Một số vấn đề về tiếp nhận, xử lý, giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự
Quá trình giải quyết các vụ án dân sự (dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình) tại Tòa án phát sinh khiếu nại đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Việc giải quyết khiếu nại trong tố tụng nói chung và trong tố tung dân sự nói riêng, có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của cá nhân, cơ quan tổ chức với Tòa án.
Quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình, hành chính; cũng như giải quyết việc phá sản, xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu biển tại Tòa án phát sinh khiếu nại đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Việc giải quyết khiếu nại trong tố tụng, có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm xử lý kịp thời, khách quan, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý và chế độ xã hội chủ nghĩa; giúp cho hoạt động tố tụng được thực hiện đúng đắn, kịp thời phát hiện và khắc phục các vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền khiếu nại; đồng thời xác định trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Bài viết này bàn về cách nhận diện, phân biệt, xử lý đơn trong quá trình tiếp nhận, xử lý đơn và giải quyết việc khiếu nại đối với hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự; khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, đơn vị thuộc Tòa án nhân dân (TAND), của người có thẩm quyền thuộc TAND về quản lý hành chính nhà nước trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử của TAND trong quá trình xét xử các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm (khiếu nại trong hoạt động nghiệp vụ tại Tòa án) và đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý, giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự.
1. Nhận diện, phân biệt việc giải quyết khiếu nại trong tố tụng dân sự và giải quyết khiếu nại trong hoạt động nghiệp vụ của Tòa án
Quá trình nhận, xem xét, giải quyết đơn khởi kiện, thụ lý các vụ án dân sự (dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình); kể cả quá trình thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án phát sinh khiếu nại đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, cá nhân, tổ chức có liên quan. Khi tiếp nhận đơn khiếu nại (đơn khiếu nại, đề nghị, kiến nghị, phản ánh,…) cần nắm rõ, phân biệt đơn khiếu nại trong tố tụng với đơn khiếu nại theo Luật Khiếu nại; phân biệt đơn khiếu nại trong tố tụng với đơn khiếu nại về hoạt động nghiệp vụ của Tòa án liên quan đến công tác chuyên môn, để có đường lối xử lý kịp thời, đúng đắn, hiệu quả.
1.1. Khiếu nại trong tố tụng dân sự (theo nghĩa rộng) được hiểu là khiếu nại đối với các văn bản, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi vụ việc đó đang trong quá trình xử lý đơn, thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm, theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Khiếu nại trong tố tụng dân sự (theo nghĩa hẹp) được hiểu là khiếu nại đối với các văn bản, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ khi nhận đơn, thụ lý, giải quyết tại cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, trừ khiếu nại về thông báo trả lại đơn khởi kiện (quy định theo thủ tục riêng[1]) cho đến trước khi mở phiên tòa. Còn việc khiếu nại sau khi đã có kết quả giải quyết vụ việc thì thực hiện theo những quy định tương ứng của pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật về giải quyết khiếu nại.[2]
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, có thể liệt kê một số quyết định, hành vi tố tụng dân sự thông thường là đối tượng bị khiếu nại quá trình xem xét, giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm như sau:
Giai đoạn trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Thông báo trả lại đơn khởi kiện, phiếu chuyển đơn khởi kiện, thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí; hành vi từ chối nhận đơn khởi kiện, hành vi vi phạm thời hạn giải quyết đơn khởi kiện.
