản án theo quy định tại Điều 262 của BLTTHS cũng là những người được nhận quyết định sửa chữa, bổ sung bản án.

Tuy nhiên, tại Điều 365 của BLTTHS về giải thích, sửa chữa bản án, quyết định trong giai đoạn thi hành án thì lại chưa quy định những người được Tòa án giao, gửi văn bản này.

Do đó, tác giả đề xuất bổ sung quy định thống nhất về việc giao, gửi văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định trên tinh thần kế thừa quy định tại Điều 262 của BLTTHS, cụ thể: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành, văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án phải được giao, gửi cho những người được Tòa án giao, gửi bản án.

4.8. Bổ sung quy định về cơ chế xử lý của Viện kiểm sát và cơ chế phản hồi của Tòa án đã ban hành văn bản khi phát hiện vi phạm trong quá trình sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định

Viện kiểm sát là cơ quan kiểm sát hoạt động xét xử, thi hành án. Do đó, bên cạnh nghĩa vụ tiếp nhận văn bản, cần bổ sung quy định về thẩm quyền xử lý của Viện kiểm sát khi phát hiện vi phạm trong quá trình sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án. Cụ thể, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án, nếu Viện kiểm sát phát hiện văn bản đó không có căn cứ và không hợp pháp (như việc sửa chữa làm thay đổi bản chất vụ án; gây bất lợi cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác; hoặc vượt quá thẩm quyền), thì Viện kiểm sát phải kiến nghị bằng văn bản cho Chánh án Tòa án đã ra văn bản đó để xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

Đồng thời, cũng cần thiết lập cơ chế phản hồi của Tòa án đã ban hành văn bản sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát. Cụ thể trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án đã thực hiện việc sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định phải có ý kiến phản hồi đối với kiến nghị của Viện kiểm sát.

Kết luận

Việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS hiện hành về sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định của Tòa án sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý minh bạch, khắc phục các khoảng trống của quy định pháp luật hiện hành, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao tính uy nghiêm và hiệu lực thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong giai đoạn thi hành án hình sự.

 

VÕ TIẾN SỸ - ĐINH THÀNH LONG (Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai)

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp năm 2013.

2. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

3. Văn Linh, Hoạt động sửa chữa, bổ sung bản ản hình sự sau khi ban hành của Tòa án, https://lsvn.vn/hoat-dong-sua-chua-bo-sung-ban-an-hinh-su-sau-khi-ban-hanh-cua-toa-an-1695316017-a135473.html.

4. Văn Linh, Hoàn thiện quy định về bản án, quyết định được thi hành ngay và giải thích, sửa chữa, kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án, https://lsvn.vn/hoan-thien-quy-dinh-ve-ban-an-quyet-dinh-duoc-thi-hanh-ngay-va-giai-thich-sua-chua-kien-nghi-doi-voi-ban-an-quyet-dinh-cua-toa-an-a148539.html.

5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, 2018.


[1] Điều 106 Hiến pháp năm 2013.

[2] Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4] Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

TAND khu vực 3 - Cần Thơ xét xử trực tuyến, rút kinh nghiệm các vụ án hình sự - Nguồn: Trang TTĐT TAND TP. Cần Thơ.