Giai đoạn từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa
Thông báo thụ lý vụ án, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định về thu thập, xác minh chứng cứ của Tòa án, quyết định thay đổi Thẩm phán (không chấp nhận thay đổi Thẩm phán), quyết định đưa vụ án ra xét xử; hành vi không giao thông báo thụ lý hoặc giao chậm trễ cho đương sự; không tiếp nhận tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, không bổ sung người tham gia tố tụng theo đề nghị của đương sự, đưa bổ sung người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,…
Như vậy, khiếu nại trong tố tụng dân sự theo quy định hiện hành là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân (người khiếu nại), theo thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi năm 2025 (BLTTDS) đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại ban hành/thực hiện trước khi mở phiên tòa khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.[3]
1.2. Khiếu nại trong hoạt động nghiệp vụ của Tòa án rất đa dạng, phong phú, có thể liệt kê một số văn bản, hành vi thông thường như sau: quyết định hoãn phiên tòa, quyết định tạm ngừng phiên tòa; quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định chuyển hồ sơ vụ án của Hội đồng xét xử, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định giải quyết việc kháng cáo quá hạn, quyết định, bản án sơ thẩm, phúc thẩm; các văn bản khác liên quan: văn bản từ chối cung cấp bản án, quyết định, sao lục hồ sơ vụ án, các hành vi giao quyết định, bản án chậm trễ, chuyển hồ sơ kháng cáo chậm trễ, từ chối thụ lý đơn kháng cáo, thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động tiếp dân (không phải hành vi vi phạm ứng xử, quy chế),
Khiếu nại trong hoạt động nghiệp vụ Tòa án được hiểu là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân (người khiếu nại) đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân (người bị khiếu nại) đã ban hành văn bản, thực hiện hành vi liên quan nghiệp vụ Tòa án từ khi mở phiên tòa, khi có căn cứ cho rằng văn bản hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, theo quy định tại tại BLTTDS và Luật khiếu nại năm 2011 (Luật Khiếu nại)
Như vậy, khiếu nại trong tố tụng dân sự và khiếu nại trong hoạt động nghiệp vụ Tòa án đều là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân (người khiếu nại) đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân (người bị khiếu nại) đã ban hành văn bản, thực hiện hành vi khi có căn cứ cho rằng văn bản hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của họ, theo quy định tại BLTTDS và Luật Khiếu nại; chỉ khác nhau thời điểm người có thẩm quyền ban hành văn bản/ hành vi đó trước khi mở phiên tòa hay sau khi mở phiên tòa và trình tự, thủ tục khác nhau.
2. Một số vướng mắc và nguyên nhân
2.1. Một số vướng mắc và lưu ý
Thứ nhất, chưa nhận diện, phân biệt rõ khiếu nại theo tố tụng dân sự với khiếu nại theo Luật Khiếu nại
Trong quá trình giải quyết vụ án, có nhiều đơn khiếu nại về các văn bản, hành vi của người tiến hành tố tụng, cũng như đối tượng khác liên quan đến vụ án, việc nhận diện, phân biệt khiếu nại theo tố tụng dân sự với khiếu nại theo Luật Khiếu nại là cần thiết, có hướng xử lý đúng đắn, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự, thời hạn giải quyết, đảm bảo công lý không bị chậm trễ.
Ví dụ 1: Bà Y gửi đơn khởi kiện vụ án dân sự đến Tòa án có thẩm quyền về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp sai đối tượng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh thu thập, chứng cứ tại UBND xã H để có căn cứ giải quyết vụ án. Bà Y không đồng ý với nội dung mà UBND xã H cung cấp cho Tòa án, nên đã làm đơn khiếu nại đến UBND xã H, Chủ tịch UBND xã H có văn bản trả lời bác yêu cầu khiếu nại của bà Y. Vì thế, bà Y làm đơn khởi kiện bổ sung đề nghị Tòa án tuyên bố việc cung cấp thông tin của UBND xã H là trái pháp luật và tuyên hủy bỏ văn bản trả lời của Chủ tịch UBND xã H. Tình huống này có các quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: Thụ lý bổ sung yêu cầu bằng vụ án hành chính; xác định đối tượng khởi kiện là văn bản trả lời khiếu nại của Chủ tịch UBND xã H.
Quan điểm thứ hai: Thông báo trả lại đơn khởi kiện bổ sung vì không thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính. Xác định yêu cầu bổ sung là khiếu nại trong tố tụng dân sự về việc xác minh, thu thập, chứng cứ trong tố tụng và giải thích cho bà biết nội dung yêu cầu được xem xét trong vụ án dân sự.
Quan điểm của tác giả, nhất trí với quan điểm thứ hai, xác định UBND xã H cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án theo hoạt động tố tụng, không phải hoạt động hành chính, nên văn bản trả lời khiếu nại của Chủ tịch UBND xã H không phải là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Giả sử, bà Y yêu cầu UBND xã H cung cấp tài liệu về thửa đất tranh chấp để làm tài liệu khởi kiện vụ án dân sự mà UBND xã H từ chối không cung cấp, nên bà Y khiếu nại hành vi này. Chủ tịch UBND xã H ban hành văn bản trả lời bác đơn khiếu nại thì trường hợp này bà Y có quyền khởi kiện vụ án hành chính[4].
Ví dụ 2: Ông A khiếu nại về hành vi của Thẩm phán B - Chủ toạ phiên tòa vi phạm tố tụng, vì không cho ông trình bày, tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, dẫn đến việc ban hành bản án dân sự phúc thẩm không khách quan, trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông; đồng thời ông đề nghị xử lý hành vi nêu trên của Thẩm phán Chủ toạ phiên tòa. Trường hợp này, Tòa án thụ lý đơn khiếu nại của ông A để xem xét hành vi vi phạm của ông B theo Luật Khiếu nại hay theo pháp luật tố tụng dân sự?
Theo đơn khiếu nại, ông A khiếu nại đối với hành vi của Thẩm phán B nhưng bản chất xuất phát từ việc không đồng ý với nội dung bản án phúc thẩm. Việc ông A khiếu nại đối với hành vi của Thẩm phán B sau khi mở phiên tòa và đã ban hành bản án, nên áp dụng khoản 2 Điều 499 của BLTTDS không thụ lý đơn khiếu nại, hướng dẫn ông A làm đơn đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm là đảm bảo giải quyết quyền lợi cho ông A, không làm mất thời gian, công sức của đương sự, cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc.
Thứ hai, chưa thống nhất trong cách hiểu phạm vi các đối tượng bị khiếu nại quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 499 của BLTTDS
Khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 499 BLTTDS là khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện vụ án dân sự đến trước khi mở phiên tòa, (không bao gồm việc mở lại phiên tòa do phiên tòa bị hoãn, tạm ngừng).
Khiếu nại theo quy định tại khoản 2 Điều 499 BLTTDS là khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án. Đối tượng bị khiếu nại trong trường hợp này gồm bản án, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Đối với đơn khiếu nại Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa ban hành bản án, quyết định không đúng, hoặc có hành vi cản trở đương sự thực hiện quyền tại phiên tòa (quyền tranh tụng) dẫn đến bản án trái pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, thì hướng dẫn họ viết đơn kháng cáo (bản án chưa có hiệu lực pháp luật) hoặc làm đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật) quy định tại khoản 2 Điều 499 của BLTTDS.
Trường hợp đương sự khiếu nại về hành vi của chủ toạ, Thư ký phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa và khiếu nại bản án, quyết định thì thu hút vào khiếu nại đối với quyết định, bản án, xử lý tương tự trường hợp khiếu nại quy định tại khoản 2 Điều 499 BLTTDS[5].
Lưu ý: Để đảm bảo tính khách quan, khi ký ban hành thông báo về việc không thụ lý đơn khiếu nại và chỉ dẫn, người ký văn bản là lãnh đạo đơn vị, nhưng không tham gia Hội đồng xét xử vụ việc bị đương sự khiếu nại.
Tóm lại, khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trước khi mở phiên tòa, thì được xem xét, giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 499 của BLTTDS, trừ quy định tại Điều 194 của BLTTDS. Đối với khiếu nại người tiến hành tố tụng, hay quyết định, bản án sau khi mở phiên tòa thì “thu hút” vào khiếu nại bản án, quyết định thì mới đảm bảo giải quyết triệt để quyền lợi cho đương sự. Việc vi phạm dẫn đến ra bản án trái pháp luật chỉ xác định được theo con đường tố tụng (xử lý hình sự về hành vi này hoặc bản án, quyết định đó đã bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán) còn cá nhân thủ trưởng đơn vị không có thẩm quyền xác định. Do đó, khi đã có bản án, quyết định thì Tòa án không thụ lý đơn khiếu nại, mà hướng dẫn đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm là đảm bảo quyền lợi cho họ.
Thứ ba, phân biệt khiếu nại với đơn thư, phản ánh
Đơn phản ánh vụ việc (có trường hợp ghi là đơn đề nghị, tố cáo, kiến nghị, tâm thư,…) của công dân (cùng cơ quan, cùng nơi cư trú với đương sự), đề nghị Tòa án xem xét đối với hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội của đối tượng đang được Tòa án thụ lý giải quyết; việc cung cấp tài liệu, chứng cứ không khách quan, người làm chứng bị mua chuộc,.. thì chuyển đơn và tài liệu cho Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa đang giải quyết vụ án đó xem xét, giải quyết (liên quan đến nội dung vụ án) và thông báo cho người phản ánh biết.
Ví dụ: Trong vụ án Tranh chấp chia di sản thừa kế, công dân là hàng xóm với đương sự X (con của người để lại di sản thừa kế) có đơn phản ánh X có hành vi ngược đãi với cha, mẹ khi họ còn sống, kèm theo tài liệu chứng minh, Tòa án nhận được đơn cần chuyển cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án xem xét và Thông báo cho người phản ánh biết, coi đây là một “kênh” để tham khảo, ban hành bản án “thấu tình, đạt lý”.
Thứ tư, nhận diện văn bản tố tụng không thuộc đối tượng khiếu nại trong tố tụng
Nhìn chung, các quyết định tố tụng trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án dân sự là đối tượng bị khiếu nại. Tuy nhiên, có một số quyết định không thuộc đối tượng khiếu nại: Quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn/bác kháng cáo quá hạn; quyết định kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với khiếu nại Quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn thì hướng dẫn đương sự đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định sơ thẩm nếu không bị kháng cáo, kháng nghị nào khác; khiếu nại quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn thì chuyển đơn cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phúc thẩm xem xét toàn diện vụ án.
Thứ năm, phân biệt khiếu nại trong tố tụng với khiếu nại về các hoạt động nghiệp vụ của Tòa án
Liên quan công tác giải quyết các vụ án dân sự, có một số khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan, đơn vị, của người có thẩm quyền về quản lý hành chính nhà nước trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử của Tòa án trong quá trình xét xử các vụ án dân sự, như: Đơn xin sao lục toàn bộ hồ sơ vụ án để làm thủ tục kháng cáo phúc thẩm hoặc làm thủ tục đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành bản án nhưng không được chấp nhận nên khiếu nại; khiếu nại việc Tòa án giao bản án, quyết định chậm trễ,…
Khiếu nại giao bản án chậm trễ thì rà soát, kiểm tra việc giao bản án cho đương sự đã thực hiện chưa. Nếu đã chuyển giao cho đương sự đúng quy định, thì thông báo cho đương sự biết. Trường hợp giao chậm trễ hoặc chưa giao thì kiểm điểm trách nhiệm cá nhân có trách nhiệm, đồng thời nếu chưa giao bản án thì giao ngay cho đương sự. Đặc biệt trường hợp giao án đã quá thời hiệu yêu cầu thi hành bản án thì phải có văn bản nêu rõ lý do giao chậm trễ, lỗi của cơ quan Tòa án để tính thời gian do trở ngại khách quan[6] không tính vào thời hiệu để đảm bảo quyền yêu cầu thi hành bản án cho đương sự.[7]
Khiếu nại cơ quan Tòa án, cá nhân có thẩm quyền thì tiếp nhận, xử lý, thụ lý đơn theo pháp luật về khiếu nại và hướng dẫn tại Thông tư số 01/2020/TT-TANDTC ngày 18/6/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tòa án nhân dân. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi của lãnh đạo TAND cấp tỉnh thì thẩm quyền giải quyết là TANDTC (gửi đơn thông qua Văn phòng TANDTC, không thuộc thẩm quyền của Tòa Phúc thẩm TANDTC).
Lưu ý: Việc khiếu nại nêu trên được thực hiện theo Luật Khiếu nại nhưng không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính (mang tính nội bộ)[8].
Ngoài ra, khiếu nại với quyết định công nhận kết quả hòa giải thành theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án khi đã có hiệu lực pháp luật, đề nghị thi hành án dân sự bị vướng mắc, thì thông báo trả lại đơn vì hết thẩm quyền, hay hướng dẫn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Chẳng hạn: Sau khi có Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án (đã có hiệu lực pháp luật) mới phát hiện được các bên che dấu hành vi cho vay lãi nặng, nhằm tẩu tán tài sản, hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của người thứ ba,… mà có khiếu nại, tố cáo thì cần xem xét có dấu hiệu tội phạm, hay chỉ là quan hệ dân sự. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm thì chuyển đơn, tài liệu cho cơ quan điều tra có thẩm quyền; trường hợp không có dấu hiệu tội phạm thì căn cứ vào nguyên tắc áp dụng pháp luật (không áp dụng pháp luật tố tụng dân sự mà áp dụng Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án) để trả lại đơn cho đương sự vì họ không có quyền khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thứ sáu, phân biệt thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong tố tụng của các Tòa Phúc thẩm TANDTC với Văn phòng TANDTC
Kể từ ngày 01/7/2025, các TAND cấp cao kết thúc hoạt động, các Tòa Phúc thẩm TANDTC không còn thẩm quyền xem xét, đơn khiếu nại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực, TAND cấp tỉnh nhưng Tòa Phúc thẩm[9] vẫn tiếp tục nhận được đơn khiếu nại của công dân, thậm chí cơ quan Tòa án, Viển kiểm sát chuyển đơn đến không đúng thẩm quyền….; Ví dụ: TAND tỉnh K ra quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với đơn khiếu nại về Thông báo trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự. Không đồng ý với quyết định này, bà T đã làm đơn khiếu nại gửi TAND tỉnh K, Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, TAND tỉnh K đã chuyển đơn của bà T cho Tòa phúc thẩm TANDTC để xem xét, giải quyết.
Việc chuyển đơn là nhận thức không đúng, “Tòa án cấp trên trực tiếp” trong trường hợp này là TANDTC, chứ không phải Tòa Phúc thẩm TANDTC.[10]
Thứ bảy, chưa có quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về lưu đơn, hủy đơn khiếu nại trong tố tụng
Trong quá trình tiếp nhận xử lý đơn thư, có một số người khiếu nại mặc dù đã có văn bản giải quyết đơn, nhưng vẫn liên tục gửi đơn có nội dung cũ, không đưa ra tài liệu gì mới, thậm chí phô tô đơn cũ để gửi lại gây khó khăn cho công tác xử lý đơn. Tại Thông tư số 01/TT-TANDTC ngày 18/6/2020 quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tòa án nhân dân chưa có quy định việc lưu đơn, nhưng tại Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh có quy định việc lưu đơn, thời hạn hủy đơn theo quy định[11]. Chúng ta có thể vận dụng Thông tư này để lưu đơn, hủy đơn nhưng cần có hướng dẫn chi tiết, thống nhất của TANDTC để đảm bảo tính đặc thù giải quyết đơn khiếu nại trong tố tụng nói chung, tố tụng dân sự nói riêng.
2.2. Nguyên nhân
- Khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án chủ yếu là khiếu nại trong hoạt động tố tụng, một số quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực này còn có nhiều vướng mắc nhưng chưa được liên ngành tư pháp trung ương ra văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể, kịp thời; chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất về trình tự thủ tục, biểu mẫu giải quyết khiếu nại trong hoạt động tố tụng dân sự.
- Do biên chế còn thiếu, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, Tòa án chưa có cán bộ chuyên trách giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách chuyên nghiệp. Công tác bồi dưỡng, tập huấn về công tác này chưa thực sự được chú trọng.
- Nhận thức của một số người khiếu nại còn hạn chế, thường gửi đơn đến nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết; nội dung khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết nhưng vẫn tiếp tục làm đơn gửi các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội.
- Một số công dân khi thực hiện quyền khởi kiện, tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã được TAND các cấp giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, nhưng không thỏa mãn lợi ích theo ý chí chủ quan của mình nên tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến nhiều cấp, nhiều nơi, xúc phạm đến người trực tiếp giải quyết vụ án và lãnh đạo quản lý. Tình trạng này xảy ra khá phổ biến, ảnh hưởng đến cá nhân, đơn vị thực hiện nhiệm vụ, nhưng chưa được xử lý. Có nhiều trường hợp mặc dù đã được giải thích, hướng dẫn, xử lý đúng quy định, nhưng vẫn cố tình gửi đơn đến với mục đích để các cơ quan nhận đơn chuyển đơn cho họ để tạo áp lực đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Thậm chí, một số đương sự bị lôi kéo, kích động bởi một số đối tượng chuyên đi khiếu nại, tố cáo thuê.
- Các cơ quan chức năng chưa xử lý nghiêm khắc các đối tượng lợi dụng dân chủ, quyền khiếu nại, tố cáo để cố tình khiếu kiện, tố cáo kéo dài, trái pháp luật, gây phiền hà cho chính người dân và cơ quan, tổ chức.
3. Đề xuất, kiến nghị
Một là, hoàn thiện quy định của pháp luật về khiếu nại trong tố tụng dân sự và khiếu nại trong hoạt động nghiệp vụ Tòa án, theo đó:
Hướng dẫn chi tiết khoản 2 Điều 499 BLTTDS, có các ví dụ minh họa để dễ dàng áp dụng; nêu rõ quyết định, hành vi khác là những quyết định, hành vi nào (có tình huống ví dụ minh họa); hành vi, quyết định nào thuộc đối tượng/không thuộc đối tượng thụ lý giải quyết khiếu nại.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 503 BLTTDS theo hướng quy định rõ việc khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng khi đã ban hành bản án, quyết định, tránh nhầm lẫn với quy định tại khoản 1 Điều 499 BLTTDS như sau:
Điều 503: “…4. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký phiên tòa, kiểm sát viên từ khi mở phiên tòa được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 499 của Bộ luật này và pháp luật có liên quan”.
Quy định các trường hợp lưu đơn (xếp đơn), hủy đơn khiếu nại trong tố tụng:
Việc lưu đơn được thực hiện đối với các loại đơn sau đây: Đơn không đáp ứng yêu cầu; Đơn được gửi cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong đó có cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người có thẩm quyền giải quyết; Đơn đã được hướng dẫn theo quy định; đơn có nội dung chống đối đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, đơn có nội dung chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo; đơn có lời lẽ thô tục, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, uy tín của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị; Đơn rách nát, chữ viết bị tẩy xóa, không rõ, không thể đọc được; Đơn khiếu nại có quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hơp có căn cứ cho rằng việc giải quyết khiếu nại có dấu hiệu vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có liên quan, đe dọa xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc khiếu nại theo quy định của pháp luật.[12]
Thời hạn lưu đơn là 01 năm. Hết thời hạn nêu trên, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, quyết định việc tiêu hủy đơn theo quy định của pháp luật.
Lưu ý: Trong văn bản xử lý đơn cần nêu rõ: Văn bản trả lời đơn, hướng dẫn đơn được thực hiện một lần, trường hợp người khiếu nại vẫn tiếp tục gửi đơn mà không có nội dung, tài liệu gì mới, thì cơ quan (đơn vị) sẽ lưu đơn theo quy định của pháp luật.
Hai là, xây dựng, hoàn thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; hướng tới biên chế chuyên trách, được đào tạo bài bản,…
Ba là, xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ; bảo vệ uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức cá nhân bị khiếu nại, tố cáo
Bốn là, tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm; đồng thời, biểu dương khen thưởng kip thời đối với tập thể, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Năm là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh để bảo đảm việc tra cứu, tính liên thông, kip thời, công khai minh bạch, thống nhất (xây dựng phần mềm xử lý đơn; gửi đơn thư điện tử,…).
Kết luận
Công cuộc cải cách tư pháp đặt ra nhiều nội dung quan trọng, trong đó có yêu cầu: “Cải cách thủ tục khiếu kiện, tố cáo trong hoạt động tố tụng: nghiên cứu tách biệt thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng không dẫn chiếu áp dụng chung như đối với khiếu kiện, tố cáo thực thi hoạt động công vụ khác, cần xây dựng cơ chế có tính đặc thù”[13]. Do đó, việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định chi tiết, cụ thể, hướng dẫn thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự và trong hoạt động nghiệp vụ của Tòa án trong lĩnh vực giải quyết các vụ án dân sự nói riêng và trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung là hết sức cần thiết, đảm bảo tính thống nhất trong việc xử lý, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Tòa án.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
2. Luật Khiếu nại năm 2011,
3. Luật Tố tụng Hành chính năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
4. Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2025;
5. Luật tiếp cận thông tin năm 2016
6. Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
7. Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân
8. Nội quy tiếp công dân (Ban hành kèm theo Quyết định số 308/QĐ-TANDTC ngày 29/10/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao).
9. Thông tư 01/2020/TT-TANDTC ngày 18/6/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
10. Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Tổng Thanh tra Chính phủ
11. Nguyễn Hòa Bình, Cải cách Tư pháp tại Tòa án nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, Chủ biện: PGS. TS Nguyễn Hòa Bình
12. Nguyễn Đình Dũng - Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Vướng mắc trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự, https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-trong-giai-quyet-khieu-nai-to-cao-trong-to-tung-dan-su8699.html.
13. Lê Thị Mơ - Trần Quốc Văn, Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính – Bất cập và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/khieu-nai-trong-to-tung-hanh-chinh-bat-cap-va-kien-nghi6767.html.
14. Võ Minh Tuấn, Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự- Bất cập và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/khieu-nai-to-cao-trong-to-tung-hinh-su-bat-cap-va-kien-nghi5825.html.
[1] Điều 194 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi năm 2025
[2] Xem khoản 2 Điều 499 BLTTDS năm 2015; khoản 1 Điều 4 Thông tư 01/2020 của TANDTC ngày 10/8/2020
[3] Xem thêm: Võ Minh Tuấn, Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự - Bất cập và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/khieu-nai-to-cao-trong-to-tung-hinh-su-bat-cap-va-kien-nghi5825.html; Lê Thị Mơ - Trần Quốc Văn, Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính - Bất cập và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/khieu-nai-trong-to-tung-hanh-chinh-bat-cap-va-kien-nghi6767.html; Nguyễn Đình Dũng - Nguyễn Thị Hồng Ngọc, Vướng mắc trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự, https://tapchitoaan.vn/vuong-mac-trong-giai-quyet-khieu-nai-to-cao-trong-to-tung-dan-su8699.html.
[4] Xem khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, khoản 2 Điều 33 Luật Khiếu nại năm 2011.
[5] Tham khảo thêm Khoản 4 Điều 4 Nội quy tiếp công dân (Ban hành kèm theo Quyết định số 308/QĐ-TANDTC ngày 29/10/2020 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao).
[6] Tham khảo điểm a khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính.
[7] Xem thêm Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[8] Xem thêm Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[9] Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng nhận được 533 đơn đề nghị, khiếu nại các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật (tính từ ngày 01/7/2025 đến 31/12/2025).
[10] Điều 194 BLTTDS; Điều 2,3 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân
[11] Điều 28 Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ.
[12] Xem thêm khoản 4 Điều 9 Thông tư 01/TT-TANDTC ngày 18/6/2020; khoản 2 Điều 6 Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021.
[13] GS.TS. Nguyễn Hoà Bình, Chủ biên cuốn sách: Cải cách Tư pháp tại Toà án nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.248.
Một phiên tòa dân sự - Ảnh minh hoạ: Nguồn Internet.
Bài đọc nhiều nhất tuần
-
Hệ thống Tòa án của Canada
-
Bình luận Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
-
Tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015
-
Việc giảm thuế giá trị gia tăng chỉ là một trong nhiều biện pháp và chỉ có tác dụng trong ngắn hạn
-
Giải pháp xây dựng phần mềm hỗ trợ công tác thống kê trong hệ thống Tòa án nhân dân
Bình luận